fbpx
skip to Main Content
Vovinam Schools
Le Sang Library
Vovinam Home
Vovinam University International

Cô Gái Đồ Long

Kim Dung

Cô Gái Đồ Long

 

MỤC LỤC [−]
  1. Côn Luân Tam Thánh
2. Bạch Y Thư Sinh
3. Vạch Ðá Thành Bàn Cờ
4. Hoa Rụng Hoa Nở
5. Ðồ Long Bảo Đao
6. Thuyền Buồm Huyết Chưởng
7. Hoàng Kim Bảo Tiêu
8. Lục Hiệp Tầm Thù
9. Long Môn Tiêu Cuộ
10. Thiếu Nữ Trẻ Tuổi
11. Ðộc Mai Hoa Tiên
12. Dương Ðao Lập Oai
13. Kim Mao Sư Vương
14. Vực Băng Hang Lửa
15. Sóng Cuồng Gió Lộng
16. Tiên Cảnh Cực Lạc
17. Ngọc Diện Hoả Hầu
18. Trở Về Trung Thổ
19. Trở Về Trung Thổ
20. Ân Oán Triền Miên
21. Tiệc Chúc Thọ Bách Tuế
22. Cản đường bắt Vô Kỵ
23. Thất Hiệp Ðoàn Tựu
24. Tính Toán Xa Xôi
25. Chỉ Danh Khiêu Chiến
26. Tái Thượng Thiếu Lâm
27. Ðiệp Cốc Y Tiên
28. Rừng Hoang Tử Chiến
29. Ðiệp Cốc Chữa Bệnh
30. Tinh Cứu Y Lý
31. Vợ Chồng Tranh Hơn
32. Nhờ Vã Lúc Hấp Hối
33. Cùng đi Côn Luân
34. Kim Ngân Huyết Xà
35. Tuyết Lãnh Song Nữ
36. So Tài Trong Vườn Hoa
37. Tạ Tốn Thiệt Tạ Tốn Giả
38. Xảo Ngôn Lừa Dối
39. Vàng Ở Trong Dầu
40. Thôn Nữ Áo vải
41. Oai Lực Vô Biên
42. Nhện Độc Phản Kháng
43. Vây Tiểu Ma Giáo
44. Ngọc Diện Mạnh Thường
45. Nghĩa Khí Can Vân
46. Kỳ Nhân Quái Sự
47. Nghĩa Khí Thâm Trọng
48. Nã Di Càn Khôn
49. Luyện Võ Trong Ðường Hầm
50. Chính Tà Quyết Ðấu
51. Ðứng Giữa Giảng Hòa
  52. Lấy Ðức Phục Người
53. Lưỡng Nghi Ðao Pháp
54. Ðộc chiến cao thủ
55. Ỷ Thiên Bảo Kiếm
56. Tỵ Họa Dưới Hầm Mật
57. Nữ Cải Trang Nam
58. Khởi Binh Vấn Tội
59. Võ Ðang Cứu Viện
60. Dọc Ðường Gặp Gỡ
61. Ân Cừu Hai Mươi Năm
62. Lời Hứa Ngàn Vàng
63. Minh Giáo Nhóm Ðại Hội
64. Dụng Tâm Hiểm Ác
65. Quang Minh Hữu Sứ
66. Can Ðảm Cứu Các Phái
67. Thiên Long Ngũ Phương
68. Lấy Ðức Báo Oán
69. Tinh Thần Bất Khuất
70. Tỷ Sam Long Vương
71. Xếp Ðặt Kế Ðộc
72. Thánh Hỏa Lục Lệnh
73. Tình Thâm Như Trước
74. Ðẹp Như Tiên Nữ
75. Thánh Nữ – Giáo Chủ
76. Âm Mưu Ðộc Kế
77. Biệt Vô Tông Tích
78. Cái Bang Tụ Họp
79. Chạy Trời Không Khỏi Nắng
80. Như Hờn Như Oán
81. Lòng Lang Dạ Thú
82. Hành Tung Của Sư Vương
83. Ðại Náo Cái Bang
84. Gian Mưu Bại Lộ
85. Ðêm Ðộng Phòng Hoa Chúc
86. Ðại Hội Hào Châu
87. Ngàn Dặm Phó Nạn
88. O Bế Người Yêu
89. Hòa Thượng Giả Trang
90. Ðồ Sư Ðại Hội
91. Sấm Ðộng Ðiện Chớp
92. Ngang Tài Ngang Sức
93. Ngang Tài Ngang Sức
94. Tài Ba Chấn Quần Hùng
95. So Tài Tỷ Võ
96. Quảng Trường Loang Máu
97. Biến Ảo Khôn Lường
98. Ân Oán Rành Rành
99. Nghĩa Kỳ Tung Bay
100. Cướp Lại Bí Kíp
101. Là Phải Là Trái
102. Châu về hiệp phố

 

 

 

 

 

Hồi thứ 1
Côn Luân Tam Thánh

Quách Tường, con gái thứ của Ðại hiệp Quách Tỉnh và nữ hiệp Hoàng Dung biệt hiệu Tiểu Ðông Tà. Hôm nay nàng đi chơi một mình là muốn nguôi sầu, giải muộn. Một người một lừa cứ thấy đường là đi. Hết núi này sang núi nọ. Cũng không biết đi bao xa và đi tới đâu. Nàng ngửng đầu lên nhìn thấy phía trước có một ngôi chùa tường vàng, ngói xanh lớn rộng vô cùng. Quách Tường ngẩn người nhìn giây lát, ngẫm nghĩ:

– Thiếu Lâm Tự vốn dĩ là nơi nguồn gốc võ học của thiên hạ, nhưng không hiểu tại sao các tay cao thủ nhứt thời, hai lần luận kiếm ở trên núi Hoa Sơn lại không có mặt cao tăng của phái Thiếu Lâm? Chẳng lẽ các vị sư của Thiếu Lâm tự nhận thấy không đủ tài thi thố, và sợ làm mất oai danh của môn phái, nên họ mới không đi dự cũng nên? Hay là võ công của các vị sư đó rất cao thâm, nhưng không thích danh lợi, nên không muốn tranh hùng, đua thắng với các người bên ngoài Nghĩ tới đó nàng vừa đi đến cửa chùa, liền xuống lừa, từ từ vào bên trong. Cây cối rậm rạp, bóng cây bao trùm hai hàng bia đá lớn trồng hai bên lối đi. Ða số bia đá đã bị phá hủy, chữ khắc trên mặt bia cũng đã lu mờ, nên nàng không sao xem rõ được những chữ đó là những chữ gì? Nàng đang chăm chú xem bia, bỗng nghe tiếng xiềng xích lẫn tiếng tụng kinh.

Nàng quay nhìn về hướng ấy thì thấy trên con đường núi nhỏ đi thẳng lên đỉnh có một vị sư đang gánh một đôi thùng lớn, miệng niệm kinh đi từ từ. Nàng liền đuổi theo đại sư ấy, khi còn cách nhau độ mười mấy trượng,nàng kinh hãi vô cùng.

Thì ra đôi thùng ấy bằng sắt, to gấp ba thùng nước thường dùng, và cổ, tay, chân của vị sư đều quấn dây xích sắt, nên lúc ông ta đi là có tiếng kêu “xúc, xích”! Ðôi thùng sắt ấy ít ra cũng nặng tới mấy trăm cân, mà còn chứa đầy nước nữa thì thật đáng kinh người.

Quách Tường lớn tiếng gọi:

– Ðại hòa thượng, xin hãy lưu bước, Tiểu nữ có đôi lời muốn thỉnh giáo Nhà sư nọ quay đầu lại, thấy người gọi là Quách Tường, cả hai đều ngạc nhiên vô cùng. Không ngờ vị sư tăng ấy là Giác Viễn. Ba năm trước, Quách Tường ở trên núi Hoa Sơn, đã được gặp Giác Viễn một lần. Nàng biết vị hòa thượng này tánh rất hủ, nhưng nội công thì cao thâm khôn lường không kém bất cứ một vị cao thủ mạnh bạo nào! Nàng liền lên tiếng trước:

– Cháu tưởng là ai, không ngờ lại là Giác Viễn đại sự Sao đại sư lại bị hành hạ như thế này?

Giác Viễn gật đầu, mỉm cười, hai tay chấp vái, nhưng không trả lời câu nào đã quay mình đi liền.

Quách Tường lại gọi:

– Giác Viễn đại sư không nhận ra cháu hay sao? Cháu là Quách Tường đây mà!

Giác Viễn lại quay đầu lại cười, gật đầu một cái rồi rảo cẳng đi ngay.

Quách Tường chạy theo hỏi:

– Ai xiềng xích đại sư? Sao người đó lại hành hạ đại sư đến thế này?

Giác Viễn đưa tay về phía sau xua mấy cái, tỏ vẻ bảo nàng không nên hỏi han như vậy.

Lòng hiếu kỳ thúc đẩy, Quách Tường vốn thích chuyện kỳ lạ, khi nào chịu bỏ qua. Nàng muốn rõ sự thể ra sao, liền phi thân đuổi theo liền, định vượt lên để cản đại sư lại.

Ngờ đâu Giác Viễn đại sư tuy bị xiềng xích cả chân tay, lại gánh đôi thùng nước nặng như vậy, mà Quách Tỉnh rảo cẳng đến thế nào cũng không sao vượt lên trước đại sư được.

Nàng không chịu thua, giở khinh công gia truyền, hai chân vọt một cái, thân hình như bay lên rồi giơ tay ra định nắm chặt lấy một thùng nước. nàng yên trí chỉ bắt một cái là nắm được mép thùng ngay, ngờ đâu nàng bắt liền mấy cái đều hụt hết. Cái nào cũng chỉ Thiếu có hai tấc là trúng đích. Nàng la lớn:

– Ðại hòa thượng bản lĩnh tài ba thật. Thế nào cháu cũng phải đuổi theo kịp mới thôi!

Giác Viễn đại sư đi rất thong thả, tiếng xiềng xích kêu như âm nhạc càng lúc càng cao.

Y đi thẳng về hướng hậu sơn. Quách Tường càng đuối sức, hơi thở càng hổn hển, chân càng chạy nhanh hơn, nhưng có nhanh đến đâu thân hình nàng cũng cách Giác Viễn đại sư hơn trượng. Thấy vậy nàng không thể không thán phục được, liền nghĩ:

– Lúc cha mẹ mình ở trên núi Hoa Sơn có khen Giác Viễn đại sư võ công rất cao, lúc ấy ta vẫn không tin, hôm nay thi thố khinh công ta mới biết không sai chút nào.

Giác Viễn đại sư quay mình đi vô căn nhà nhỏ, khiêng hai thùng nước đổ vào giếng. Quách Tường ngạc nhiên vô cùng liền hỏi:

– Hòa thượng sao lại gánh nước đổ vào giếng?

Giác Viễn đại sư sắc mặt vẫn bình thản, chỉ lắc đầu. Quách Tường sực tỉnh ngộ ngay nên vừa cười vừa hỏi:

– À, đại sư đang luyện một môn võ công rất cao thâm thì phải?

Giác Viễn lại lắc đầu nữa. Quách Tường bực tức vô cùng liền nói:

– Vừa rồi rõ ràng cháu nghe đại sư tụng kinh chớ có câm đâu, sao bây giờ không trả lời cháu?

Giác Viễn chấp tay vái một vái, sắc mặt có vẻ sượng sùng nhưng vẫn không nói gì hết lại tiếp tục gánh đôi thùng sắt đi xuống núi.

Quách Tường nhìn xuống giếng thấy nước trong suốt và có hơi lạnh bốc lên, tuyệt nhiên không có một điểm gì đặc biệt. Nàng ngẩn người ra nhìn Giác Viễn trong lòng thắc mắc vô cùng.

Vừa rồi, vì cố hết sức đuổi theo Giác Viễn nên lúc này nàng cảm thấy mệt mỏi, hơi thở phì phào. Nàng đành ngồi lại trên bờ giếng nghĩ ngợi và ngắm phong cảnh xung quanh. Chỗ nàng ngồi cao hơn tất cả chùa chiền của Thiếu Lâm Tự, nhưng phía trên nàng vẫn còn đỉnh núi chọc trời.

Tiếng chuông trong chùa ở dưới núi theo gió vọng lên khiến người nghe đều cảm thấy bao nhiêu chuyện trần tục đều tiêu tan. Quách Tường nghĩ thầm:

– Ðệ tử của vị hòa thượng này không biết đi đâu? Ông ta không chịu nói thì mình tìm hỏi thiếu niên kia vậy.

Ðoạn nàng lững thững xuống núi đến gần thiếu niên kia, người đó chính là Trương Quân Bảo, đệ tử của Giác Viễn.

Nàng đi được một quãng đường lại nghe có tiếng xiềng xích kêu, thì ra Giác Viễn đã gánh nước lên núi rồi. Nàng núp sau một cây cổ thụ nghĩ thầm:

– Rõ ràng hòa thượng này không chịu nói cho ta nghe, ta cứ ngấm ngầm theo dõi xem y giở những trò quái gì?

Nàng nghe tiếng xiềng xích càng lúc càng gần. Xa xa nàng thấy Giác Viễn vẫn gánh đôi thùng nước, tay cầm một quyển sách vừa đi vừa đọc, có vẻ thích thú lắm. Nàng chờ lúc lão đi đến gần bên mình rồi thình lình nhảy ra la lớn:

– Ðại hòa thượng xem sách gì thế?

Giác Viễn thất thanh kêu lên:

– ối chà, làm bần tăng giật mình! Cũng lại là cô.

Quách Tường vừa cười vừa nói:

– Ðại sư câm mà sao bây giờ lại nói được?

Giác Viễn có vẻ kinh hãi, nhìn xung quanh rồi xua tay mấy cái. Quách Tường lại hỏi:

– Ðại sư sợ hãi gì thế?

Giác Viễn chưa kịp trả lời, thì đột nhiên từ trong bụi cây có hai vị sư áo vàng đi ra, người đi đầu quát lớn:

– Giác Viễn không giữ pháp giới, tự tiện mở miệng nói chuyện, mà lại đối đáp với một người xa lạ, người đó lại là một thiếu nữ trẻ tuổi. Hãy theo bốn đại sư lên yết kiến thủ tọa của Giới Luật Ðường ngay!

Giác Viễn nghe xong, cúi đầu tỏ vẻ buồn, rồi gật đầu một cái, theo hai người đó đi liền.

Quách Tường vừa kinh hãi, vừa tức giận quát lên:

– Trên đời này không có lệ luật gì cấm người ta nói chuyện như vậy, tôi quen với ông ta, có ăn thua gì đến hai ông mà xen vào?

Người có thân hình to lớn trợn mắt đáp:

– Nghìn năm nay Thiếu Lâm Tự vẫn cấm đàn bà con gái tự tiện bước vào, mời cô nương xuống núi ngay đi khỏi bị đuổi mà mắc cỡ.

Quách Tường lại càng tức giận, lớn tiếng nói:

– Ðàn bà thì sao? Chẳng lẽ đàn bà không bằng đàn ông? Các người dùng xiềng xích trói ông ta lại, còn cấm ông ta nói chuyện, thế là nghĩa lý gì?

Tăng nhân nọ cười nhạt đáp:

– Việc của bản chùa đến nhà vua cũng không được can thiệp, cô nương hà tất hỏi nhiều.

Quách Tường cả giận đáp:

– Tôi biết đại sư này là người rất hiền lành trung hậu, tại sao các người lại hành hạ ông ta như vậy? Còn Thiên Minh hòa thượng, Vô Sắc và Vô Tướng hòa thượng ở đâu? Các người hãy mời các ông ấy ra đây để tôi hỏi thử xem làm như vậy có hợp đạo lý không?

Hai vị đại sư nghe nàng nói đâm ra kinh hãi vô cùng.

Thì ra Thiên Minh đại sư là phương trượng của chùa Thiếu Lâm. Vô Sắc thiền sư là thủ tọa La Hán Ðường và Vô Tướng thiền sư là thủ tọa Ðạt Ma Ðường của nhà chùa.

Ba người này địa vị rất cao, xưa nay các tăng lữ trong chùa thường gọi là Lão phương trượng, Ðạt Ma Ðường tọa sư và La Hán Ðường tọa sư, chứ không ai dám gọi ngay pháp danh như vậy.

Ngờ đâu con nhỏ này dám lên núi kêu la om sòm, còn gọi cả pháp danh của ba vị.

Người sư gầy và cao, pháp danh Hoàng Minh, là đệ tử của thủ tọa Giới Luật Ðường, thừa lệnh tọa chủ cùng sư đệ là Hoàng Duyên đi giám thị Giác Viễn. Lúc này y nghe thấy Quách Tường lớn tiếng cãi vã liền quát lớn:

– Nếu nữ thí chủ còn ở trước cửa Phật thanh tịnh này quấy nhiễu thì đừng có trách!

– Chẳng lẽ tôi lại sợ các hòa thượng hay sao? Các người có mau tháo xiềng cho Giác Viễn đại sư không? Bằng không thì tôi sẽ đi tìm Thiên Minh hòa thượng thanh toán ngay!

Nhắc lại từ khi Quách Tường chia tay vợ chồng Dương Qua và Tiểu Long Nữ ở Hoa Sơn tới nay thấm thoát đã ba năm mà nàng không nhận được tin tức gì của vợ chồng Dương Qua cả, nàng nhớ nhung vô cùng, liền xin phép cha mẹ đi du ngoạn sơn thủy, nhưng thâm tâm nàng định dò la tin tức vợ chồng Dương Qua, mong biết đôi chút về hành hiệp của hai người trên giang hồ.

Nhưng từ khi chia tay, vợ chồng Dương Qua không hề lộ mặt trên giang hồ và không ai biết họ ẩn cư nơi đâu! Quách Tường cứ đi từ Bắc chí Nam, từ Ðông sang Tây, lặn lội đã hơn phân nửa đất Trung Nguyên rồi mà chưa hề nghe nói đến Thần Ðiêu Ðại Hiệp Dương Qua! Một hôm nàng tới Hà Nam chợt nhớ năm xưa Dương Qua có quen biết với Phương Trượng chùa Thiếu Lâm, nàng định lên chùa hỏi may ra manh mối.

Ngờ đâu nàng vừa đến chân núi đã gặp việc quái lạ là Giác Viễn đại sư bị hành hạ như kể trên.

Hoành Minh Và Hoành Duyên thấy nàng đeo đoản kiếm càng tức giận hơn. Hoành Duyên bèn nói xẵng :

– Cô nương hãy bỏ khí giới, chúng tôi không trẻ con như cô đâu, cô mau hạ sơn đi.

Quách Tường nghe Hoành Duyên bảo mình bỏ khí giới bèn nổi giận, liền cởi đỏam kiếm ra, hai tay nâng lên, cười nhạt :

– Cũng được, xin tuân theo tôn lịnh.

Hoành Duyên xuất gia ở chùa Thiếu Lâm từ nhỏ. Mười mấy năm nay vị hòa thượng này chỉ nghe thấy sư bá và các sư thúc nói là chùa Thiếu Lâm là nguồn gốc của các võ học trong thiên hạ.

Bất cứ người danh vọng đến đâu, bả lãnh cao cường đến đâu cũng không dám mang khí giới vào sơn môn của chùa Thiếu Lâm. Quách Tường dù mới đến cửa chùa nhưng cũng đã ở trong phạm vi của chùa rồi, vả lại Hoành Duyên thấy nàng trẻ tuổi nên khinh thường và khi thấy nàng cởi khí giới nâng hai tay như vậy tưởng nàng nể sợ mình, y liền buông tay áo xuống, che hai tay rồi toan cầm lấy đoản kiếm của Quách Tường.

Tay của chàng vừa chạm đến cán kiếm đột nhi^n bị Quách Tường giậm chân đánh bộp một cái, y giựt mình ngã bật ra.

Quách Tường nghĩ thầm :

– Ta lên chùa Thiếu Lâm với mục đích dò la tin tức của đại ca, bỗng vô duyên cớ lại gây sự với hai vị hoà thượng, thật là vô lý quá.

Nàng thoáng thấy vẻ mặt Giác Viễn đau khổ đang đứng bên, nàng liền lia đoản kiếm. Chỉ nghe mấy tiếng “lon con”, xiềng xích đứt ra làm ba đoạn. Giác Viễn vội la lớn :

– Không được đâu ! Không được đâu !

Quách Tường liền hỏi :

– Tại sao không được ?

Rồi nàng chỉ Hoành Minh và Hoành Duyên đang chạy về phía cửa chùa tiếp :

– Hai tên ác hòa thượng kia thế nào cung đi báo tin, chúng ta mau chạy đi. Tiểu đồ đệ họ Chương của đại sư đâu, đưa cả y cùng chạy một thể.

Quách Tường quay đầu lại thấy phía sau có một thiếu niên trạc mười bảy mười tám tuổi, mắt to, mồm rộng, thân hình vạm vỡ, mặt đầy vẻ ngây thơ. Đó là Chương quân Bảo mà nàng đã gặp cách đây ba năm trên đỉnh Hoa Sơn.

Bây giờ, Quân Bảo đã cao lớn hơn trước nhiều, nhưng nét mặt thì không thay đổi. Quách Tường cả mừng lên tiếng :

– Nơi đây các lão hòa thượng bắt nạt sư phụ bạn, chúng ta mau xa chạy cao bay đi.

Trương Quân Bảo lắc đầu, đáp:

– Không ai bắt nạt sư phụ tôi hết.

Quách Tường lại chỉ Giác Viễn:

– Hai ác tăng này dùng xiềng xích buộc sư phụ bạn và không cho nói một lời nào, vậy không bắt nạt là gì?

Giác Viễn lắc đầu chỉ tay xuống núi ra hiệu bảo Quách Tường mau chạy đi, đừng ở đây gây thêm tai họa nữa.

Tiểu Ðông Tà Quách Tường là người rất nghĩa hiệp, biết trong chùa Thiếu Lâm có rất nhiều cao thủ tài ba hơn nàng nhiều nhưng nàng trông thấy sự bất bình trước mặt như vậy không thể nào bỏ đi được, mặc dầu nàng vẫn lo các cao thủ trong chùa ra ngăn cản. Một tay nàng kéo Giác Viễn, một tay kéo Quân Bảo dậm chân nói:

– Mau chạy đi! Mau chạy đi! Có việc gì hãy xuống núi nói sau.

Nàng vừa dứt lời thì thấy dưới sườn núi, phía bên cửa hông chùa đã có 7, 8 vị sư xông ra, tay cầm mộc, mồm quát lớn:

– Con giặc cái ở đâu dám táo gan đến chùa Thiếu Lâm quấy nhiễu như vậy?

Trương Quân Bảo lớn tiếng đáp:

– Các vị sư huynh không được vô lễ, vị này là…

Quách Tường vội nói:

– Xin chớ nói tên của tôi ra.

Vì nàng thấy tai họa gây nên rất lớn, kết quả không biết ra sao, nàng không muốn liên lụy đến cha mẹ nên nàng không muốn Trương Quân Bảo nói tới tên mình. Nàng tiếp nhanh:

– Chúng ta vượt qua núi mà chạy. Xin hai vị chớ nhắc đến tên cha mẹ tôi và bạn tôi.

Ðền đây, bỗng nghe trên đỉnh núi có tiếng quát to, thì ra có 7, 8 vị sư áo vàng xông ra nữa.

Quách Tường thấy trước sau đều có các vị sư xuất hiện, cau mày nói:

– Sao hai người cứ sợ sệt như đàn bà con nít vậy? Không có chí nam nhi gì cả! Chẳng hay các vị có định chạy hay không?

Trương Quân Bảo nói:

– Thưa sư phụ, Quách cô nương có lòng tốt như vậy…

Nhưng dưới sườn núi, từ ngách chùa, bốn vị đại sư áo vàng đã xông ra, chạy nhanh như gió lên núi, không người nào cầm khí giới nhưng thân pháp nhanh vô cùng, đủ thấy võ công của họ cao cường biết bao. Quách Tường thấy tình hình bất lợi biết rằng có muốn thoát một mình cũng không được, liền đứng bên chờ coi diễn biến ra sao. Vị sư đi trước chạy đến cách nàng bốn trượng liền lên tiếng nói:

– Thủ tọa sư tôn La Hán Ðường truyền dụ cho người lạ mặt hãy bỏ khí giới và xuống Lập Tuyết Ðình ở chân núi tường trình sự thể, rồi nghe pháp dụ định đoạt.

Quách Tường nghe vậy, cười nhạt đáp:

– Sao các vị đại hòa thượng ở chùa Thiếu Lâm này lại quan cách đến thế? Xin hỏi các vị hòa thượng, các vị làm quan chức gì cho Hoàng Ðế nhà Tống hay vua Mông Cổ thế?

Chùa Thiếu Lâm ở trên đất đai do Mông Cổ cai quản. Mấy năm nay, quân Mông Cổ tấn công thành Tương Dương mãi mà không sao hạ nổi. Chúng bận điều binh khiạn tướng, nên không có thì giờ để ý đến các tùng lâm chùa am, nhờ vậy Thiếu Lâm Tự mới được như cũ.

Nhà sư nghe Quách Tường mỉa mai một cách sâu sắc, xấu hổ vô cùng, mặt đỏ bừng lên, cảm thấy ra lệnh cho người ngoài như vậy cũng hơi quá một chút, y liền đổi giọng ôn hòa, chấp tay vái và lễ độ nói:

– Không biết nữ thí chủ có việc gì giáng lâm tệ tự? Vậy xin hãy bỏ khí giới rồi mời nữ thí chủ xuống Lập Tuyết Ðình uống trà, nói chuyện sau.

Quách Tường đáp:

– Các vị không để tôi vào trong chùa thì thôi, tôi có cần gì đâu. Hừ, Chẳng lẽ trong chùa này có của báu hay sao? Dễ tôi thấy thì tôi được vẻ vang thêm hay sao?

Nàng thấy tình thế bất lợi cho mình, muốn nhân lúc này rút lui cho êm, liền đưa mắt ra hiệu cho Trương Quân Bảo và khẽ hỏi:

– Thế nào? Có đi hay không?

Trương Quân Bảo lắc đầu và liếc nhìn Giác Viễn đại sư ngầm tỏ ý là còn phải ở lại phụng dưỡng sư phụ.

Quách Tường lớn tiếng nói:

– Thôi được! Tôi để mặc cho các người tùy liệu đấy.

Nói xong, nàng liền chạy thẳng xuống núi. Nhà sư áo vàng thứ nhất né tránh sang bên. Nhà sư áo vàng thứ nhì và thứ ba đồng thời đưa tay ngăn lại và nói:

– Hãy khoan, bỏ khí giới xuống đã.

Quách Tường cau mày, tay nắm chặt lấy cán kiếm. Nhà sư áo vàng thứ nhất nói tiếp:

– Chúng tôi cũng không dám giữ lại khí giới của nữ thí chủ đâu. Nữ thí chủ xuống tới chân núi là chúng tôi xin gởi trả lại thanh bảo kiếm ngay. Ðây là luật lệ của Thiếu Lâm Tự đã có từ ngàn năm nay rồi, xin nữ thí chủ lượng thừ cho.

Quách Tường thấy vị sư đó ăn nói lễ phép, lòng phân vân vô cùng và nghĩ thầm:

– Nếu không để lại đoản kiếm thì thế nào cũng có một trận đấu ác liệt, ta một mình làm sao địch lại bao nhiêu tăng chúng trong chùa? Nhưng nếu ta để lại đoản kiếm thì có phải là làm mất sĩ diện của cha mẹ, anh chị, anh rạ, đại ca và Long tỷ tỷ không?

Nàng nghĩ ngợi, chưa quyết định thì đột nhiên trước mặt có cái bóng vàng thấp thoáng và có tiếng quát lớn:

– Mi tới Thiếu Lâm Tự mà dám cầm kiếm đả thương người, thật là bướng bỉnh!

Tức thì một bàn tay xỉa tới chụp bao kiếm của Quách Tường. Nếu nhà sư đó không làm ngang, có lẽ nàng sẽ nhượng bộ buông kiếm ra (bởi tính nàng khác hẳn tính chị nàng là Quách Phù, rất táo bạo nóng nảy), và bây giờ nàng đã để bị đoạt kiếm một cách dễ dàng vậy!

Cầm nã thủ pháp của nhà sư nọ thật độc, lại tinh xảo nên vừa nắm được bao kiếm của nàng, liền nghĩ thầm:

– Nàng này thế nào cũng giằng co, mà một sư một nữ giằng kéo nhau, coi sao được?

Y liền vận nội công đẩy tréo sang trái, rồi kéo về bên phải. Quách Tường không cầm vững được bao kiếm, lúc nguy cấp nàng bàn nắm ngay cán kiếm, rút luôn thanh kiếm ra, nghe “xoẹt” một tiếng. Nhà sư nọ tay phải cướp được bao kiếm, nhưng năm ngón bên trái đều bị cắt đứt. Y đau đớn vô cùng. liền giơ bao kiếm lên chỉ vào mặt Quách Tường. Quách Tường cũng đưa kiếm lên đỡ. chỉ nghe “coong” một tiếng, bao kiếm bị chặt đứt làm đôi. Nhà sư nọ bước lùi lại một bước.

Các tăng nhân thấy đồng môn của mình bị thương, ai nấy đều tức giận liền múa côn và trượng xông tới vây đánh Quách Tường. Nàng nghĩ:

– Đã trót đi thì cho trót luôn, dù sao bây giờ cũng không dàn xếp ổn thỏa được.

Nàng bèn huy động kiếm pháp gia turyền Lạc Anh kiếm vừa đánh vừa chạy xuống núi. Các tăng nhân chia ra làm ba hàng, ngăn trước, đón sau, vây đánh nàng dữ dội.

Lạc Anh kiếm là kiếm pháp riêng của Hoàng Dược Sư theo Lạc Anh chưởng pháp mà biến hóa, tuy không tuyệt diệu bằng Ngọc Tiêu kiếm pháp, nhưng cũng là nhứt Đào Hoa đảo, ánh sáng xanh thấp thoáng kiếm hoa điểm điểm không khác gì những cánh hoa rụng xuống tản mác bốn phương. Chỉ trong nháy mắt đã có hai tăng nhân bị thương. Quách Tường tuy hơi thắng thế, nhưng phía sau đã có thêm nhừng tăng nhân khác xông tới.

Nàng bị hai mặt đánh ép. Đồng thời từ cửa ngách ngôi chùa, thêm nhiều tăng nhân xông ra, càng đánh bọn nhà sư càng đông thêm.

Thật ra, Quách Tường không làm sao chống cự nổi, nhưng các nhà sư Thiếu Lâm lấy từ bi làm gốc nên những thế đánh của họ không phải là những thế sát nhân. Họ chỉ mong đánh ngã nàng để dạy nàng một bài học, giữ khí giới lại rồi đuổi nàng xuống núi. Nhưng kiếm quang của Quách Tường rất lợi hại, muốn tấn công đến gần nàng không phải dể. Lúc đầu bọn tăng nhân tưởng đối phó một thiếu nữ tuổi trẻ như vậy không khó lắm, đến khi thấy kiếm pháp của nàng tinh kỳ quá lẽ, mới nghĩ rằng nàng hẳn là môn hạ của một môn phái danh tiếng nào. Bọn tăng nhân không dám làm mất lòng nàng, nên càng cẩn thận hơn.

Một mặt bọn nhà sư cho người chạy lên La Hán Đường cấp báo cho Thủ Tọa là Vô Sắc thiền sư hay.

Trong lúc mọi người đang chiến đấu kịch liệt, bỗng có một lão tăng gầy gò và cao như cây tre, hai tay lồng vào tay áo từ từ đi tới, rồi đứng lại mỉm cười xem mọi người tranh đấu.

Thỉnh thoảng, vài tăng nhân chạy đến trước mặt lão tăng bẩm vài câu. Lúc nầy, kiếm pháp của nàng hơi loạn xạ, nàng liền lớn tiếng nói :

– Thế mà cũng gọi là nguồn gốc của thiên hạ ! Mấy chục hòa thượng xông vào đánh có mình ta, ỷ nhiều hiếp ít, không biết xấu hổ ư ?

Vô Sắc thiền sư – vị lão tăng mới tới – liền quát to :

– Các người hãy ngừng tay!

Các tăng nhân vội nhảy sang hai bên. Vô Sắc thiền sư liền hỏi:

– Cô nương quý tánh là chi, lệnh tôn là ai? Cô nương giáng lâm Thiếu Lâm Tự Chẳng hay có việc gì thế?

Quách Tường nghĩ thầm:

– Ta không thể nào nói tên cha mẹ ta cho ông thày chùa này biết. Còn việc ta đến Thiếu Lâm Tự tìm tung tích đại ca ta, thì trước mặt mọi người làm sao nói rõ ra. Hôm nay ta gây rối như thế, sau này cha mẹ và đại ca ta hay biết, thế nào cũng trách mềng ta. Chi bằng ta lẳng lặng bỏ đi thì hơn.

Nghĩ đoạn nàng liền đáp:

– Tôi không tiện nói tên họ cho đại sư rõ. Còn tôi lên trên núi này là vì thấy phong cảnh quá đẹp nhân tiện đường du ngoạn. Không ngờ Thiếu Lâm Tự còn lợi hại hơn Hoàng Cung, động chút là có người đòi giữ khí giới! Xin hỏi lào sư, tôi đã bước vào tới sơn môn của Thiếu Lâm Tự chưa? Năm xưa Ðạt Ma sư tổ truyền lại võ nghệ chắc cũng muốn các vị tăng nhân được khỏe mạnh thôi, không ngờ tiếng tăm của Thiếu Lâm Tự ngày càng lớn, võ công càng cao. Ai ngờ cái danh là cậy ở người nhiều bắt nạt và hà hiếp kẻ khác cũng càng kêu to! Các nhà sư muốn giữ khí giới của tôi thì cứ giữ và cũng nên giết tôi luôn, bằng không câu chuyện ngày hôm nay giới giang hồ thế nào cũng biết đến.

Nàng khéo ăn nói, vả lại việc này không phải do nàng gây ra trước, khiến Vô Sắc thiền sư không biết trả lời ra sao. Quách Tường lại nghĩ thầm:

– Ta lên chùa quấy nhiễu như vậy sợ mọi người sẽ biết thì còn gì tên tuổi. Nhưng Thiếu Lâm Tự hẳn càng không muốn cho ai biết chuyện hàng chục hòa thượng vây đánh một thiếu nữ, nói ra không hay ho gì.

Nghĩ đoạn nàng bàn hừ một tiếng như đe dọa vừa vứt kiếm xuống, vừa bỏ đi liền. Vô Sắc thiền sư tiến lên mấy bước, phất tay áo nhặt thanh kiếm ấy lên, thấy màu đất có lấm chấm máu tươi của mấy người đã bị thương vì lưỡi kiếm này, nhưng lưỡi kiếm sạch trơn. Ðại sư đưa hai tay đỡ lấy thanh kiếm và nói:

– Cô nương không muốn cho lão tăng biết rõ sư môn và sư thừa thì xin thâu hồi lại thanh kiếm này. Lão tăng cung kính tiễn cô nương xuống núi.

Quách Tường nhếch mép cười và đáp:

– Dù sao hòa thượng cũng thông đạt tình lý hơn, vậy mới phải là phong cách của một danh gia.

Nàng đang thắng thế nên thuận mồm khen Vô Sắc một câu, đoạn giơ tay ra cầm kiếm. Nhưng nàng kinh hãi vô cùng vì thiền sư phát ra một lực mạnh giữ chặt đoản kiếm. Quách Tường tay nắm được cán cũng không sao nhắc thanh kiếm lên nổi. Ðôi ba phen nàng dùng hết sức lực mà cũng không sao lấy thanh kiếm cho được liền nói:

– Hay lắm! Ðại sư định biểu diễn võ công đấy!

Nói xong nàng phảy tréo tay trái một cái, nhếm hai yếu huyệt Thiên Ðỉnh và Cự Cốt ở cổ bên trái của Vô Sắc thiền sư mà hất tới.

Lão hòa thượng rùn mình né tránh. Nhờ vậy Quách Tường nhấc bổng thanh đoản kiếm lên được. Vô Sắc liền nói:

– Tuyệt! Tuyệt thay thủ pháp Lan Hoa Hô Huyệt! Chẳng hay cô nương xưng hô với Ðào Hoa đảo chủ là gì?

Quách Tường vừa cười vừa đáp:

– Ðào Hoa đảo chủ ấy à? Tôi gọi ông ta là Lão Ðông Tà.

Thì ra Ðào Hoa đảo chủ Ðông Tà Hoàng Dược Sư là ông ngoại của Quách Tường, nhưng tính rất quái dị, xưa nay Dược Sư không câu nệ lễ phép, nên thường gọi cháu ngoại là Tiểu Ðông Tà, còn bảo Quách Tường gọi mình là Lão Ðông Tà.

Thấy cháu ngoại gọi mình như thế, ông rất thích. Vô Sắc thiền sư làm sao biết chuyện đó, nên khi nghe Quách Tường nói vậy, liền nghĩ:

– Hẳn nàng không liên quan gì với Hoàng Dược Sư, mới dám vô lễ nói bậy như thế!

Nghĩ đoạn Vô Sắc thiền sư không còn úy kỵ về phương diện Ðào Hoa đảo chủ nữa.

Nguyên Vô Sắc thiền sư hồi Thiếu thời ở trong lục lâm, sau vào cửa thiền tu hành mấy chục năm, Phật học rất tinh thâm, nhưng hào khí xưa vẫn còn.

Nay thấy nàng không chịu nói rõ sư thừa và lai lịch, đại sư càng muốn thử thách để cho nàng nói ra mới thôi. Vô Sắc thiền sư liền vừa cười vừa lớn tiếng:

– Tiểu cô nương hãy tiếp thử mười hiệp xem nhỡn lực của lão hòa thượng có thể nói ra được môn phái của cô nương không?

Quách Tường đáp lại:

– Nếu trong mười hiệp mà lão sư không nhận ra thì sao?

Vô Sắc thiền sư liền cười ha hả:

– Nếu Tiểu cô nương đỡ được 10 hiệp của lão tăng thì còn nói gì nữa! Cô nương sai bảo điều gì lão cũng xin chịu.

Quách Tường bàn chỉ Giác Viễn và nói:

– Tôi với vị đại sư này năm xưa đã có duyên gặp nhau một lần, nên giờ đây tôi muốn xin giúp ông ta. Nếu trong 10 hiệp mà đại sư không nói rõ tên sư phụ tôi là ai thì đại sư phải nhận lời tôi đừng bắt tội vị đại sư kia. Ðược chăng?

Vô Sắc thiền sư ngạc nhiên vô cùng và nghĩ thầm:

– Lạ thật! Giác Viễn là người hủ nho, mấy chục năm nay trông coi sách vở trên Tàng Kinh Lầu, không hề giao du với người ngoài bao giờ, sao lại quen biết với cô bé này?

Nghĩ đoạn đại sư đáp:

– Thú thật, chúng tôi có hành hạ gì y đâu. Các tăng chúng trong chùa bất cứ ai, hễ phạm luật thì đều bị phạt cách ấy.

Quách Tường chu miệng lại cười nhạt, không nói gì.

Vô Sắc giơ chưởng lên và nói:

– Thôi được, lão tăng vui lòng chịu Hết. Nếu lão tăng thua thì lão tăng sẽ gánh ba nghìn một trăm linh tám gánh nước thay cho Giác Viễn. Vậy cô nương cẩn thận, lão ra tay đây!

Trong lúc Quách Tường nói chuyện với lão hòa thượng, trong lòng đã suy tính thầm:

– Lão hòa thượng này nội công cao siêu như thế, võ công tất phải lợi hại lắm. Nếu để y ra tay trước, hẳn ta phải kiệt lực chống đỡ, lúc ấy thế nào cũng phải giở võ công của cha mẹ ra. Chi bằng ta ra tay trước tấn công luôn mười miếng.

Nàng nghĩ tới đó thì bỗng nghe lão hòa thượng bảo:

– Cô nương cẩn thận, lão ra tay đây.

Nàng không để Vô Sắc thiền sư kịp ra tay, liền múa đoản kiếm nhằm ngực hòa thượng đâm, vẫn với Lạc Anh kiếm pháp của Ðào Hoa Ðảo. Lão sư biết thế công của nàng rất lợi hại nên không dám đỡ, liền nhảy sang bên né tránh.

Quách Tường quát lớn:

– Coi chừng thế thứ hai!

Nàng liền múa đoản kiếm từ bên dưới đâm lên. Thế kiếm này là thế kiếm của Toàn Chân phái. Vô Sắc thiền sư liền nói:

– Hay lắm! Ðó là Toàn Chân kiếm pháp.

Quách Tường trả lời:

– Chưa chắc!

Nàng thấy đoản kiếm không đâm trúng, mà nhân lúc mình trả lời nên hơi chậm tay một chút. Vô Sắc thiền sư đã hóa thủ thành công và giơ tay định nắm lấy cổ tay nàng thì kinh hãi nghĩ thầm:

– Lão hòa thượng này lợi hại thật. Dưới thế kiếm hung hiểm như vậy mà dám tay không xông vào phản công chứ!

Nàng thấy ngón tay của đối phương sắp đến trước mặt, vội múa kiếm ra đòn Ðả Cẩu Bổng Pháp. Nguyên hồi còn nhỏ nàng được Tiền bang chủ Lỗ Hữu Cước dạy môn võ công này. Theo luật lệ của bang ấy, môn Ðả Cẩu Bổng Pháp là thần kỹ trấn bang nên chính bang chủ mới được truyền dạy, nhưng trong lúc trà dư tửu hậu, Lỗ Hữu Cước múa bổng thức này chơi, nàng ngồi đó học luôn. Huống hồ mẹ nàng là Hoàng Dung cũng là bang chủ nhiệm kỳ trước, còn bang chủ hiện thời là anh rể nàng, do được mục kích thường xuyên môn võ công này, nên nàng biết sử dụng một vài thế là thường.

Lúc ấy ngón tay của Vô Sắc thiền sư gần đụng vào tay nàng, thì thấy đưòng kiếm thấp thoáng thần diệu vô phương, xuýt nữa năm ngón tay của đại sư bị chém đứt. Cũng may đại sư võ công cao siêu vội lùi lại hai bước để tránh. Nhờ vậy khỏi đứt tay nhưng tay áo cũng đã bị nhát kiếm cắt đứt. Ðại sư biến sắc, kinh hãi đến toát mồ hôi lạnh.

Quách Tường đềc chí vô cùng, vừa cười vừa hỏi:

– Vậy thế kiếm này là thế kiếm gì?

Sự thực, trong thiên hạ làm gì có thế kiếm đó? Vì Quách Tường biến Ðả Cẩu Bổng Pháp, đến Vô Sắc thiền sư cũng ngẩn người không biết đó là thế kiếm gì.

Quách Tường nghĩ thầm:

– Ta cứ giở Ðả Cẩu Bổng Pháp ra là đánh bại y ngay, nhưng ngoài thế này ta không còn biết thế nào khác nữa.

Nghĩ tới đó, nàng không để cho Vô Sắc được rảnh tay, liền múa kiếm nhảy tới, thân hình như tiên nữ hạ phàm vậy, kiếm phong của nàng cứ nhằm hạ bộ của Vô Sắc mà điểm lia lịa.

Thế kiếm này là Ngọc Nữ kiếm pháp mà nàng học được của Tiểu Long Nữ.

Ngọc Nữ kiếm pháp do nữ hiệp Lâm Chiêu Anh sáng tác từ hồi xưa, không những kiếm thế lợi hại mà dáng điệu lại nhanh nhẹn tao nhã. Quách Tường là một thiếu nữ trẻ đẹp như thế, sử dụng kiếm pháp này trông càng ngoạn mục vô cùng.

Bọn tăng nhân đứng quanh đó thấy kiếm pháp vừa đẹp vừa lợi hại, trong đời chúng chưa hề mục kích bao giờ, nên càng kinh hãi, lại vừa mừng thầm được học hỏi thêm.

Phải biết Ðạt Ma Kiếm Pháp và La Hán Kiếm Pháp phái Thiếu Lâm đều thuộc loại cương thuật, còn Ngọc Nữ Kiếm Pháp đã tuyệt tích giang hồ từ lâu. Tính chất của kiếm thuật đó lại tương phản các môn võ thuật của phái Thiếu Lâm. Quách Tường chỉ giở một thế Lăng Ba Chi Bộ là đã làm cho Vô Sắc thiền sư ngơ ngác ngẩn người.

Sự thực Ngọc Nữ Kiếm Pháp không hơn gì hai bộ kiếm thuật của phái Thiếu Lâm, thoáng trông môn kiếm của nàng thì tuyệt mỹ tuyệt ảo tựa như trong kinh Phật đã mô tả: “Dung nghi uyễn mi, trông thật trang nghiêm, thật hòa nhã, đoan chính khả hỉ, quan giả vô yếm”. Nghĩa là hình dáng và vẻ mặt trông rất đẹp một cách nhu mì, trang nghiêm, hòa nhã, đoan chính, vui vẻ khiến người ta càng nhìn càng ưa. Vô Sắc thiền sư thấy kiếm thuật đẹp đẽ và huyền diệu như thế, chỉ muốn xem lại một lần nữa. Lão liền nhảy sang bên để cho nàng đánh tiếp thêm một thế nữa.

Quách Tường múa kiếm, đột biến thế kiếm đó chạy Ðông chạy Tây chém thêm mấy kiếm nữa.

Trương Quân Bảo đứng cạnh đấy thấy võ công của nàng cao siêu như vậy cũng ngẩn người, bỗng y kêu “ủa” một tiếng.

Thì ra Quách Tường sử dụng thế kiếm sau cùng là thế Tứ Thông Bát Ðạt mà ba năm trước đây trên núi Hoa Sơn Dương Qua đã truyền thụ cho y. Quách Tường đứng gần đó đã học lỏm được thế ấy giờ lại đem ra dùng. Nhưng lúc đó Dương Qua dạy Quân Bảo là chưởng pháp. mà giờ đây Quách Tường lại biến ra thành kiếm pháp nên oai lực kém đi mấy thành, huống hồ võ công của Vô Sắc thiền sư hơn nàng nhiều. trước Trương Quân Bảo dùng chưởng thế ấy khắc phục được Y Khắc Tây, bây giờ Quách Tường sử dụng thành kiếm pháp thì làm sao áp chế nổi Vô Sắc thiền sư?

Nhưng kiếm thuật đó rất kỳ lạ khiến Vô Sắc thiền sư cũng kinh hãi thầm. Chỉ trong thoáng cái, Quách Tường sử dụng 5 thế kiếm liền mà Vô Sắc thiền sư vẫn chưa nhận được đó là kiếm pháp gì!

Lão hòa thượng hồi trẻ tung hoành trên giang hồ nên kiến thức rất phong phú, mười mấy năm nay lão làm thủ tọa La Hán Ðường lại càng chú tâm nghiên cứu võ công. Vô Sắc đã tham chiếu và so sánh võ công các môn phái với võ công của chùa, rồi thâu lượm các sở trường của các môn võ công các phái bổ khuyết chỗ sở đoản của chùa, nên ông tự tin bất cứ cao nhân của môn phái nào chỉ giở vài thế ra là ông biết ngay lai lịch của đối phương.

Nhưng bây giờ, lão hòa thượng hẹn với Quách Tường mười thế – ấy là lão cũng đề phòng dư rồi – ngờ đâu cha mẹ, sư phụ và bạn bè của Quách Tường đều là những tay cao thủ hạng nhất đương thời. Nàng chỉ giở ra của mỗi người một thế võ thôi là đủ làm cho Vô Sắc điên đầu nhức óc, hoa mắt, giở hết toàn lực ra mới đặng chống đỡ nổi, còn môn phái thì lão hòa thượng làm sao biết mà nói.

Quách Tường vừa sử dụng xong bốn kiếm Bát Thức của môn Tứ Thông Bát Ðạt, Vô Sắc thiền sư liền nghĩ:

– Nếu ta để cho nàng ra tay tấn công mãi như vậy thì sợ nàng cứ giở những quái thế ra thì đừng nói là mười thế, dẫu đến trăm thế ta cũng không sao biết rõ nguồn gốc ra sao. Bây giờ ta phải tấn công lia lịa thì nàng mới giở võ công của bản môn ra mà chống đỡ.

Nghĩ đoạn thiền sư quay người sang trái giở thế Song Quán Quyền ra tấn công trở lại. Quách Tường thấy sức của quyền thế mạnh vô cùng, không dám chống đỡ, vội quay mình né tránh. Vô Sắc thiền sư cũng phải khen ngợi:

– Thân pháp đẹp lắm! Hãy tiếp thêm một thế nữa của lão.

Ðoạn thiền sư giở một môn quyền của Thiếu Lâm Tự là Hoàng Anh Lạc Dã (con chim Hoàng Anh hạ xuống cái khung). Vô Sắc thiền sư đứng đầu trong chùa Thiếu Lâm tuy biết nhiều rất nhiều môn võ công, không thua gì Quách Tường, nhưng mỗi thức của lão hòa thượng sử dụng đều là võ công thuần chính của bổn môn. Những pho quyền của phái Thiếu Lâm thoáng trông thì rất tầm thường, không có gì khác lạ, nhưng luyện đến chỗ tinh thâm thì quả thực oai lực vô cùng.

Lão hòa thượng chỉ giơ chưởng trái lên quay một vòng, Quách Tường đã cảm thấy nửa mình bị bao vây trong chưởng lực của lão rồi, nàng đành phải quay cán kiếm lại dùng cán kiếm thay ngón tay ra đòn Nhất Dương Chỉ mà nàng đã học được của Võ Tu Văn, nhằm ba yếu huyệt ở cổ tay Vô Sắc điểm tới. Cách dùng Nhất Dương Chỉ nàng mới học được sơ sơ thôi. Môn Nhất Dương Chỉ của Nhất Ðăng đại sư lừng danh thiên hạ. Vô Sắc thấy nàng sử dụng thì kinh hãi vô cùng, vội thâu tay lại.

Sự thực nếu Vô Sắc thiền sư không thâu tay lại mà cứ để cho nàng điểm vào ba yếu huyệt thì hòa thượng nhận ngay ra Nhất Dương Chỉ của nàng là giả chứ không phải thiệt. Nhưng hai bên đang giở hết toàn lực ra đấu, lão hòa thượng khi nào dám mạo hiểm như thế.

Quách Tường mỉm cưòi nói:

– Ðại hòa thượng đã biết lợi hại của ta chưa?

Vô Sắc dùng giọng mũi “hừ” một tiếng lại đánh ra một thế Ðan Phong Trùy Giáng Hạ, hai tay giơ lên trên cao đánh xuống, như vậy Quách Tường không sao dùng Nhất Dương Chỉ được nữa.

Nhưng Quách Tường lúc này giở thế Diêu Thủ Không Không của Châu Bá Thông dạy cho. Quyền pháp này là do Châu Bá Thông chế biến chưa lưu hành trong giang hồ bao giờ. Vô Sắc thiền sư dù uyên bác đến đâu cũng không nhận ra được, liền dùng môn Liên Hoa Thất Tinh, hai chương nhanh như chớp chặt thẳng vào bàn tay Quách Tường, nếu nàng dùng nội lực phản kháng thì bàn tay của nàng gãy liền.

Vô Sắc đại sư giở những thế võ xem bình thường vô cùng, trông như chậm chạp, nhẹ nhàng, nhưng sự thực thì rất nhanh và rất nặng, thế nào cũng phải dùng đến nội lực, Quách Tường thấy bàn tay của mình bị đối thủ kiềm chế thì nghĩ thầm:

– Chẳng lẽ mi đánh gãy được bàn tay ta hay sao?

Nghĩ đoạn, nàng thuận tay phẩy một cái, giở Bồ Ðề Phiến Thủ (thủ pháp cái quạt sắt) dùng chưởng đối chưởng phản công tức thì. Thế võ này nàng học của vợ Võ Tu Văn là Hoàng Nhan Bình, vả lại Thiết Chưởng Công là một môn chưởng pháp mạnh nhất trong các môn chưởng pháp của các môn phái. Vô Sắc thiền sư nghiên cứu chưởng pháp tinh xảo như thế sao lại không biết. Lão hòa thượng thấy nàng giở Thiết Chưởng Công ra kinh hãi vô cùng, vội thâu chưởng lại vì hòa thượng không muốn đối chưởng với nàng, một là không muốn đả thương nàng, hai là lão cũng hơi sợ môn Thiết Chưởng Công. Là người rất trung hậu, thấy thế võ nào của Quách Tường cũng đều là đại diện cho một môn phái cả, nàng lại chưa đầy hai chục tuổi mà biết được nhiều võ công của nhiều môn phái như vậy thật là hiếm có. Lão hòa thượng thâu chưởng về, liền nhảy ra xa nửa trượng.

Quách Tường mỉm cười la lớn:

– Ðây là thế thứ mười, lão hòa thượng thử xem thế này của tôi là thế gì?

Nói đoạn nàng giơ tay trái tiến lên một bước, tay phải đỡ luôn vào cằm của Vô Sắc thiền sư.

Tăng chúng đứng bên xem và cả Vô Sắc thiền sư cũng đều la lớn. Thì ra thế đó là Khố Hải Hồi Ðầụ thế võ này xuất xứ ở cầm nã thủ pháp của phái Thiếu Lâm, chứ phái khác không có. Môn cầm nã này chỉ dùng khi sự sống chết kề bên, nên người sử dụng nếu không nắm chắc phần thắng hay không ở trong trường hợp khẩn cấp thì không bao giờ xài tới. Thế Khố Hải Hồi Ðầu là tay trái nắm đầu, tay phải đỡ cằm kẻ địch rồi bẻ mạnh một cái, nếu thành công thì cổ kẻ địch gãy liền, nếu không gãy thì cũng sai khớp xương. Thế sát thủ này lợi hại vô cùng.

Vô Sắc thiền sư thấy nàng sử dụng thế đó không khác gì kẻ đọc cuốn Hiếu kinh trước nhà Khổng Tử và múa búa trước cửa Lỗ Ban. Lão hòa thượng tức cũng không phải mà giận cũng không nên vì thế võ đó lão đã mấy chục năm thao luyện làu thông dù đang ngủ gật cũng có thể sử dụng được. Lão thiền sư liền né mình tiền lên hai bước, tay trái luồn qua ngang người Quách Tường, và đụng vào xương hông của nàng. Ðây là thế Hiệp Sơn Liên Hải (kẹp núi vượt bể) dùng để phá giải thế Khố Hải Hồi Ðầu rất tuyệt diệu. lão hoà thượng khẽ nhắc một cái, thân hình của đối phương liền rời khỏi mặt đất. Ðáng lẽ Quách Tường dùng cánh tay đà khuỷu tay của đối phương xuống là thoát ngay và có thể phản công lại nữa, nhưng vì thân thủ của Vô Sắc thiền sư quá nhanh, chỉ chớp mắt thân hình của nàng đã bị nâng cao khỏi mặt đất rồi, thì làm gì còn giở được thế võ khác ra phản công nữa, như thế tất nhiên nàng thua rồi.

vô Sắc thiền sư tuy chế phục được Quách Tường nhưng sực ngẩn người ra nghĩ:

– Nguy tai, ta chỉ để ý đến sự hơn thua mà không nhận xét sư môn của nàng. Trong mười thế nàng dùng mười thứ kiếm pháp khác nhau như vậy ta biết nói sao đây? Không lẽ nói nàng thuộc phái Thiếu Lâm hay sao?

Quách Tường dùng sức dãy dụa vừa la lớn. Bỗng nghe “keng” một tiếng, trong người nàng có một vật gì rơi xuống. Nhưng Quách Tường không nghe thấy cứ la tiếp:

– Lão hòa thượng còn không buông ta ra ư?

Vô Sắc thiền sư là một cao tăng đắc đạo, coi ai cũng bình đẳng chứ không phân biệt nam nữ, ngựa bò, heo gì cả. Lão hòa thượng ha hả cười nói:

– Tuổi của lão tăng có thể nói được bằng tổ phụ cô nương thì còn sợ xấu hổ gì nữa.

Nói xong Vô Sắc thiền sư hất hai tay một cái. Quách Tường bị băn ra hai trượng.

Sau trận đấu, Quách Tường thua, nhưng qua 10 thế võ, lão sư vẫn chưa nhận ra được môn phái của nàng. Hòa thượng là một người có địa vị nên rất trọng lời nói, đang định lên tiếng chịu thua, nhưng vừa cúi đầu lão chợt thấy dưới chân có một vật gì đen thui, nhìn kỹ mới biết đó là hai vị La Hán bằng sắt.

Bỗng Quách Tường lớn tiếng hỏi:

– Ðại hòa thượng đã chịu thua chưa?

Vô Sắc thiền sư ngẩng mặt lên, hớn hở vừa cười vừa đáp:

– Lão hòa thương khi nào chịu thua! Lão biết lệnh tôn là đại hiệp Quách Tỉnh, lệnh đường là nữ hiệp Hoàng Dung. Còn Ðào Hoa đảo chủ là ông ngoại cô nương, lệnh tôn học kiếm Giang Hồ thất quái, Ðào Hoa đảo chủ, Cửu Chi Thần Cái và các vị tôn trưởng của phái Toàn Chân. Quách nhị Tiểu thư gia học uyên thâm, lệnh tôn quả nhiên danh bất hư truyền.

Thấy lão thiền sư thao thao bất tuyệt, Quách Tường trợn mắt thè lưỡi một lúc lâu không nói được nửa lời, rồi nghĩ thầm:

– Ðại hòa thượng này ghê gớm thật. Trong 10 miếng võ của ta, bao hàm mười võ công của các thân hữu ta thế mà lão vẫn nghĩ ra được.

Vô Sắc thiền sư thấy Quách Tường ngẩn người như mất hồn, liền tủm tỉm cười, cúi xuống nhặt đôi La Hán nhỏ bằng sắt lên, rồi nói:

– Quách nhị cô nương, lão không nói dối trẻ con đâu. Sở dĩ lão nhận ra cô nương là nhờ ở đôi La Hán này. Gần đây cô nương có gặp Dương đại hiệp không? Dương đại hiệp mạnh khỏe chứ?

Quách Tường tỉnh ngộ, liền hỏi lại:

– Chẳng hay lão hiệp có thấy Dương dại ca và Long tỷ tỷ của tôi đâu không? Tôi đến quý tự định thăm dò tin tức của hai người đó. thưa lão hiệp, hai người ấy là vợ chồng Dương đại hiệp ấy mà.

Vô Sắc thiền sư liền đáp:

– Mấy năm trước đây, Dương đại hiệp có tới bổn tự thăm lão tăng, và ở lại chơi vài ngày, rất hợp chuyện với lão tăng. Sau nghe nói, đại hiệp giết vua Mông Cổ ở ngoài thành Tương Dương, tiếng tăm lừng lẫy khắp thiên hạ. Tăng chúng của tệ tự hay tin đó, ai nấy đều hân hoan vô cùng. Nhưng không hay biết hiện giờ ở đâu? Thế ra đại hiệp đã kết hôn rồi đấy? Phu nhân của đại hiệp tất phải là một nữ hiệp văn võ song toàn.

Hai người đều nóng lòng muốn hay biết tin tức của Dương Qua cả, mỗi người hỏi một câu, nhưng không ai trả lời câu hỏi của đối phương hết.

Quách Tường đứng ở trên sườn núi, ngẩn người ra giây lát, mới tiếp:

– Lão hòa thượng còn không biết đại ca của tôi đi đâu, thì còn ai mà biết được chứ?

Ðịnh thần giây lát, nàng lại tiếp:

– Thế ra lão hòa thượng là Vô Sắc thiền sư đấy? Thảo nào võ công của lão hòa thượng cao minh như vậy. À tôi còn chưa cám ơn lão thiền sư biếu quà sinh nhật, tiện đây xin cám ơn lão hòa thượng luôn thể.

Vô Sắc thiền sư mỉm cười đáp:

– Quả thật là không đánh nhau không biết nhau. Khi nào cô nương gặp Dương Qua chớ có nói lão tăng thị lớn bắt nạt nhé!

Quách Tường ngước mắt nhìn những ngọn núi phía xa lìm bìm tự nói:

– Không biết bao giờ mới gặp được anh ấy!

Thì ra, ngày sinh nhật năm Quách Tường 16 tuổi. Dương Qua bỗng có một ý nghĩ mới lạ, là viết thiếp mời các giang hồ đồng đạo đến Tương Dương để mừng sinh nhật Quách Tường. Lúc ấy rất nhiều võ lâm cao thủ của Hắc, Bạch hai đạo nể mặt Dương Qua đến chúc thọ. Người nào dù có việc bận không thể đến cũng sai người mang lễ vật quý báu đến mừng. Vô Sắc thiền sư cũng sai người đem lễ vật đến mừng, món quà lễ chính là đôi La Hán bằng sắt mà Quách Tường đã làm rớt ra đó. Trong bụng đôi Thiết La Hán này có máy móc, cứ lên giây cót xong là đôi Thiết La Hán có thể đấu với nhau, trình diễn cả một pho La Hán Quyền của phái Thiếu Lâm.

Ðôi La Hán này là của một vị tăng chủ chùa xưa kia, tốn bao nhiêu tâm huyết mới chế tạo ra. Tinh xảo tuyệt diệu vô cùng, nên Quách Tường rất ưa thích, cứ đem theo bên mình luôn. Không ngờ Thiết La Hán đó ở trong túi rơi ra để cho Vô Sắc thiền sư nhận được thân phận của nàng.

Quách Tường vừa rồi sử dụng mười thế võ học của mười sư hữu khác nhau, nhưng thế võ nào cũng ảo diệu tuyệt luân, thế cuối cùng là thế võ của Thiếu Lâm. Thế này nàng học được là do tập theo đôi La Hán.

Vô Sắc thiền sư vừa cười vừa nói:

– Ngại vì qui củ của nhà chùa đã có từ các đời trước, nên lào tăng không thể mời Quách nhị cô nương vào chùa ngoạn cảnh được. Xin thứ lỗi.

Quách Tường có vẻ buồn, đáp:

– Không sao, việc tôi muốn hỏi đằng nào tôi cũng đã hỏi rồi.

Vô Sắc thiền sư chỉ Giác Viễn đại sư tiếp:

– Còn việc sư đệ đây thư thả lão tăng sẽ giải thích cho cô nương biết. Bây giờ lão cùng cô nương xuống núi, tìm phạn điếm đãi cô nương vài chun rượu, Chẳng hay cô nương nghĩ sao?

Ðịa vị của Vô Sắc thiền sư ở trong chùa rất cao mà nay bỗng tôn kính một Thiếu nữ trẻ tuổi như Quách Tường, còn tiễn xuống núi long trọng khoản đãi. Các tăng chúng đứng quanh đó thấy vậy đều ngạc nhiên.

Quách Tường liền đáp:

– Ðại sư hà tất phải khách sáo. Tiểu nữ ra tay quá trớn thất lễ với mấy vị sư huynh, mong lão thiền sư xin lỗi hộ. Tiểu nữ xin cáo biệt từ đây. Sau này sẽ có ngày gặp gỡ nhau.

Nói xong, nàng vái chào một cái rồi quay mình đi thẳng xuống núi. Vô Sắc thiền sư vừa cười vừa nói:

– Dù cô nương không muốn lão tăng tiễn đưa, nhưng lão tăng cũng tiễn. Sinh nhật của cô nương lão tăng vì bận tọa quan nên không thân đến mừng được, trong lòng áy náy không yên. Hôm nay cô nương quang lâm tệ tự, nếu lão tăng không cung kính tiễn đưa ba mươi dặm thì trái với đạo đối xử chủ khách.

Quách Tường thấy lão hòa thượng thật lòng mà lời nói lại hào phóng nên cũng muốn kết bạn vong niên với lão. nàng mỉm cười nói:

– Vâng, mời lão sư đi cùng.

Rồi hai người sát cánh xuống núi. Khi qua ngang Lập Tuyết Ðình bỗng nghe có tiếng chân người. Ca hai quay lại xem thì thấy Trương Quân Bảo đang theo sau, nhưng y không dám đến gần. Quách Tường thấy vậy vừa cười vừa nói:

– Bạn họ Trương cũng định tiễn khách xuống núi phải không?

Trương Quân Bảo mặt đỏ bừng, khẽ gật đầu. Lúc ấy, trước sơn môn có một tăng nhân chạy tới, vì y dùng khinh công nên đi rất nhanh. Vô Sắc thiền sư cau mày quay lại hỏi:

– Làm gì mà hấp tấp thế?

Tăng nhân nọ chạy tới trưóc mặt Vô Sắc thiền sư, cúi đầu khẽ nói vài câu. Vô Sắc thiền sư bỗng biến sắc bảo:

– Lại có chuyện như thế à?

Tăng nhân nọ đáp:

– Lão phương trượng xin mời Thủ tọa hãy trở về để thương lượng.

Quách Tường thấy vẻ mặt Vô Sắc thiền sư có vẻ phân vân thì biết ngay trong chùa tất có sự gì xảy ra, liền nói:

– Lão thiền sư, chúng ta là bạn hữu tương giao, trọng nhất là chí tâm chứ như tục lệ này có nghĩa lý gì. Lão thiền sư có việc cứ quay trở lại. Ngày sau trên giang hồ hữu duyên chắc sẽ tái ngộ. Bấy giờ chúng ta sẽ cùng nhau uống rượu và phỉ tình đàm luận.

Vô Sắc cả mừng đáp:

– Dương đại hiệp quý trọng cô nương cũng phải. Cô nương quả thật là một anh hiệp trong nhân quần và cũng là nữ trượng phu nữa. Lão tăng rất vui lòng được kết bạn với cô nương.

Quách Tường mỉm cười đáp:

– Lão sư là bạn của đại ca thì tất nhiên cũng là bạn của tiện nữ.

Nói xong hai người cáo biệt nhau. Vô Sắc thiền sư phất phới hai tay áo rộng trở lại sơn môn.

Quách Tường tiếp tục xuống núi, Trương Quân Bảo theo sau nàng cách chừng năm, sáu bước, không dám đi sát bên. Quách Tường quay lại hỏi:

– Trương sư huynh, tại sao bọn sư lại bắt nạt sư phụ của sư huynh như thế? Sư phụ của sư huynh nội công thâm hậu hà tất phải sợ chúng?

Trương Quân Bảo tiền lên hai bước rồi mới đáp:

– Giới luật trong chùa rất nghiêm ngặt, tăng chúng nào phạm phải lỗi lầm là bị phạt liền, chứ không phải ai cố ý hà hiếp ai đâu mà…

Quách Tường ngạc nhiên hỏi:

– Sư phụ của sư huynh là người hiền đức quân tử. Thật tôi không thấy ai tốt như ông. Ông ta phạm lỗi gì thế? Tôi chắc ông ta thế nào cũng chịu lỗi hộ ai đây, chứ người như ông còn phạm lỗi gì nữa.

Trương Quân Bảo thở dài đáp:

– Việc này chắc cô nương cũng biết căn nguyên của nó. Chỉ bởi cuốn kinh Lăng Già mà nên cả.

– À, tôi nhớ ra rồi, có phải cuốn kinh bị Tiêu Tương Tử và Y Khắc Doãn lấy trộm không?

– Phải đấy, ngày nọ trên đỉnh núi Hoa Sơn Tiểu nhân đã được Dương Qua chỉ bảo cho và chính Tiểu nhân khám xét người chúng, nhưng khi xuống núi Hoa Sơn không tìm thấy tung tích của chúng. Hai thầy trò tiểu nhân đành trở về bẩm cùng phương trượng và Giới Luật Ðường rằng cuốn kinh Lăng Già là bút tích của Ðạt Ma tổ sư đã mất. Thủ tọa Giới Luật Ðường khiển trách thầy trò tiểu nhân trông nom không cẩn thận, để mất cuốn kinh vô giá đó, nên mới phạt nặng như vậy. Sư phụ tiểu nhân biết đáng tội nên không oán than gì cả.

Quách Tường thở dài một tiếng rồi nói:

– Như thế chỉ có gọi là số của sư phụ của chú không may thôi, chứ không thể nào gọi là đáng tội được ?

Nàng tuy hơn Quân Bảo có vài tuổi thôi, nhưng đã nghiễm nhiên tự nhận mình là chị rồi và dõng dạc hỏi tiếp :

– Vì việc nầy mà họ phạt sư phụ của chú không được nói chuyện hay sao ?

Quân Bảo đáp :

– Đó là giới luật tương truyền của các đời tổ sư. Người bị phạm lỗi phải xiềng xích, gánh nước và cấm nói chuyện. Tiểu đệ nghe thấy các lão thiền sư trong chùa nói : người bị tội như thế, tuy là một hình phạt nhưng sự thật rất có ích. Họ nói : người không nói năng gì hết thì tu luyện dễ tinh tiến hơn, còn bị xiềng xích và gánh nước cũng có thể tăng thêm sức khỏe cho mình.

Quách Tường vừa cười vừa nói :

– Như vậy sư phụ của chú không những không bị phạt mà lại là đang tu luyện võ công, như vậy tôi thật đa sự quá.

Quân Bảo vội biện bạch :

– Cô nương có lòng tốt như vậy, sư phụ và tiểu nhân cảm kích vô cùng, không bao giờ dám quên ơn.

Quách Tường khẽ thở dài một tiếng rồi tự nhủ :

– Những người khác đã quên hẳn ta rồi !

Lúc ấy bỗng nghe trong rừng có tiếng lừa kêu. Thì ra con lừa của nàng đang ăn cỏ trong rừng, nàng liền nói :

– Chú Quân Bảo, chú khỏi phải tiển tôi nữa.

Nói xong nàng huýt còi miệng một tiếng gọi con lừa xám tới trước mặt. Quân Bảo có vẻ quyến luyến nhưng không biết nói gì cho phải.

Quách Tường hiểu ý, liền đưa luôn đôi Thiết La Hán trong tay và nói :

– Đây, cái này tôi tặng chú.

Quân Bảo ngơ ngác không dám giơ tay nhận, chỉ đáp :

– Cái này… cái này…

Quách Tường tiếp :

– Tôi đã cho chú thì chú nhận đi.

– Tiểu nhân… tiểu…

Quách Tường liền nhét đôi Thiết La Hán đó vào tay chàng rồi tung mình nhảy lên lưng lừa đi liền.

Ðột nhiên có một người hiện ra trên bực thang đá ở sườn núi lớn tiếng gọi:

– Quách nhị cô nương hãy dừng bước.

Ðó là Vô Sắc thiền sư vừa ở trong chùa chạy ra kêu gọị Quách Tường nghĩ thầm:

– Lão hòa thượng này cũng đa sự thật, hà tất phải tiễn ta chứ!

Vô Sắc thiền sư đi rất nhanh, chỉ giây lát đã đến trước mặt Quách Tường. Lão hòa thượng nói với Quân Bảo:

– Ngươi hãy trở về chùa trước, đừng chạy loạn xạ trong núi, nguy hiểm!

Chờ Quân Bảo đi rồi, Vô Sắc thiền sư lấy trong tay áo ra một mảnh giấy đưa cho Quách Tường và nói:

– Quách nhị cô nương có biết giấy này ai viết không?

Quách Tường nhảy xuống cầm tờ giấy xem, thấy đó là một lá thư, mực viết chưa khô, và có hai hàng chữ như sau: “Mười ngày sau, Côn Luân Tam Thánh sẽ thân hành đến Thiếu Lâm Tự thỉnh giáo võ lâm tuyệt học”. Chữ viết đẹp và nét bút rất đậm đà. Nàng xem một lúc rồi hỏi:

– Lão thiền sư, Côn Luân Tam Thánh là ai thế?

Vô Sắc thiền sư hỏi lại:

– Thế ra cô nương không quen biết họ?

– Không những không quen mà cả cái tên Côn Luân Tam Thánh tôi cũng chưa hề nghe cha mẹ tôi nói đến bao giờ.

Vô Sắc thiền sư liền hỏi:

– Thế thì lạ thật.

Quách Tường vội hỏi:

– Có điều gì lạ thế hở lão thiền sư?

Vô Sắc đáp:

– Dù tôi mới gặp cô nương lần đầu nhưng tôi coi cô nương cũng như cố nhân. Việc này tôi có thể nói thật cho cô nương hay. Cô nương có biết tờ giấy này kiếm thấy ở đâu không?

Quách Tường hỏi:

– Côn Luân Tam Thánh phái người đem đến, phải không?

Vô Sắc thiền sư đáp:

– Nếu chúng phái người đem tới thì không có gì lạ. Chính vì Thiếu Lâm trụ trì mấy trăm năm nay được mệnh danh là nguồn gốc võ học võ lâm nên thỉnh thoảng có những bực cao thủ đến khiêu khích để so sánh tài nghệ. lần nào có người dền chùa tỷ võ thì chúng tôi cũng khoản đãi tử tắ, nếu có thể thoái thác cho xong, vì chúng tôi là người tu hành cần phải chú trọng đến hai điểm: Không hờn không giận và không được sinh cường tranh thếng. Nếu ngày ngày đánh nhau với người, còn gọi là đệ tử của Phật sao được.

Quách Tường gật đầu nói:

– Lão thiền sư nói rất phải.

Vô Sắc tiếp:

– Nhưng các võ sư đó đến chùa này không biểu diễn được vài thế võ thì trong người bứt rứt khó chịu. La Hán Ðường của Thiếu Lâm Tự chuyên môn dùng lễ tiếp đãi các võ sư tới khiêu chiền.

Quách Tường vừa cười vừa đáp:

– Thế ra lão thiền sư chuyên môn phụ trách đánh nhau với người đấy à?

Vô Sắc thiền sư gượng cười đáp:

– Nếu có một võ sư tới khiêu chiền thì đệ tử của bổn đường cũng có thể đối phó, lão không cần phải ra tay. nhưng hôm nay thấy thân thủ của cô nương khác thường nên lão mới lên đấu thử xem.

Quách Tường vừa cười vừa đáp:

– Thế ra lão thiền sư tâng bốc tôi quá.

– Chà, lão tăng nói càng xa vấn đề mất rồi. Không dám giấu cô nương, tờ giấy này chúng tôi lấy được trong tay tượng Phật Giáng Long La Hán trong La Hán Ðường.

– Ai để vào tay tượng Phật thế?

Vô Sắc thiền sư gãi đầu một hồi rồi đáp:

– Nào có biết. Thiết nghĩ chùa Thiếu Lâm có mấy trăm tăng chúng, nếu có người lên sao lại không ai trông thấy? Nhất là trong La Hán Ðường lúc nào cũng có 8 đệ tử luôn phiên canh gác cả ngày lẫn đêm. Vừa rồi có hai người thấy trong tượng Phật có tờ giấy bay phất phơ, mà không thấy ai, thế mới lạ. Chúng vội vào báo cho phương trượng hay và phương trượng cho người gọi lão về là thế.

Quách Tường nghe đến đó đã hiểu rõ ý nghĩ của Vô Sắc thiền sư, liền hỏi:

– Có phải lão thiền sư nghĩ tôi thông đồng với Côn Luân Tam Thánh chăng? Tôi ở ngoài chùa quấy nhiễu để cho ba tên kia lẻn vào đặt giấy phải không?

Vô Sắc thiền sư đáp:

– Có khi nào lão nghĩ cô nương, nhưng lão phương trượng và Vô Tướng sư huynh thì quả có nghi ngờ cô nương. Vì hai vị đó thấy cô nương vừa rời khỏi chùa bỗng phát hiện tờ giấy này, như vậy họ không nghi sao được?

Quách Tường liền đáp:

– Tôi đã nói thật với lão thiền sư là tôi không quen biết ba tên ấy. Ðại hòa thượng sợ quái gì? Mười ngày sau đây, nếu chúng dám tới, thì cứ đấu với chúng một trận, xem ai hơn ai kém, đã sao nào?

Vô Sắc đáp:

– Lão hòa thượng này có sợ gì hãi gì đâu? Nếu cô nương không liên can với chúng là lão cô nương này khỏi lo ngại nữa.

Lúc này Quách Tường mới hay Vô Sắc thiền sư có lòng tốt với mình. Nàng nghĩ thầm:

– Có lẽ lão hòa thượng chỉ sợ Côn Luân Tam Thánh quen biết mình, thì lúc đấu võ không biết xử trí ra sao cho phải! Lỡ tay một cái, có phải mất lòng ta không?

Nghĩ đoạn, nàng liền nói:

– Nếu bọn chúng tới đây, tỏ vẻ lịch sự mà yêu cầu nghiên cứu võ công với nhau thì thôi. Bằng không, đại hòa thượng cứ đánh cho chúng một mẻ nên thân. Cứ xem những chữ chúng viết trên tờ giấy này, đủ thấy chúng ngông cuồng bực nào…

Ðoạn nàng bỗng nghĩ ra một việc, lại lên tiếng:

– Hay là trong chùa này có người đã thông đồng với chúng nên đã gài tờ giấy này vào bàn tay tượng Phật?

Vô Sắc liền đáp:

– Chúng tôi cũng đã nghĩ tới điều ấy, nhưng trong chùa này không ai dám phản trắc đâu! Hơn nữa, bàn tay của Phật Giáng Long La Hán cách mặt đất hơn ba trượng, ngày thường quét bụi cũng phải đóng giá leo lên. Còn người có khinh công cao siêu đến đâu cũng không nhảy lên tới trên ấy. Trong chùa này dù có tên phản nghịch đi chăng nữa, y cũng không thể nào nhảy cao như thế.

Thấy Vô Sắc nói kỳ lạ như vậy, Quách Tường lại càng muốn được gặp mặt Côn Luân Tam Thánh để xem chúng là những nhân vật ra sao? Ðồng thời nàng cũng muốn được xem Tam Thánh đấu võ với các tăng nhân trong chùa, xem ai được ai thua. Nhưng chùa Thiếu Lâm có lệ không tiếp đãi nữ khách, nàng chắc rằng không thể nào xem được trận đấu ngoạn mục ấy. Vô Sắc thiền sư thấy nàng cúi đầu nghĩ ngợi, lại tưởng lầm nàng đang nghĩ kế hộ bổn chùa, liền nói:

– Chùa Thiếu Lâm trong một ngàn năm nay, đã trải qua không biết bao nhiêu phong ba bão táp, nhưng rút cuộc đều bình yên. Nay Côn Luân Tam Thánh đã quyết tâm khó dễ chúng tôi, thì chùa Thiếu Lâm này cũng không khi nào để cho họ làm mất oai phong đã gây trong ngàn năm qua được. Chỉ nửa tháng nữa là cùng, cô nương sẽ nghe thấy tin đồn của giang hồ, và sẽ biết Côn Luân Tam Thánh có phá hủy được chùa Thiếu Lâm này hay không?

Nói tới đây, Vô Sắc thiền sư bỗng trở nên khẳng khái như hồi tráng niên. Thấy vậy, Quách Tường vừa cười vừa nói:

– Hồi nãy đại hòa thượng nói không hờn giận tại sao bây giờ lại khẳng khái như thế? Chẳng lẽ bây giờ đại hòa thượng không phải là nhà sư sao? Thôi được, nửa tháng sau tôi xin chờ đợi tin mừng vậy!

Nói xong, nàng nhảy lên lưng lừa rồi hai người cùng nhìn nhau tủm tỉm cười. Quách Tường thúc lừa phi thẳng xuống chân núi, lòng đinh ninh thế nào cũng phải xem cho kỳ được trận đấu này.

Quách Tường nghĩ thầm:

– Ta phải nghĩ ra một cách thật hoàn hảo để 10 ngày sau sẽ vào Thiếu Lâm Tự thưởng thức trận đấu hiếm có ấy. Nhưng chưa chắc bên Côn Luân Tam Thánh là những nhân vật cao thủ thực sự. Nếu chúng vừa ra tay tranh đấu đã bị bọn đại hòa thượng đánh ngã thì trận đấu ấy thật là chán ngắt! Quí hồ ba người đó có độ một nửa bản lãnh của ông ngoại hay của đại ca thì trận đấu đại náo chùa Thiếu Lâm mới náo nhiệt được.

Nghĩ tới Dương Qua, nàng u uất vô cùng. Trong ba năm nay, nàng đã tìm kiếm khắp mọi nơi mà vẫn không thấy hình bóng của Dương Qua mà nàng vẫn nghĩ tới luôn:

– Sự thật, ta có tìm thấy đại ca thì cũng thế thôi chứ có nghĩa lý gì dâu, mà ta còn mang mối tương tư sầu não nặng thêm! Sở dĩ Dương đại ca lánh mặt ta cũng chỉ muốn cho ta khỏi đau khổ. Huống chi chàng chỉ là hoa trong gương, trăng trong nước, rốt cuộc vẫn hoàn không. Nhưng không hiểu sao ta vẫn cứ nhớ, vẫn muốn tìm chàng cho được.

Nàng vừa đi vừa nghĩ, mặc con lừa xám đi đâu thì đi. Con vật ấy ngao du khắp núi Thiếu Thất, rồi đi thẳng về phía Tây, không thấy hình bóng của Dương Qua mà nàng vẫn nghĩ tới luôn : “Sự thật, ta có tìm thấy đại ca thì cũng chỉ thế thôi chớ có nghĩa lý gì đâu, mà ta còn mang mối tương tư sầu não nặng thêm ! Sở dĩ Dương đại ca lánh mặt ta cũng chỉ muốn cho ta khỏi đau khổ. Vốn biết chàng chỉ là hoa trong gương, trăng dưới nước, rốt cuộc không vẫn hoàn không. Nhưng, không hiểu tại sao ta vẫn cứ nhớ, vẫn muốn tìm người cho được !”

Nàng vừa đi vừa nghĩ, mặc cho con lừa xám đi đâu thì đi. Con vật ấy ngao du khắp núi Thiếu Thất, rồi đi thẳng về phía tây, không bao lâu nàng vào địa giới Trung Sơn. Nàng quay lại nhìn ngọn núi Đông của núi Thiếu Thất, thấy nó cao chót vót, suốt dọc đường phong cảnh rất đẹp. Nàng ngao du mấy ngày liền, hôm đó đi tới Tam Hưu đại, nàng liền nghĩ : “Tại sao nơi đây lại gọi là Tam Hưu ? Không biết Tam Hưu đây chỉ Tam Hưu nào, vì đời người ta có hàng vạn Hưu chớ có riêng gì Tam Hưu đâu ?”

Nghĩ tới đó nàng lại quay về phía Bắc, vượt qua một sơn lãnh, liền thấy hơn ba năm cây Cổ Bách mọc rất cao và quay tròn như bông hoa.

Nàng đang đứng ngắm bỗng nghe chỗ eo núi có tiếng đờn văng vẳng, nàng ngạc nhiên vô cùng và nghĩ :

– Nơi hoang vu nầy, sao lại có các ẩn sĩ hưởng sự an nhàn như thế ?

Nàng được mẹ giáo dục từ hồi còn nhỏ nên cầm, kỳ, thi, họa đều hiểu biết. Như sẵn khiếu thông minh, thỉng thoảng nàng dượt cầm và thơ với Hoàng Dược Sư, phát biểu một vài ý kiến rất độc đáo khiến ông ngoại phải khen ngợi luôn. Lúc nầy, nàng nghe tiếng đờn, lòng hiếu kỳ thúc đẩy, liền xuống lừa từ từ đi thẳng về phía có tiếng đờn vọng ra.

Nàng đi được vài chục trượng, nghe tiếng đờn xen lẫn những tiếng hót của loài chim. Lúc đầu nàng không chú ý cho lắm, tới khi lắng nghe nàng mới hay tiếng đờn và tiếng chim hót đang đối đáp nhau. Nàng vội ẩn sau cây hoa đưa mắt nhìn về phía người gảy đờn, thấy dưới ba cây thông lớn có một người đàn ông mặc áo trắng ngồi xoay lưng về phía mình, để cây Tiêu Vĩ cầm trên đùi và đang độc tấu. Trên những cành cây xung quanh người đó có rất nhiều chim. Hoàng anh, đỗ quyên, sáo, nhồng, sơn ca v.v.. đang vừ hỏi vừa đáp với đàn, một đôi khi chúng còn đồng thanh hoạ xướng nữa.

Quách Tường nghĩ thầm :

– Trong những điệu đàn mà ông ngoại ta đã nói, có một bản “Không Sơn Điểu Ngũ” thất truyền từ lâu, chẳng lẽ lại là bài nầy chăng ?

Nàng nghe một lúc, thấy tiếng đàn càng phút càng kêu, và càng kêu bao nhiêu càng khiến người nghe say sưa bấy nhiêu. Những đàn chim trên cây đều lẳng lặng nghe đàn, bỗng có tiếng cánh vỗ lên bốn bề. Thì ra lại có vô số chim khác ở các nơi bay tụ tập đậu trên các cành cây quanh đó. Cũng có một vài con bay lượn trên không, lông ngũ sắc của chúng loè loẹt, thật là một kỳ quan. Tiếng đờn tuy bình hòa trung chính như người đờn nghiễm nhiên là một vương giả vậy.

Quách Tường kinh hãi vô cùng và nghĩ rằng :

– Người này dùng tiếng đờn mà tụ tập được bấy nhiêu chim, chẳng lẽ bàn đờn này là Bách Điêu kiều phụng sao ?

Dùng âm nhạc mà cảm ứng được cầm thú, không lấy gì làm lạ cho lắm. Cổ nhân có nói : “Đối ngưu đàn cầm” nghĩa là con bò không biết nghe đàn. Sự thật, người lúc bấy giờ biết dùng âm nhạc làm cho bò cái tăng thêm chất sữa và dùng làn sóng của tiếng động để dụ cá vào lưới, thậm chí còn dùng âm nhạc làm cho các thực vật mọc mầm thêm mau lẹ. Những việc hô cầm huấn thú, thúc rắn khiêu vũ đời nào cũng có.

Nhắc lại Quách Tường, từ khi nghe tiếng đàn, càng nghe càng kỳ lạ và nghĩ thầm :

– Chỉ tiếc ông ngoại ta không có ở đây, nếu có thì cây sáo ngọc vô song của ông ngoại ta họa ở tiếng đờn của người nầy thì thật là tuyệt.

Người nọ gảy tới khúc sau cùng, tiếng đàn càng thấp, những chim đậu trên cây bỗng nhiên bay lên lượn múa. Đôt nhiên nghe một tiếng “keng” tiếng đàn im bặt, còn bầy chim bay lượn trên không dần dần cũng giải tán sau khi tiếng đàn dứt. Người nọ lại gảy mấy tiếng ngắn rồi khẽ ngâm : “Bạch nhật hà đoản đoản, Bách niên khổ dị mãn, thương cùng hiệu mang mang. Vạn kiếp thái cực trường. Ma cô thi lưỡng bân, Nhất Bán Dĩ thành xương, Thiên công kiến ngọc nữ, Đại tiếu ức thiên trường. Ngô dục lãm lục long. Hồi xa vãng Phù Tang, Bắc đẩu chước mỹ tưu. Khuyến long cát nhất thương, Phú quí phi sở nguyện. Vi nhân trú nhan quan”.

(Ban ngày sao ngắn vậy, trăm năm sao chóng hết, trời đất thật bao la, vạn kiếp quá dài như thái cực. Ma cô (trong bát tiên) buông xuôi hai đuôi sam, một nữa đà bạc như sương tuyết, ông trời gặp ngọc nữ cười hàng nghìn ức phen, ta định ôm sát con rồng, quay xe đi Phù Tang, mua rượu ngon ở Bắc đẩu, khuyên mời rồng uống một ly. Phú quý ta không mong, quanh năm chỉ làm đẹp cho người thôi).

Tiếng ngâm của người nọ rất bi đát, hình như chàng cảm thấy đời người lo buồn và hoạn nạn không sao dứt được Quánh Tường đang ngẫng người ra nghe bỗng nước mắt nhỏ xuống hai má. Người nọ ngâm xong ngẫng mặt lên trời và nói :

– Ôm trường kiếm, trợn ngược lông mày tại sao nước xanh và đá trắng mà rời rạc nhau như thế ! Trên đời nếu không có bạn tri âm, dù sống lâu tới ngàn tuổi cũng vô ích !

Hồi thứ 2
Bạch Y Thư Sinh

Ðoạn người nọ rút thanh trường kiếm cất dấu dưới cây đàn.

Quách Tường nghĩ thầm:

– Không ngờ người này văn võ toàn tài, ta xem thử kiếm pháp của y ra sao?

Vừa khi ấy người nọ ung dung đi tới miềng đất trống ở trước mấy cây thông cổ, dùng mũi kiếm vẽ xuống đất mấy vạch. Quách Tường ngạc nhiên vô cùng, nghĩ thầm:

– Trên thế gian này làm gì có kiếm pháp lạ lùng thế ấy?

Chẳng lẽ dùng mũi kiếm vẽ loạn xạ trên mặt đất là có thể khắc địch, thắng thù được chăng? Người này quái dị quá, ta không thể dùng lẻ thường mà suy đoán chàng ta.

Nàng vừa nghĩ vừa đếm thầm những nét kiếm của chàng vẽ trên mặt đất, chỉ thấy chàng nọ vạch ngang một nét, rồi vạch rộng mười chín nét nữa. Kiếm thế vẫn không biến đổi, cứ từ trái vạch sang phải, mỗi một thế cách nhau một thước.

Quách Tường liếc mắt nhìn xuống những nét vẽ suýt cười thành tiếng. Thì ra đó có phải là kiếm pháp quái dị gì đâu! Chàng ta dùng mũi kiếm vẽ một bàn cờ lớn rồi vẽ một cái vòng tròn phía bên góc trái và phía dưới góc phải kẻ vạch một chữ X. Lúc này Quách Tường đã biết bàn cờ này là bàn cờ vây. Tất nhiên nàng cũng muốn biết người nọ bày cờ ra sao, những khuyên tròn là quân trắng, những chữ X là quân đen.

Ðoạn chàng ta khuyên một khuyên nữa ở trên góc trái, cách chỗ khuyên lúc nãy chừng ba ô và cách khuyên đó chừng hai ô lại vạch một chữ X.

Khi chàng ta đặt đến quân thứ mười hai thì tỏ vẻ chần chừ, không biết bỏ quân lấy thế cờ hay tranh lấy nơi biên góc, chỉ thấy cầm mũi kiếm xuống đất, cúi đầu ngẫm nghĩ. Quách Tường nói thầm:

– Thì ra người này cũng thích tịch mịch như ta, ở trong núi sâu đánh đàn, lấy chim chóc làm tri âm, đánh cờ mà không có đối thủ, đành phải đấu với mình.

Người nọ nghĩ ngợi một hồi, liền giở những thế cờ kỳ lạ từ Nam chí Bắc rồi tranh cướp từng bước một cho tới phúc địa ở Trung Nguyên, nhưng vì lúc bố cục quân cờ trắng kém mất một nước nên trước sau vẫn bị lép về.

Khi đánh tới nước thứ mười ba thì thế cờ quân trắng nguy hiểm vô cùng nhưng chàng vẫn cố hết sức nghĩ cách chống đỡ. Quách Tường thấy vậy không nhịn được buột miệng la lớn:

– Sao không bỏ Trung Nguyên phản công lấy Tây Vực có hơn không?

Người nọ rùng mình rồi thấy ở phía Tây bên bàn cờ có một chỗ trống rộng lớn. Nếu nhân lúc đánh cướp này mà đặt luôn hai quân cờ xuống trước, thì dù có bỏ chỗ giữa vẫn không phân thắng bại. Người nọ thấy Quách Tường lên tiếng nhắc nhở như vậy, liền ngẩng mặt lên trời, cả cười rồi luôn miệng nói:

– Hay! Hay!

Tiếp theo người nọ đi thêm mấy nước, đoạn đột nhiên nghĩ ra có người đứng bên cạnh vội vứt trường kiếm xuống đất và hỏi:

– Vị cao nhân nào vừa chỉ nước cờ cao đó thế? Tại hạ cảm ơn vô cùng.

Nói xong chàng ta quay về phía Quách Tường ẩn núp, cúi đầu vái.

Quách Tường thấy người nọ mặc áo dài, mắt sâu, má hõm, trạc độ ba mươi tuổi. Xưa nay nàng vẫn quen tính phóng túng, không hề hiềm nghi nam nữ gì cả, nên từ trong bụi cây lướt ra, vừa cười vừa nói:

– Vừa rồi nghe tiên sinh tấu đàn, khiến Bách cầm trong núi cũng phải đến quây quần nơi đây, tiểu muội thật cảm phục vô cùng. Sau thấy tiên sinh vẽ bàn cờ trên mặt đất, cầm kiếm đi nước cờ, tiểu muội thấy không sao nhịn được mới lên tiếng xen vào. Mong tiên sinh thứ lỗi cho!.

Người nọ thấy Quách Tường là một thiếu nữ ngạc nhiên vô cùng. Về sau chàng nhận thấy Quách Tường là người biết thưởng thức ngón đàn của mình, lại càng cao hứng tiếp:

– Chắc là cô nương rất thông hiểu cầm lý, vậy chẳng hay cô nương vui lòng cho tiểu sinh nghe vài bản đàn không ?

Quách Tường vừa cười vừa đáp:

– Tuy mẹ tôi có dạy tôi gảy đàn thật, nhưng so với tài thần kỳ của tiên sinh thì thật kém xa. Nhưng tôi đã được nghe điệu khúc của tiên sinh rồi, nên bây giờ không gảy một bản cho tiên sinh nghe lại thì thật không phải! Vậy tôi xin gảy một khúc vậy, nhưng xin tiên sinh chớ cười nhé!

Người nọ đáp:

– Ðâu dám!

Chàng vội hai tay trao đàn tới trước mặt Quách Tường. Quách Tường thấy cây đàn rất cổ có nhiều chỗ nứt nẻ, càng tỏ ra thâm niên. Khi nàng giơ tay ra đón, thấy cây đàn đó nhẹ lắm. Nàng liền lên dây đàn và gảy luôn một khúc cho chàng nọ nghe. Thủ pháp của Quách Tường tất nhiên không có gì là xuất kỳ cả, nhưng người nọ vừa nghe, mặt vừa tỏ sắc kinh hãi, vừa mừng rỡ. Chàng biết bản đàn của Quách Tường gảy đây xuất xứ từ kinh thi, nghĩa của bài thi nói: Một đâng trượng phu đang ngao du ở trong núi, tại một dòng suối, một mình đi lại, tuy vẻ mặt tiều tuỵ và tịch mịch không có bạn, nhưng chí hướng của người đó rất cao khiết, không bao giờ cải biến.

Người nọ thấy Quách Tường gảy đúng tâm trạng của mình, nên cảm khái vô cùng. Tới khi Quách Tường gảy xong, mà người nọ vẫn còn thấy ngây ngất đứng ngẩn người.

Quách Tường đặt nhẹ cây đàn xuống, quay mình bước ra khỏi bụi cây thông, vừa lớn tiếng ca bài hát vừa rồi, vừa vẫy con lừa xám tới. Nàng nhảy lên lừa thủng thẳng đi vào trong rừng rậm.

Hai ngày sau, nàng đang đi. Bỗng sực nhớ tới việc Côn Luân Tam Thánh hẹn ngày đấu với Thiếu Lâm cao tăng, liền bấm đốt ngón tay tính toán, mới hay từ ngày nàng đại náo Thiếu Lâm Tự đến nay đã được mười ngày.

Sáng hôm sau, mới sáng tinh sương, nàng thức dậy, cúi đầu ngẫm nghĩ nhưng vẫn không tìm ra cách để lẻn vào trong chùa để xem một cuộc so tài hiếm có ấy.

Bỗng nàng chợt nghĩ: “Ta tuy là con gái của mẹ ta nhưng sao ta không thông minh bằng mẹ ta? Bất cứ việc gì mẹ ta chỉ cau mày một cái là nghĩ ra được mười mấy diệu kế ngay. Còn sao ta lại dốt thế, nghĩ mãi mà không ra một kế nào. Thôi được bây giờ ta hãy đến chùa ngoài xem rồi sẽ liệu sau. Biết đâu các tăng nhân bận đối phó ngoại địch, chẳng quan tâm ngăn cản ta vào cũng nên”.

Sáng hôm đó nàng ăn qua loa chút lương khô cho đỡ đói rồi quay trở lại chùa Thiếu Lâm. Nàng đi tới chỗ cách chùa chừng mười dặm thì bỗng nghe tiếng vó ngựa, ngước mắt nhìn thấy có ba người ở đường núi bên phía trái cưỡi ngựa đi tới.

Ba con ngựa đó, một xanh, một vàng một trắng đều to lớn khoẻ mạnh, bốn chân rất dài, bước đi nhanh nhẹn. Chỉ thoáng cái lướt qua mặt Quách Tường thẳng lên chùa. Ba người ấy đều tuổi năm mươi, mặc áo vai màu xanh lưng ngựa còn treo một cái túi đựng khí giới.

Quách Tường nghĩ:

– Ba người này đều là những tay võ nghệ cao cường, nên mới dám đem khí giới lên Thiếu Lâm như vậy, có lẽ là Côn Luân Tam Thánh cũng nên. Nếu ta chậm một bước có lẽ phải lỡ mất dịp may không?

Nghĩ đoạn nàng bàn vỗ vào mông con lừa một cái, con vật đó nhửng lên, hí một tiếng thật dài, rồi phi bốn vó đuổi theo ba ông già nọ. Con lừa xám đó tuy thân hình rất nhỏ nhưng chạy rất nhanh. Chỉ trong nháy mắt đã đuổi theo tới phía sau ba người nọ. Lúc này Quách Tường mới thấy rõ ông già cưỡi ngựa xanh thân hình bé nhỏ, ông già cưỡi lừa xám rất gầy và rất cao. Cả ba người không ai dùng yên cả.

Nàng nhìn kỹ ba con ngựa, thấy con nào con nấy lông bờm rất dài và lông chân phết dưới đất, khác hằn những con ngựa thường ở miền Trung Thổ.

Ba con ngựa leo núi, vượt lãnh như đi ở đất bằng vậy. Ba ông già thấy Quách Tường phóng lừa đuổi theo, liền quất roi cho ba con ngựa phóng nhanh nước đại, lát sau con lừa xám của Quách Tường đã bị ba con ngựa kia bỏ rất xa, nàng liền quất roi liên tiếp vào con lừa nhưng không sao theo kịp được.

Hai ông già cưỡi ngựa xanh và ngựa vàng quay đầu lại nhìn, thấy Quách Tường là một thiếu nữ trẻ tuổi mà một thân một mình dám lên núi này, kể cũng lạ.

Quách Tường thúc lừa theo dăm ba dặm nữa thì đã mất hút hình bóng của ba ông già họ. Con lừa xám của nàng đã bắt đầu thấm mệt, hơi thở hổn hển, có vẻ uể oải. Quách Tường thét lớn:

– Con súc sinh này thật vô dụng! Ngày thường thì hay giở trò giở quẻ, không bảo chạy nhanh thì cứ chạy nhanh, bây giờ cô nương muốn mày chạy nhanh thì lại không chạy nhanh được. Thật đáng ghét!

Nàng thấy thúc mãi cũng vô dụng liền nhảy xuống khỏi mình lừa đi vào trong một cái đình đã nghỉ ngơi, để mặc con lừa xám uống nước suối cạnh đường.

Lát sau nàng nghe tiếng vó ngựa vọng tới. Thì ra ba ông già phi ngựa lúc nãy đang quay lại, nàng ngạc nhiên vô cùng, liền nghĩ:

– Ba người đó quay trở lại làm gì? Không lẽ chẳng đủ cao tăng của Thiếu Lâm Tự đấu chăng.

Nàng còn đang nghĩ ngợi thì ba ông già vừa phi ngựa tới, rồi cùng nhảy xuống đất, để cho ngựa nghỉ ngơi. Nàng định thần nhìn mặt ba người nọ.

Người lùn mặt đỏ như chu sa, mũi đỏ như lửa, mồm tủm tỉm cười trông lão thật đáng mến. Còn ông già cao như cây tre thì măt xám xanh hình như suốt năm không ra ánh nắng bao giờ. Thân hình và mặt mũi của ông này so với ông già lùn tương phản hẳn. Còn ông già thứ ba, dung mạo bình thường, không có gì lạ, chỉ phải sắc mặt vàng khè, tựa như đang ốm nặng vậy. Long hiếu kỳ thúc đẩy, Quách Tường lên tiền hỏi:

– Ba bị lão tiên sinh đã tới Thiếu Lâm Tự chưa? Tại sao ba vị lên rồi trở xuống,

Ông già áo xanh liếc nàng một cái, hình như có vẻ trách móc sao nàng dám hỏi bậy bạ, xen vào chuyện chẳng ăn thua gì với nàng?.

Ông già mũi đỏ mặt hồng cười đáp:

– Tại sao cô nương biết chúng ta lên Thiếu Lâm?

Quách Tường đáp:

– Con đường này là độc đạo, người đã theo đường này Nếu không lên Thiếu Lâm thì đi đâu chứ?

Ông già mặt hồng đáp:

– Cô nương nói rất đúng, còn cô nương đi đâu vậy?

Quách Tường đáp:

– Ba vị lên Thiếu Lâm Tự, tôi cũng lên đó.

Ông già mặt xanh chen vào:

– Xưa nay Thiếu Lâm Tự cấm đàn bà con gái lên đó và cũng cầm người ngoài mang khí giới vào chùa.

Giọng ông già rất ngạo mạn, thân hình rất cao nên lúc nói chuyện mắt của ông nhìn qua đầu Quách Tường, chớ không nhìn vào mặt.

Quách Tường có vẻ tức giận, tiếp:

– Thế sao các ông lại cũng mang khí giới? Cái túi đeo trên lưng ngựa kia, chẳng phải khí giới là gì?

Ông già mặt xanh lạnh lùng đáp:

– Cô khác, chúng tôi khác, so sánh sao được.

Quách Tường cười nhạt một tiếng rồi tiếp:

– Ba người có gì khác nhau đâu? Chẳng nhẽ lại ngang tàng hơn tôi hay sao? Chẳng hay Côn Luân Tam Thánh đấu với bọn hòa thượng trên chùa Thiếu Lâm chưa? Ai thắng, ai bại?

Nghe nói đến bồn chữ Côn Luân Tam Thánh ai nấy cũng đều biến sắc. Ông già mặt đỏ lại hỏi:

– Cô bé kia, sao cô biết chuyện Côn Luân Tam Thánh?

Quách Tường đáp:

– Sao tôi lại không biết!

Ông già mặt xanh đột nhiên tiến một bước quát lớn:

– Tên họ của mi là gì? Môn hạ ai? Lên Thiếu Lâm Tự làm gì?

Quách Tường trợn mắt ngược mắt lên, đáp:

– Không việc gì đến ông!

Ông già mặt xanh lại càng tức giận thêm, vì từ khi ra đời tới giờ, mấy chục năm được mọi người kính trọng, không ai dám chống chọi với ông nửa lời, nên giơ tay định tát nàng một cái bạt tai. Nhưng y sực nghĩ lại:

– Chẳng lẽ ta là người lớn mà đi bắt nạt trẻ thơ như vậy thật không đẹp chút nào, vả lại thân phận ta cao quí như thế, khi nào lại gây gổ với một đứa trẻ nhỏ như vậy ?

Nghĩ đoạn y lướt tới giơ tay định rút thanh kiếm đeo lưng Quách Tường ra. Ðộng tác của y nhanh vô cùng.

Quách Tường chỉ thấy một luồng gió lạnh thoáng qua và bóng người thấp thoáng một cái, thanh kiếm của nàng đã bị người lấy mất.

Ðột nhiên không kịp đề phòng, bị người ta cướp mất vũ khí, nàng xấu hổ vì từ khi bước chân vào giang hồ chưa bao giờ bị thất thế như vậy. Kể võ công và lịch duyệt của Quách Tường như thế mà bước chân vào giang hồ kể cũng táo bạo lắm. Nhưng người trong võ lâm đều biết nàng là con gái Quách Tỉnh, ngay trong giới Bàng môn tả đạo các tay cao thủ cũng biết tiếng nàng. Hơn nữa người ta cũng nể mặt Quách Tỉnh và Dương Qua.

Quách Tường rất đẹp, tính hào phóng và hiếu khách, không bao giờ phân biệt giai cấp với bất cứ một ai. Thỉnh thoảng nàng còn mua rượu mời cả bọn côn đồ hay những kẻ buôn bán rong nhậu nhẹt. Vì thế nàng bước chân vào giang hồ, tuy gặp rất nhiều phong ba hiểm ác mà đều thoát khỏi và từ xưa tới nay nàng cũng chưa hề bị thất thế bao giờ.

Lúc này ông già mặt xanh bỗng nhiên cướp mất thanh bảo kiếm của nàng, khiến nàng cuống lên, không biết xử lý ra sao? Nếu tiến lên giật lại thì nàng tin rằng tài nghệ võ công của mình còn kém xa người ấy, còn chịu thua như vậy thì nàng xốn xang lắm.

Ông già mặt xanh dùng ngón tay giữa và ngón tay trỏ bên trái, kẹp chặt cái bao kiếm lanh lùng nói:

– Thanh kiếm của mi, lão tạm giữ. Mi dám vô lễ với anh em ta, có lẽ tại cha mẹ và sư trưởng ngươi thiếu dạy dỗ mà nên! Mi về bảo cha mẹ hay sư trưởng mi tới hỏi ta để lấy lại thanh kiếm này; rồi ta sẽ dạy cho họ một bài học.

Những lời đó khiến Quách Tường tức giận đến đỏ mặt.

Ông già đã lớn tiếng mắng nhiếc nàng là đứa con không có gia giáo.

Nàng nghĩ thầm:

– Ðược lắm, người chửi ta mà còn chửi ông bà cha mẹ ta nữa! Người có bản lãnh thông thiên hay sao mà làm phách đến thế?

Nàng định thần giây lát, cố nén long tức giận , rồi hỏi:

– Ông tên là gì?

Ông già mặt xanh dùng giọng mũi hừ một tiếng, rồi đáp:

– Ai bảo mi hỏi tên họ ta một cách vô phép như vậy? Mi nên hỏi như thế này :

– Cháu không dám, xin thỉnh giáo lão tiền bối quí tính đại danh là gì?

Quách Tường cả giận vội trả lời:

– Tôi cứ thích hỏi ông tên là gì đấy, ông nói hay không tùy ông, tôi cũng chẳng cần! Thanh kiếm đó có đáng là bao, ông lớn tuổi rồi mà không biết tự trọng, lấy trộm và cướp của người ta. Tôi cũng chẳng cần đòi lại làm gì nữa.

Nói xong nàng quay mình định đi khỏi thạch đình. Bỗng nàng thấy một bóng đỏ thấp thoáng, thì ra ông già mặt đỏ đã nhảy ra phía trước ngăn lại, mắt lim dim, mồm tủm tỉm cười nói:

– Con gái gì mà nóng tính thế? Sau này về nhà chồng làm dâu người ta, khi nào mẹ chồng để cho cô nóng nảy thế đâu. Ðể lão nói cho cô hay, chúng ta đây là ba anh em sư huynh đệ, mấy ngày hôm nay từ Tây Vực đi hàng vạn dặm đường tới Trung Nguyên này.

Quách Tường bĩu môi, ngắt lời:

– Ông không nói tôi cũng biết, trong Thần Châu Trung Nguyên chúng tôi xưa nay không ai nghe danh hiệu các ông.

Ba ông già đưa mắt nhìn nhau, ông già mặt đỏ tiếp:

– Xin hỏi cô nương, tôn sư là vị nào thế?

Quách Tường ở chùa Thiếu Lâm đã không chịu nói rõ tên cha mẹ ra, lúc này vì quá tức giận nên nàng liền đáp:

– Cha tôi họ Quách tên Tỉnh. Mẹ tôi họ Hoàng tên Dung, tôi không có sư phụ, võ nghệ của tôi là do cha mẹ tôi dạy qua loa đó thôi!

Ba ông già đưa mắt nhìn nhau, ông già mặt xanh lẩm bẩm:

– Quách Tỉnh? Hoàng Dung? Họ thuộc môn nào, phái nào thế! Là đệ tử của ai?

Quách Tường nghe ông già mặt xanh nói như vậy, càng tức thêm, liền nghĩ:

– Cha mẹ ta tiếng tăm lừng lẫy, chưa nói đến người trong võ lâm, ngay đến bá tánh tầm thường cũng biết tiếng Quách đại hiệp đã vì nghĩa thủ thành Tương Dương.

Nhưng ba ông già nọ thấy không có vẻ gì là giả dối cả, nàng động lòng hiểu ngay:

– Ba người này là Côn Luân Tam Thánh ở tận Tây Vực, võ nghệ của họ cao siêu như vậy mà xưa nay không hề nghe cha mẹ ta nói tới. Như vậy, họ không biết cha mẹ mình cũng không có gì lạ. Chắc họ ẩn nấp trong thâm sơn cùng cốc để tập luyện võ nghệ, nên không biết một tí gì về bên ngoài.

Nghĩ đến đây nàng liền hết giận mới trả lời:

– Tôi họ Quách tên Tường. Còn ba vị quí danh tên là gì?

Ông già mặt đỏ cười hì hì đáp:

– Tốt lắm, con bé mới đây dữ quá, mà đã hiền ngay. Vậy mới phải đạo tôn kính bề trên.

Ông vừa nói vừa chỉ ông già mặc áo vàng tiếp:

_Ðây là Ðại sư ca của chúng tôi họ Phan, tên Thiên Canh, tôi là nhị sư huynh họ Phương tên là Thiên Lao

Ðoạn ông chỉ ông già mặt xanh nói:

– Vị này là tam sư đệ, họ Vệ, tên là Thiên Vọng. Ba anh em chúng tôi lấy chữ Thiên làm đệm.

Quách Tường vừa nghe vừa lẩm nhẩm, rồi nói tiếp:

– Chẳng hay ba vị còn lên Thiếu Lâm nứa không? Và ba vị đã đấu với bọn hòa thượng chưa? Võ nghệ bên nào mạnh hơn?

Ông già mặt xanh nghe nàng hỏi thế liền buột miệng kêu lên “ủa” một tiếng rồi lớn tiếng quát:

– Sao chuyện gì ngươi cũng biết hết vậy hử? Chuyện thí võ của chúng ta với các hòa thượng ở Thiếu Lâm Tự trên thiên hạ này chưa ai biết tới, mà mi đã biết rồi, tại sao? Nói mau?

Vừa nói ông già mặt xanh vừa tiến tới trước mặt Quách Tường, vẻ mặt giận dữ nhìn thẳng vào mặt nàng.

Thấy thế Quách Tường liền nghĩ thầm:

– Có khi nào ta chịu cho người uy hiếp dễ dàng. Sự thật ta nói cho mi biết cũng không sao, nhưng người có thái độ hung ác như thế mãi thì ta không thèm nói cho mi biết đâu.

Ðoạn nàng trợn mắt nhìn ông già mặt xanh lạnh lùng đáp:

– Cái tên ông xấu xí lắm, sao ông không đặt là Thiên Ác có hơn không?

Vệ Thiên Vọng cả giận hỏi:

– Ngươi nói gì hả?

Quách Tường đáp:

– Người hung ác như ông, quả thật tôi chưa từng trông thấy! Ðã lấy trộm và cướp của tôi mà lại còn hung hãn như vậy không phải là Thiên Ác trên trời xuống thế là gì?

Thiên Vọng kêu mấy tiếng “Û, ồ” tựa như tiếng thú rống. Ngực y đột nhiên phồng căng lên to gấp đôi lúc bình thường, đầu tóc lẫn lông mày dường như dựng đứng.

Ông già mặt đó, tức Phương Thiên Lao vội gọi:

– Tam đệ chớ nổi nóng!

Kế ông già mặt đỏ vội nắm tay Quách Tường giựt về phía sau hơn hai trượng, còn ông thì đứng chắn giữa.

Quách Tường thấy Vệ Thiên Vọng nổi giận, đoán thầm :

– Nếu y ra tay, thế khí mạnh không thể tưởng tượng. Nàng kinh hãi vô cùng.

Liền đó Vệ Thiên Vọng dùng tay phải nắm cán vừa rút đoản kiếm khỏi bao, còn tay trái đưa hai ngón tay kẹp chặt lấy lưỡi kiếm, dùng sức bẻ nghe “cắc”, thanh kiếm gãy làm đôi. Rồi y cắm thanh kiếm đó vào trong bao rồi nói:

– Ai thèm lấy thanh đoản kiếm vô dụng này làm gì?

Quách Tường thấy sức của hai ngón tay ông già đó mạnh đến thế cũng sờn lòng khiếp sợ và nghĩ thầm:

– Ngón tay của y tuy không bằng môn Ðàn chỉ Thần thông của ông ngoại ta nhưng sức mạnh cũng hiếm thấy! Ta mà bị đâm một cái, Nếu không chết cũng bị thương rất nặng.

Vệ Thiên Vọng thấy Quách Tường biến sắc, trong lòng khoái trí, cười ha hả một hồi. Ðột nhiên nghe “cạch” một cái, đỉnh thạch đình phát nứt và cả một vật gì rơi khiến mọi người thất kinh. Khi định thần nhìn kỹ xem vật gì từ trên nóc mới rơi, thì càng kinh dị thêm vì là một vị đại hán trạc trung niên, mặc áo trắng hai tay ôm đàn, đang nằm dưới đất ngủ say.

– Kìa sao tiên sinh lại ở đây?

Thì ra người đó là thư sinh gảy đàn mà Quách Tường đã mấy hôm trước gặp trong rừng thông.

Mắt vẫn nhắm nghiền, mồm lẩm bẩm như ngâm nga, đột nhiên nghe Quách Tường gọi người ấy bèn mở mắt ra ngồi dậy, lên tiếng hỏi:

– Cô nương ở đây à? Tiểu sinh đi tìm khắp nơi mà không thấy, không ngờ lại gặp nơi này.

Quách Tường đáp:

– Tiên sinh kiếm tôi có việc gì chăng?

Người nọ đáp:

– Vì tôi quên thỉnh giáo quí tánh đại danh của cô nương.

Quách Tường lại nói:

– Tiên sinh hà tất dùng đến câu quí tánh đại danh, nó có vẻ văn chương quá tôi chẳng thích chút nào.

Người đó ngẩn người giây lát rồi vừa cười vừa nói:

– Ừ phải đấy! Càng giở trò văn vẻ hão càng làm bộ làm tịch bao nhiêu lại càng không có thực tài thực học bấy nhiêu. Những hạng người đó chỉ lừa dối được những ông già nhà quê được thôi!

Nói xong chàng liếc mắt nhìn Thiên Vọng rồi cười nhạt mấy tiếng.

Quách Tường cả mừng nghĩ thầm:

– Không ngờ người này hiểu biết nghĩa câu nói của mình nhanh chóng như vậy, còn lên tiếng giúp đở ta nữa.

Vệ Thiên Vọng bị chàng thư sinh nọ mỉa mai, bèn trợn mắt, sắc mặt càng xám xanh hơn trước, cất tiếng hỏi:

– Ngài là ai?

Thư sinh nọ không thèm trả lời, cứ mải nói chuyện với Quách Tường, cất tiếng hỏi:

– Cô nương tên gì nhỉ?

Quách Tường đáp:

Tôi họ Quách tên Tường.

Người nọ vỗ tay la lớn:

– Ủa tôi quả thật có mắt mà không thấy Thái Sơn. Thế ra cô nương đã lừng danh bốn bể. Lệnh tôn Quách Tỉnh đại hiệp, lệnh đường Hoàng Dung, trừ mấy tên vô ý, vô thức không biết đến thôi, còn trên giang hồ ai ai không biết lệnh tôn lệnh đường. Hai vị ấy văn vỏ song toàn: đao thương kiếm kích quyền chưởng khí công, cầm kỳ thi họa thi ca từ phú không môn nào không biết, thật là thiên hạ vô song. Có ngờ đâu mấy tên ngông cuồng không biết đến danh tiếng hai vị ấy.

Quách Tường khoái chí vô cùng nghĩ :

– Té ra người đã núp trên đình nghe thấy ta đối đáp với ba người kia rồi, chứ sự thực người có biết cha mẹ ta là người như thế nào đâu! Ta thứ hai mà gọi ta là Ðại cô nương, còn nói cha ta biết thi họa ca cầm nữa, thật là buồn cười quá!

Nghĩ tới đó, nàng liền lên tiếng hỏi:

– Thế tiên sinh tên gì?

Người nọ đáp:

– Tôi tên Hà Túc Ðạo.

Quách Tường cười vừa giải nghĩa:

– Hà Túc Ðạo là “không đáng nói tới” Sao tiên sinh lại dùng cái tên khiêm tốn như vậy?

Hà Túc Ðạo đáp:

– Vì tôi không muốn bắt chước những tên tự cao tự đại, ví mình như thiên, như địa, nói càn nói ẩu khiến người ta buồn nôn buồn mửa.

Hà Túc Ðạo lên tiếng mỉa mai ba anh em Vệ Thiên Vọng.

Thoạt tiên ba người đó thấy người đó đè vỡ được đỉnh đình mà xuống, tất không phải là tay tầm thường. Nhưng ban đầu còn nhìn được để xem lai lịch của bạch y quái khách đó ra sao, dần dần càng nghe càng thấy lời lẽ của quái khách này mỉa mai quả là không sao chịu được.

Vệ Thiên Vọng bàn đưa tay trái nhắm má Hà Túc Ðạo giáng một cái tát.

Hà Túc Ðạo cúi đầu chui qua cánh tay của y để né tránh.

Thiên Vọng cảm thấy cổ tay trái hơi tê, đồng thời thanh kiếm của mình cũng bị đối phương cướp mất. Khi Thiên Vọng cướp thanh đoản kiếm của Quách Tường thì thân pháp nhanh vô cùng, khiến mọi người không sao thấy được. Trái lại, khi Hà Túc Ðạo cướp thanh kiếm của Thiên Vọng thì thân pháp và thủ pháp không có gì là quái dị, nên Thiên Vọng càng kinh hãi thêm.

Thiên Vọng tiến lên một bước năm ngón tay như năm cái móc sắt nhắm vai Hà Túc Ðạo chộp tới liền. Thế là Thiên Vọng chụp hụt.

Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao đột nhiên nhảy ra ngoài đình.

Lúc ấy Vệ Thiên Vọng đã tấn công bảy tám thế rồi, nhưng Hà Túc Ðạo vẫn tránh né được, đến vạt áo chàng cũng không bị đụng tới.

Tay chàng cầm thanh đoản kiếm mà không thèm sử dụng tới mặc cho kẻ thù tấn công như vũ bão, chàng chỉ né mình trốn tránh.

Quách Tường còn trẻ, võ công chưa cao nhưng kiến thức lại rất cao vì từ nhỏ tới lớn nàng luôn được thấy những tay võ công cao thủ hạng nhất đương thời. Nay nàng thấy Hà Túc Ðạo thân pháp khéo léo vô cùng, võ công cao siêu khác hẳn các phái có tên tuổi trong Trung Nguyên, nàng càng xem càng thấy quái lạ và thích thú.

Vệ Thiên Vọng tấn công liền hai mươi hiệp cũng không sao khiến đối phương ra tay tấn công lại, tức giận vô cùng,”hừ” một tiếng, rồi biến đổi quyền pháp, quyền lực rất nặng và mạnh.

Quách Tường đứng trong đình mà cũng cảm thấy quyền phong đàn áp hơi gió tới người, đẩy nàng lùi dần ra khỏi đình mà không hay.

Lúc này, Hà Túc Ðạo không dám né tránh như trước nữa, nhưng cũng không tấn công lại, chàng cắm đoản kiếm vào lưng, hai chân vẫn đứng yên như tảng đá, chàng quát lớn:

– Ngươi biết sử dụng ngạnh công, chẳng lẽ ta không biết sử dụng hay sao?

Nói xong chờ cho song chưởng của Thiên Vọng đẩy tới, mới giơ chưởng trái lên dùng ngạnh công đối địch. Chỉ nghe “Bùng” một tiềng, thân mình Thiên Vọng loạng choạng mấy cái, y lùi mấy bước, còn Hà Túc Ðạo thì vẫn đứng nguyên chỗ cũ.

Thiên Vọng ỷ mình có ngoại môn ngạnh công rất cao siêu, từ xưa tới nay ít ai đối thủ, ngờ đâu ngạnh công của đối phương còn đẩy mình lùi 3 bước. Nhưng y không phục cứ hít mạnh một hơi, giơ song chưởng lên xông lại tấn công nữa.

Hà Túc Ðạo cũng quát lớn một tiếng, phản kích lại một chưởng thì nghe thấy hai tiếng “lắc cắc”, đỉnh đình cũng bị rung chuyển, cát bụi lỗ hổng trên đó bay mù mịt.

Thiên Vọng lùi lại bốn bước mới đứng vững được, y đổi song chưởng, đầu tóc rồi bù hai mắt lồi ra trông thật rùng rợn. Hai tay y ôm đơn điền vận khí mấy cái, chỉ thấy ngực y lép vào, bụng phình ra như cái trống, các khớp xương kêu lách cách rồi từ từ tiến từng bước một tới trước mặt Hà Túc Ðạo.

Hà Túc Ðạo thấy cử chỉ của đối phương như vậy, biết y đã dồn hết công lực bản thân ra tấn công nên không dám khinh thường như trước, chàng vội vận khí công để đối địch.

Thiên Vọng từ từ tới trước mặt Hà Túc Ðạo, khi còn cách chừng bốn năm bước chân giơ tay ra tấn công. Chân của y vẫn không ngừng, lại tiến thêm hai bước nữa, đứng đối diện với Túc Ðạo, đột nhiên giơ song chưởng lên, một chưởng đánh vào mặt, một chưởng đánh vào bụng kẻ địch. Lần này hai tay tấn công, y muốn phân tán sức lực của Túc Ðạo. Thế công và chưởng lực thât tuyệt diệu.

Túc Ðạo cũng giơ song chưởng ra một lúc, tay trên tay dưới tấn công luôn hai chưởng của Thiên Vọng, nhưng song chưởng của chàng một cương một nhu.

Thiên Vọng thấy chưởng tấn công dưới bụng đối phương như đụng phải chỗ trống không, còn chưởng trên tựa như đụng phải tường đồng vách sắt. Lúc này y mới biết nguy tai và cảm thấy một sức mạnh đẩy trở lại khiến y bị bắn ra khỏi thạch đình, tới khi y vừa gượng đứng lại thì sức mạnh của chưởng đối phương còn đà vừa tới, đẩy y ngã một vòng, hộc máu tươi.

Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao đồng thanh la lớn:

– Xuất chưởng

Hai anh em đẩy ra một chưởng, hai chưởng đó tạo thành một bức tường mềm để đỡ Thiên Vọng khỏi lăn thêm mấy vòng nữa. Nhờ có chưởng lực của Thiên Canh và Thiên Lao mà Thiên Vọng không bị thương nặng. Nhưng lục phủ ngũ tạng của y cũng đã đảo lộn, xương cốt hầu như bị nứt rạn, chân tay uể oải dường như bệnh nặng vậy.

Thiên Lao thấy Thiên Vọng đại bại , trong lòng tức giận và kinh hãi thầm, nhưng mặt làm ra vẻ tươi cười nói:

– Chưởng của các hạ mạnh như vậy, thế gian này ít thấy. Thán phục!thán phục!

Quách Tường nghĩ thầm:

– Nói đến sức mạnh chưởng lực thì mấy ai bằng Giáng Long Thập bát chưởng của cha ta, các người Côn Luân Tam Thánh chốn hoang vu, ếch ngồi đáy giếng nhìn trời tự kiêu, tự đại, thế nào cũng có ngày họ nhận thức tài ba của Trung Thổ.

Nghĩ tới đây, nàng bỗng thấy đau lòng. Thì ra nàng muốn bọn Thiên Lao kiến thức tài ba Trung thổ không phải của cha nàng mà là Dương Qua. Nàng lại thấy Thiên Lao nói tiếp:

– Tiểu lão nhi bất tài, muốn xin lãnh giáo kiếm pháp của các hạ.

Túc Ðạo đáp:

– Phương huynh đối xử với Quách cô nương tử tế quá, tại hạ đâu dám trách cứ. Chúng ta tỉ thí làm gì.

Quách Tường nghĩ thầm:

– Thế ra người này làm cho tên họ Vệ đau khổ như vậy là vì thấy y đối xử vô lễ với ta đấy a?

Thiên lao đi tới cạnh ngựa, lấy thanh trường kiếm trong túi vải ra, một tay nắm cán kiếm, một tay dùng ngón kẹp cong lại, đoạn buông ra, nghe “oang oăng”. Thiên Lao cầm kiếm trong tay, sắc mặt mất hết vẻ tươi cười, tay trái nắm kiếm quyết, từ từ đưa ra, tay phải cầm kiếm hướng lên trời không cử động. Ðó là thế “tiên nhân chỉ lộ”

Túc Ðạo nói tiếp:

– Nếu sư huynh buộc tôi phải đương đầu thì tôi xin lấy đoạn kiếm của Quách cô nương hầu vài thế vậy.

Nói xong chàng rút thanh kiếm gãy của Quách Tường, thanh kiếm này nguyên dài hai mươi thước

Ðã bị Thiên Vọng dùng ngón tay bẻ gãy, nên bây giờ còn lại khoảng bảy tám tấc thôi, mà mũi thì không nhọn. Tay trái, chàng vẫn cầm bao kiếm, tay phải cầm thanh kiếm gãy, đột nhiên nhảy tới tấn công. Lần này chàng ra tay nhanh vô cùng. Thiên Lao chỉ thấy bóng trắng thấp thoáng một cái. Túc Ðạo đã tấn công ba thế. Mặc dù thanh kiếm quá ngắn, không làm cho đối thủ bị thương được, nhưng Thiên Lao cũng ngấm ngầm kinh hãi và nghĩ :

– Ba thế công của y nhanh nhẹn thực, khiến ta không kịp đề phòng. Ðó là kiếm pháp gì vậy? Nếu y cầm trường kiếm có lẽ ta đã toi mạng ở đây rồi.

Túc Ðạo tấn công đủ ba thế liền nhảy ra ngoài đứng yên không cử động.

Thiên Lao liền giở kiếm pháp ra nửa công nửa thủ, đâm chém Túc Ðạo tới tấp.

Túc Ðạo chỉ né tránh, không tấn công lại chỉ thỉnh thoảng lại tấn công ba thế làm cho Thiên Lao cuống cả chân tay rồi chàng nhảy ra ngoài đứng yên.

Mỗi phút qua, Thiên Lao càng tức giận, dùng những thế kiếm nhanh chóng và lợi hại hơn trước. Mặc dầu thân hình y nhỏ nhắn và lùn nhưng kiếm pháp của y lợi hại khôn tả.

Quách Tường nghĩ thầm:

– Thế kiếm của lão già này rất giống chưởng pháp họ Vệ, nhưng kiếm pháp nhanh nhẹn và lợi hại hơn nhiều.

Nàng nghĩ tới đây bỗng nghe Túc Ðạo quát lớn một tiếng:

– Cẩn thận nhé!.

Chàng chưa dứt lời, giơ bao kiếm ở tay trái lên nhanh như điện chụp vào đầu trường kiếm của Thiên Lao, tay phải cầm đoản kiếm dí luôn vào cổ đối thủ.

Bảo kiếm của Thiên Lao đã bị bao kiếm của Túc Ðạo chụp lại, không sao tự do được, y không thể rút kiếm chống đỡ, chỉ trợn trừng nhìn thanh đoản kiếm dí vào cổ mình, rồi lẹ làng buông thanh trường kiếm ra lăn xuông đất một vòng khỏi thế công đó.

Thiên Lao lăn sang một bên chưa kịp đứng dậy đã thấy một bóng người thấp thoáng. Thì ra Thiên Canh đã nhảy ra nắm lấy cán thanh trường kiếm rút mạnh ra khỏi bao.

Túc Ðạo với Quách Tường đồng thanh khen ngợi:

– Thân pháp đẹp quá.

Ông già mặt như người bệnh, trước sau không nói nửa lời, không ngờ võ công đứng trên hai người kia. Túc Ðạo nói tiếp:

– Võ công của các hạ cao siêu, tại hạ thật thán phục.

Nói xong, y quay đầu lại nói với Quách Tường:

– Quách cô nương, từ ngày hôm nọ nghe cô gảy đàn, tôi đã làm một bài ca muốn nhờ cô nương phê bình.

Quách Tường đáp:

– Bài ca gì thế?

Túc Ðạo ngồi xắp tròn, để đàn lên đầu gối, sửa soạn giây rồi gảy.

Phan Thiên Canh nói:

– Các hạ liên tiếp đánh hạ hai vị sư đệ, họ Phan này muốn xin lĩnh giáo vài thế võ, các hạ vui lòng chăng.

Túc Ðạo xua tay, trả lời:

– Tỷ võ xong rồi, tại hạ không thích cái trò ấy nữa, để tại hạ gảy đàn cho Quách cô nương nghe. Ðây là một bài ca mới, ba vị có thích nghe thì cứ ngồi xuống nghe, còn nghe mà không hiểu thì tùy quí vị.

Nói xong tay trái nắm dây, tay phải gảy đàn, tức thì Quách Tường chỉ nghe mấy cung đã kinh hãi và mừng rỡ vì từ khi biết dạo cầm tới nay, nàng chưa hề nghe một khúc nào kỳ quái như vậy.

Thì ra bản đàn này một nửa là bản đàn cổ mà nàng đã gảy, một phần là bài thơ trong tập Tân Phong, Hai điệu khác hẳn thế mà chàng phối hợp được thành một bản, một ứng một đáp nghe kỳ diệu vô song.

Quách Tường nghe đến đây, thấy bản đàn tỏ vẻ âu yếm và nhớ nhung khôn tả, nàng đâm thẹn đến đỏ bừng má.

Ba anh em Thiên Canh nghe đàn mà không hiểu gì cả. Chúng không biết tính của Túc Ðạo rất cuồng phóng và có chút hủ nho. Chàng mới sáng tác được bản đàn này, nên cố tìm ra Quách Tường để gảy cho nàng nghe. Huống hồ bản đàn này vì nàng mà sáng tác, nên chàng chỉ chăm chú vào việc gảy đàn, không nghĩ đến việc khác, cũng không coi Côn Luân Tam Thánh vào đâu.

Ba anh em Côn Luân Tam Thánh thấy người nọ khinh thị mình ra mặt không sao chịu nổi.

Phan Thiên Canh liền cầm trường kiếm đâm thẳng vào vai trái Túc Ðạo quát lớn:

– Mau đứng dậy, ta đấu thử với các hạ một phen.

Túc Ðạo đang gảy đàn say sưa theo tiếng nhạc, tâm hồn đang bay vút tận đâu dâu, bỗng nghe vai trái hơi đau, giật mình cảnh giác nhìn lên.

Thì ra thanh trường kiếm của Thiên Canh đã đâm vào vai chàng cà rạch đứt ít da thịt. Nếu lúc này chàng không ra tay chống đỡ thì kiếm của đối phương sẽ đâm trọng thương.

Hồi thứ 3
Vạch Ðá Thành Bàn Cờ

Nhưng khúc đàn chưa gảy xong, nay bỗng có người trần tục ở bên cạnh quấy nhiễu, làm sao Túc Ðạo không nổi giận, chàng liền rút thanh kiếm gãy ra.

Lúc này Túc Ðạo mới giở hết tuyệt kỹ bình sinh, một tay gảy đàn, một tay sử dụng kiếm, không còn tay nào nắn dây nữa, nên khi nào gảy tới dây năm là chàng vận hơi thổi một cái cho dây đàn lõm xuống như dùng tay nắn vậy, tiếng đàn vẫn đủ âm điệu.

Thiên Canh tấn công tới tấp mấy thế liền mà Túc Ðạo chỉ thuận tay đỡ, hai mắt vẫn chăm chú vào cây đàn, mồm vẫn thổi hơi nắn tiếng, không hề đánh loạn một cung.

Thấy vậy, Thiên Canh càng tức giận, thế công càng nhanh càng lợi hại. Nhưng bất kể trường kiếm quay về phương hướng nào cũng bị kiếm gãy của Hà Túc Ðạo nhẹ nhàng gạt đi.

Quách Tường mải mê tiếng đàn mà không để đến thế công của Thiên Canh, chỉ nghe tiếng va chạm của hai thanh kiếm kêu “keng keng” lẫn lộn cả tiếng đàn. Nhưng hai tay nàng vẫn đánh nhịp, thỉnh thoảng cau mày liếc mắt nhìn Thiên Canh, trách móc:

– Ông già này ra kiếm bỗng nhanh bỗng chậm, chẳng lẽ không hiểu tý gì về âm nhạc? Nếu người biết đánh kiếm ra nhịp kiếm thay nhịp đàn mà tấn công có vui tai không?

Thiên Canh mặc kệ nàng trách mắng, cứ chăm chú vào đối phương tấn công. Y thấy Hà Túc Ðạo chăm chú gảy đàn không thàm nhìn mình, tay cầm kiếm chống đở bâng quơ mà mình không làm gì được nên càng đánh y càng sốt ruột, rồi y bỗng thay đổi kiếm pháp tấn công luôn một chập nhanh như chớp nhoáng, tiếng va chạm của hai thanh kiếm kêu “leng keng” mau như tiếng mưa rơi.

Tiếng đàn càng lúc càng nhanh, không hòa hợp với vận cầm. Túc Ðạo trợn ngược đôi mắt, truyền hết sinh lực vào thanh kiếm gãy, chỉ nghe “coong” một tiếng là trường kiếm của Thiên Canh gảy đôi, đồng thời giây đàn thứ năm cũng đứt, buông một tiếng khô khan.

Thiên Canh mặt nhợt nhạt như người chết trôi, không nói nửa lời, liền quay mình ra khỏi thạch đình, cả ba đồng nhảy lên lưng ngựa, chạy thẳng lên núi. Quách Tường ngạc nhiên vô cùng hỏi:

– Ủa, ba người bị đánh bại như vậy còn lên Thiếu Lâm Tự làm gì? Chẳng lẽ họ định đánh chí chết sao?

Nàng quay sang Túc Ðạo đang rầu rĩ, tay cầm dây đàn đứt mà vẻ mặt đau đớn vô cùng. Nàng nghĩ thầm:

– Ðứt một dây đàn đã làm sao hà tất phải rầu rĩ đến thế?

Nàng liền đón lấy chiếc giam cầm, cởi khoảng dây đứt ra, rồi kéo khoảng dây trên xuống buộc vào cái trụ bên dưới, đoạn lên dây thử tiếng. Túc Ðạo thở dài nói:

– Tu luyện bảy năm rút cục tâm vẫn không yên tĩnh. Tuy tay trái của tôi đánh gãy được kiếm của y, nhưng tay phải đã mất thăng bằng, nên làm đứt dây đàn thứ năm.

Quách Tường mới hiểu Túc Ðạo buồn là vị nhận xét võ công của mình luyện chưa tơi mức thành thuộc, liền vừa cười vừa nói:

– Tiên sinh nghĩ xem, tay trái tấn công địch mạnh và lợi hại như thế, tay phải còn thư thả gảy đàn, hỏi trong võ lâm có mấy ai làm được? Ðó là phương pháp phân tâm nhị dụng. Tiên sinh chưa đểt mức tuyệt kỹ cũng chưa đáng để buồn lòng. Theo thiếp, chỉ có 3 vị đạt được như vậy mà thôi.

Túc Ðạo hỏi;

– Ba vị ấy là ai hở cô nương?

– Vị thứ nhất là lão Ngoan Ðồng Chu Bá Thông, vị thứ hai là cha tôi, còn vị thứ ba là Dương phu nhân Tiểu Long Nữ. Ngoài ba vị đó ra, đến cả ông ngoại là Ðào Hoa Ðảo chủ, mẹ tôi và thần điêu đại hiệp Dương Qua cũng không sao thực hiện được phương pháp ấy.

Túc Ðạo ngạc nhiên tiếp:

– Quả thật có người xuất quỷ nhập thần đến thế ư, cô nương? Không biết bao giờ tôi mới hân hạnh được cô nương giới thiệu để làm quen với những người đó.

Quách Tường đáp;

– Muốn gặp cha tôi không khó, còn hai vị kia không hiểu đã đi đâu biệt dạng.

Nàng thấy Túc Ðạo có vẻ đăm chiêu liền an ủi:

– Tiên sinh chỉ một tay mà đánh bại được Côn Luân Tam Thánh, thế cũng đã đắc lắm rồi, hà tất buồn bã vì chuyện đứt dây đàn nhỏ mọn.

Túc Ðạo giật mình vội hỏi:

– Côn Luân Tam Thánh? Sao cô nương?

Quách Tường vừa cười vừa nói:

– Ba ông già vừa rồi ở Tây vực, tức nhiên họ là Côn Luân Tam Thánh chớ ai vào đây? Tuy võ công của họ cao siêu, nhưng muốn khiêu chiến với Thiếu Lâm Tự thì e họ còn chưa đủ sức.

Nói tới đây, nàng thấy vẻ mặt Hà Túc Ðạo càng kinh dị hơn trước:

– Có gì lạ chăng, tiên sinh?

Hà Túc Ðạo lẩm bẩm nói:

– Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Ðạo là tôi đây .

Quách Tường ngạc nhiên:

– Tiên sinh là Côn Luân Tam Thánh? Còn hai người kia đâu?

Hà Túc Ðạo nói:

– Côn Luân Tam Thánh xưa nay chỉ có một người. Tôi ở Tây vực tạo được chút danh tiếng. Các bạn nơi đó khen tôi cầm, kiếm, kỳ tam tuyệt, có thể cầm thánh, kiếm thánh, kỳ thánh. Nhưng tôi nghĩ chữ thánh không thế đúng trong trường hợp đó, Tuy người khác đặt cho tôi cái tên thơm tho như vậy, nhưng tôi vẫn thấy không xứng đáng, vì thế mới tự đặt cái tên Hà Túc Ðạo, nghĩa là “không đáng nói”. Vậy, đọc cả biệt hiệu lẫn tên họ của tôi thì thành Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Ðạo. Nghĩa là không đáng gọi là Côn Luân Tam Thánh. Tôi muốn thiên hạ không muốn coi tôi là kẻ tự kiêu.

Quách Tường vỗ tay cười ha ha vừa tiếp;

– Vậy mà tôi cứ tưởng Côn Luân Tam Thánh thế nào cũng là ba người. Vậy ba lão già vừa rồi là ai?

Túc Ðạo nói;

– Họ ư? Họ thuộc phái Thiếu Lâm.

Quách Tường càng ngạc nhiên nói:

– Ba lão ấy là đệ tử phái Thiếu Lâm ư?

Suy nghĩ một lúc Quách Tường nói tiếp;

– Võ công của họ chỉ có cương. Ðúng rồi, lão già mặt đó chẳng sử dụng Ðạt ma kiếm pháp là gì? Còn lão mặt vàng như người ốm tấn công lia lịa đó chẳng phải là Vi Ðà Phục ma kiếm là gì? Họ chỉ biến hóa ít nhiều, cho nên nhất thời tôi không thấy rõ. Tại sao họ từ tây vực tới.

– Việc này nói ra dài dòng lắm. Mùa xuân năm ngoái, tôi đang gảy đàn trên đỉnh Kinh Thần Phong tại Côn Luân, bỗng thấy bên ngoài nhà tranh có tiếng đánh nhau, liẳn ta xem thì thấy hai người đang vật lộn. Người nào cũng bị thương rất nặng, nhưng người nào cũng kiệt lực tranh đấu. Tôi liền quát bảo hai người dừng tay nhưng họ không chịu. Tôi đành xông vào gỡ họ ra. một người nhìn tôi trợn mắt, rồi chết, còn một người được tôi cứu đưa và nhà cho uống một viên Thiếu Dương đơn. Nhưng vì vết thương quá nặng, rốt cục y cũng chết, y chỉ trối lại được tên họ của y là “Doãn Khắc Tây”.

Quách Tường ủa một tiếng hỏi:

– Như vậy người đấu với y có lẽ là Tiêu Tương Tư. Có phải người ấy vừa gầy vừa cao, mặt trông như cái xác.

Hà Túc Ðạo ngạc nhiên hỏi:

– Phải đấy, sao cô nương biết?

– Tôi có thấy họ, nhưng chẳng ngờ đôi lão bối ấy rôt cục đánh lẫn nhau mà chết.

Túc Ðạo kể:

– Doãn Khắc Tây trối rằng trong đời y làm rất nhiều việc ác, lúc chết có cũng muộn. Y với Tiêu Tương Tư lấy trộm một cuốn kinh thư của chùa Thiếu Lâm. Hai người cùng ganh tị lẫn nhau, người nào cũng không muốn cho đối phương đọc trước, vì họ sợ đối phương học trước tài ba sẽ hơn mình và sẽ diệt mình mà độc chiến cuốn kinh đó. Hai người ăn cùng bàn ngủ cùng giường, một bước cũng không rời khỏi nhau. Nhưng lúc ăn ai cũng lo sợ đối phương hãm hại. Lúc nào họ cũng lo sợ rồi ngủ không yên. Họ còn suy sợ các lão hòa thượng Thiếu Lâm Tự đuổi bắt, nên họ mới vượt chạy đến tận Tây vực. Lúc tới Kinh Thần Phong, hai người quá mỏi mệt. Họ biết nếu cứ tiếp tục chạy như thế thì thêm mười ngày nữa là cả hai chết mất. Nhưng mỗi người một kiến, kẻ thì quả quyết chạy, kẻ thì định ở lại. Vì thế hai người mới xáp đánh kịch liệt. Tên Doãn Khác Tây nói:

– Võ công của Tiêu Tương Tư còn cao hơn y, ngờ đâu Tiêu Tương Tư ra tay trước mà kắt quả y thắng thế hơn. Về sau mới nghĩ ra Tiêu Tương Tư ở trên núi bị thương nặng, nên nguyên khí vẫn chưa hồi phục, nên y mới thắng dễ dàng. Hai người đố kỵ nhau nên mới lần mò vào trong núi Côn Lôn.

Quách Tường cho Túc Ðạo nói xong tưởng cái cảnh sợ hãi của hai người, bỗng sinh lòng thương hại, thở dài nói:

– Vì một cuốn kinh thư mà hai người phải khổ sở mất mạng, thật không đáng tí nào.

Túc Ðạo đỡ lời, nói tiếp:

– Lúc ấy tên Doãn Khắc Tây nói chuyện với tôi thì hơi thở của y có vẻ khó khăn, sau cùng y nhờ tôi đến chùa Thiếu Lâm một phen để nói với Giác Viễn hoà thượng rằng cuốn kinh thư đó vẫn ở trong dầu. Tôi nghe vậy ngạc nhiên tự hỏi: kinh thư làm sao ở trong dầu được? Tôi định hỏi thêm chi tiết thì y chịu không nổi, chết giấc. Tôi định chờ y ngủ một giấc đến khi tỉnh dậy hỏi chi tiết sau. Ngờ đâu giấc ngủ của y lại thành ngàn thu. Toi nghĩ: hay là cuốn kinh thư đó gói trong miếng vải dầu chăng? Tôi khám xét người chúng nhưng không thấy một mảnh giấy nào cả. Người ta đã nhờ thì mình phải trung thành giúp, nên dù bình sinh chưa bước vào trung thổ bao giờ, tôi cũng nhân cơ hội này thử đi một chuyền xem sao. Vì vậy, tôi mới đến Thiếu Lâm Tự.

Quách Tường hỏi:

– Thế sao tiên sinh lại tới Thiếu Lâm Tự hạ chiến thư tỷ thí võ nghệ với họ.

Túc Ðạo đáp:

– Việc ấy do ba người vừa rồi mà ra. ba người ấy là đệ tử tục gia của Thiếu Lâm. Nghe người trong võ lâm ở Tây Vực nói rằng họ đều là vai vế chữ thiền, đồng vai với Thiên Minh thiền sư Phương trượng hiện thời của chùa Thiếu Lâm. Hình như sư tổ của họ xưa kia vì gây gổ với sư huynh đệ trong chùa đã tức giận bỏ ra Tây Vực và sáng lập chi nhánh Thiếu Lâm ở đó. Chính võ công của Thiếu Lâm do Ðạt ma tổ sư từ Tây Trúc truyền sang Trung Thổ, rồi từ Trung Thổ phân chia một chi nhánh ở Tây Vực. Chuyện này không có chi lạ. Ba người nghe danh Côn Luân Tam Thánh của tôi, liền tới đòi tỷ võ. Họ bảo rằng không bao giờ cho tôi xưng kiếm thánh, bắt tôi phải bỏ danh hiệu đó. Vừa khi ấy xảy ra vụ Doãn Khác Tây, tôi cũng cần đến Thiếu Lâm Tự, nên tôi định tới tận nơi của họ để đấu võ với họ. Tôi mới tránh mặt không cho họ gặp và đi thẳng vào Trung Nguyên. Không ngờ ba vị đó đi cũng khá nhanh, tựa như âm hồn theo dõi tôi vậy.

Quách Tường vừa cười vừa nói:

– Thì ra đầu đuôi câu chuyện chỉ có thế. Bây giờ tôi mới biết tôi đoán trật hết. Ba lão già đó trở về Thiếu Lâm Tự không biết nói gì.

Túc Ðạo đáp:

– Xưa nay tôi không quen bọ hòa thượng ở Thiếu Lâm Tự và không có thù gì với họ nên tôi hẹn họ mười ngày là muốn chờ cho 3 lão già này tới nơi tôi mới ra tay. Bây giờ tôi mới có dịp đánh nhau với họ và họ cũng lên cả trên chùa rồi, vậy nên tôi lên đó để chuyện lại lời của Doãn Khác Tây rồi sẽ quay trở lại đây ngay.

Quách Tường cau mày nói:

– Luật lệ bọn hoà thượng rất nhiều và rất nghiêm, họ cấm cả đàn bà con gái và trong chùa.

– Hừ lệ luật quái gì! Chúng ta cứ xông thẳng vào trong chùa, chẳng lẽ họ giết cô hay sao?

Quách Tường vốn người hiếu sự, nhưng nàng đã kắt giao với Vô Sắc thiền sư nên không coi người trong Thiếu Lâm Tự là thù địch nữa, nàng vừa cười vừa lắc đầu;

– Tôi ở ngoài chờ tiên sinh, tiên sinh cứ vào trong chùa mà chuyển lời, để khỏi gây thêm phiền phức.

– Vậy cũng được. Bản đàn vừa rồi tôi chưa gảy hết, lát nữa tôi gảy cho cô nghe.

Hai người từ từ lên núi. Dọc đường không một bóng người.

Túc Ðạo liền nói:

– Tôi cũng không vào chùa nữa, cứ mời một hòa thượng nào ra nói chuyện cũng được.

Chàng lớn tiếng gọi:

– Hà Túc Ðạo đến thăm chùa Thiếu Lâm. Có một lời muốn thưa cùng Giác Viễn đại sư.

Bỗng nghe trong chùa mười mấy cái chuông cùng rền lên một lúc vang động cả dãy núi.

Ðột nhiên cửa chùa mở toang, hai hàng tăng nhân mặc áo màu xám bước ra, hàng bên trái có chừng năm mươi tư người, hàng bên phải cũng vậy.

Tất cả có khoảng một trăm lẻ tám người. Ðó là đệ tử của La Hán Ðường, theo đúng con số trăm lẻ tám vị La Hán. Theo sau đó có mười tám vị tăng nhân cũng mặc áo bào màu xám trên phủ cà sa màu vàng nhạt. Người nào người nấy cũng lớn tuổi hơn đệ tử của La Hán Ðường, đó là đệ tử Ðạt Ma đường cao hơn đệ tử của La Hán Ðường một vế. Giây lát sau, có bảy người sư mặc áo bào kẻ ô vuông, mặt đầy vết nhăn, tuổi ít nhất cũng ngoài bảy mươi, có người đến chín mươi.

Bảy người này là Tâm thiền thất lão, vai vế rất cao, có người võ nghệ cao cường, có người không biết chút gì nhưng Phật học lại rất tinh thâm. Bảy vị sư này không những tất cả sư trong chùa mà Phương Trượng cũng phải tôn kính.

Sau cùng, mới tới Phương Trượng Thiên Minh thiền sư bước ra. Cạnh thiền sư, bên trái là Vô Tướng thiền sư thủ toạ Ðạt Ma đường, bên phải Vô Sắc thiền sư, thủ toạ của La Hán Ðường.

Còn Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng đi phía sau. Chót hết, còn có bảy tám chục đệ tử tục gia nữa.

Sự nghinh đón khách long trọng của chùa Thiếu Lâm quả là thật hãn hữu, vì xưa nay dù quan phủ đại viên hay bực hào hiệp rất có tên tuổi trong võ lâm, cũng chỉ có Phương Trượng với Vô Sắc, Vô Tướng ra nghênh đón thôi. Còn Tâm Thiền Ðường Thất Lão không bao giờ tiếp khách bên ngoài.

Chỉ vì hôm nọ Túc Ðạo vào La Hán Ðường để lại bức thư trong tay La Hán, thế võ cao siêu ấy đã làm cho Phương Trượng và Vô Sắc, Vô Tướng kinh hãi rồi. Mấy ngày sau, bọn Thiên Canh ở Tây vực tới, kể lại cuộc dụng độ Côn Luân Tam Thánh cho mọi người hay. Các vị cao tăng trong Thiếu Lâm Tự lại càng lo ngại.

Phải biết chi nhánh Thiếu Lâm ở Tây vực, đường sá xa xôi rất ít có ai lai vãng và thông tin với phái Thiếu Lâm ở Trung Châu.

Nhưng những cao tăng ở trong chùa đều biết rõ vị sư thúc tổ năm xưa đi Tây vực lập chi phái, võ công cũng cao siêu khôn tả, những đồ đệ, đồ tôn của vị sư thúc tổ đó truyền xuống võ công cũng rất phi phàm.

Lúc ấy các vị cao tăng nghe Thiên Canh thuật chuyện nên không dám khinh thường Côn Luân Tam Thánh, vả lại người hèn kém thì không bao giờ dám tới, mà người đã tới thì không phải thường.

Lúc ấy bề ngoài của Thiếu Lâm Tự vẫn yên tĩnh như thường, nhưng bên trong các vị sư đều đề phòng rất nghiêm nhặt, đồng thời lão Phương Trượng còn hạ chỉ cho các đệ tử,cao tăng ở năm trăm dặm quanh đó đều phải trở về chùa để nghe lịnh điều động.

Lúc đầu mọi người cũng tưởng Côn Luân Tam Thánh là ba ông già, sau nghe Thiên Canh nói mới biết là một người thôi. Còn diện mạo tuổi tác của Tam Thánh như thế nào thì chính Thiên Canh cũng không biết rõ.

Chỉ biết người đó đã tự phụ là cầm, kiếm, kỳ tam tuyệt thôi. Hai môn đánh đàn và đánh cờ làm lòng người uỷ mị, nên trong cửa Phật rất cấm kỵ, vì vậy các sư trong chùa Thiếu Lâm xưa nay không biết mấy môn đó. Trong mấy ngày, môn đồ của Phái Thiếu Lâm người nào giỏi về kiếm thuật đều mài dũa và luyện tập lại các thế để chuẩn bị so tài cao thấp với một người tên là Côn Luân Tam Thánh.

Sư huynh đệ Thiên Canh tự nghĩ việc này do mình mà nên thì phải do tay mình mà kắt thúc vì thế hàng ngày ba sư huynh đệ Thiên Canh cứ cưỡi ngựa đi tuần tiễu trước, sau núi. Họ muốn cản trở Côn Luân Tam Thánh, thâm tâm định hạ xong Tam Thánh xong họ sẽ về chùa thử tài các sư trong chùa, để xem võ công phái Tây Vực với võ công phái Trung châu, phái nào tài hơn. Ngờ đâu ở Thạch đình họ gặp Túc Ðạo, mà đối phương chỉ đánh ra có nửa lực đã đánh cho ba người tơi bời cuốn vó chạy dài. Thiên Minh thiền sư hay tin cho nên biết ngay hôm nay đã tới lúc vinh nhục thạnh suy của chùa Thiếu Lâm. Lão Phương Trượng liền nghĩ:

– Chùa Thiếu Lâm là nguồn gốc võ học thiên hạ. Danh dự của phải Thiếu Lâm đã gây nên từ ngàn năm nay, ta quyết không để cho tiêu hủy trong tay ta.

Nhưng Thiên Minh lại nghĩ:

– Vô Sắc và Vô Tướng hai sư đệ với cả ta nữa chưa chắc đã giỏi hơn sư huynh đệ của Thiên Canh là bao.

Vì vậy lão hoà thượng đành phải mời bảy vị lão hoà thượng ở Tâm Thiền Ðường ra áp trận nhưng võ nghệ của Tâm Thiền thất lão cao siêu tới mức nào không ai biết được và không ai dám cam đoan Tâm Thiền thất lão có thể chế ngự được Côn Luân Tam Thánh, ngay cả Phương Trượng và Vô Sắc, Vô Tướng cũng không quyết đoán được điều gì.

Hãy nói Phương Trượng ra tới cửa chùa đã thấy Túc Ðạo và Quách Tường, liền chấp tay vái chào:

– Vị này có phải là Hà cư sĩ, biệt danh Côn Luân Tam Thánh à? Lão tăng không kịp ra đón xin thứ lỗi cho lão?

Túc Ðạo đáp lễ:

– Vãn sinh nếu quấy nhiễu chùa, trong lòng hết sức bất yên, lại còn kích động các vị cao tăng ra đến tận cửa nghinh đón thế này, là qua đáng cho vãn sinh.

Thiên Minh nghĩ thầm:

– Cuồng sinh này ăn nói không ngông cuồng chút nào, tuổi của y trạc ba mươi mà sao lại có công lực cao thâm như thế được.

Nghĩ đoạn, Thiên Minh nói tiếp:

– Hà cư sĩ không phải khách sáo. Xin mời vào trong đàm đạo còn nữ cư sĩ này xin…

Lão Phương Trượng nói tới đây hình như có vẻ khó xử. Túc Ðạo nghe Thiên Minh nói như vậy, hiểu Thiên Minh định không cho Quách Tường vào chùa. Thế là thái độ ngông cuồng của vị đó hiện ra ngay. Chỉ thấy Túc Ðạo ngửng mặt lên trời cả cười một hồi rồi nói:

– Lão Phương Trượng vãn sinh tới chùa là do một người nhờ và tới đây để chuyện lại một lời trối. Khi đã nói xong lời nói đó, thì vãn sinh vỗ tay đi liền, nhưng chùa trọng nam khinh nữ, những qui luật vô lý đó quả thật quá đáng làm vãn sinh thấy ngượng lắm. Phải biết Phật pháp vô biên chúng sinh như một, chớ không phân biệt nam nữ gì cả

Thiên Minh thiền sư là người cao tăng hữu đạo, tính rất khoan dung, nghe Túc Ðạo nói vậy liền cả cười đáp:

– Ða tạ Hà cư sĩ chỉ giáo cho. Thiếu Lâm Tự chúng tôi cứ phải phân biệt nam nữ như vậy thì cũng hơi hẹp lượng một chút, vậy xin mời Quách cô nương vào tệ tự luôn thể.

Quách Tường liếc Túc Ðạo tủm tỉm cười :

“Mồm bạn cũng khéo biết ăn nói đấy, chỉ một lời đã thuyết phục được lão hòa thượng rồi”

Nàng thấy Thiên Minh Phương Trượng đứng sang một bên đưa tay mời khách vào trong chùa. Nàng đang định bước chân vào thì thấy một lão tăng, người rất gầy gò ở phía trái Thiên Minh bước lên nói:

– Chỉ vì một lời nói của Hà cư sĩ mà chùa Thiếu Lâm phải bỏ luật lệ đã định từ ngàn năm, như vậy không phải là không được, nhưng phải xem người nói lời đó có bản lãnh thật sự không đã? Hay là người đó chỉ có hư danh không thôi. Vậy xin Hà cư sĩ hãy biểu diễn một thế võ để cho các tăng lữ chúng tôi được sáng mắt và cũng để cho mọi người được khâm phục một tay bản lãnh đã phá bỏ qui luật bổn chùa định từ nghìn năm nay.

Người sư gày gò đó là Vô Tướng thiền sư thủ toạ Ðạt Ma Viện, tiếng nói rất hùng và khiến cho mọi người đứng gần nghe oang oang, đủ thấy trung khí của lão tăng ấy sung túc và nội lực mạnh biết bao, ba sư huynh đệ Thiên Canh nghe, mặt hơi biến sắc. Phải nói Vô Tướng nói như vậy là coi thường ba huynh đệ Thiên Canh, vì bảo Túc Ðạo tuy đánh bại Thiên Canh ba người nhưng chưa chếc đã có bản lĩnh hơn người.

Quách Tường thấy mặt Vô Sắc thiền sư có vẻ âu sầu, liền nghĩ thầm:

– Vị hoà thượng này rất tốt bụng, vả lại là bạn của đại ca ta, nếu Túc Ðạo với tăng chúng Thiếu Lâm vì ta mà giao đấu, thì bên nào được thua ta cũng không muốn.

Nghĩ đoạn, nàng bèn xen vào:

– Hà đại ca, tôi không nhất định là phải vào chùa Thiếu Lâm này. Ðại ca cứ chuyển xong lời nói rồi chúng ta đi ngay, hà tất còn vào trong làm gì.

Nói xong nàng giơ tay chỉ Vô Sắc và tiếp:

– Vị Vô Sắc thiền sư này là bạn tốt của tôi, nên tôi mong hai bên đừng vì tôi mà hao tổn chân khí.

Túc Ðạo nghe vậy, ngẩn người giây lát rồi nói:

– À ra là thế đấy.

Rồi chàng quay lại nói vói Thiên Minh:

– Lão Phương Trượng có một vị Giác Viễn thiền sư, vậy chẳng hay vị đó là vị nào? Tại hạ có người nhờ chuyện lời với vị thiền sư đó.

Thiên Minh lẩm bẩm:

– Giác Viễn thiền sư ư?

Thì ra địa vị của Giác Viễn thiền sư rất hèn kém, mấy chục năm nay tăng nhân đó chỉ ẩn thân trong Tàng Kinh Các chuyên chú đọc sách thôi chứ ít khi lộ mặt nên không ai biết. Và xưa nay cũng không có ai gọi vị sư đó là thiền sư cả, nên Thiên Minh nghe Túc Ðạo nói vậy nhất thời không biết là ai. Lão Phương Trượng ngẩn người giây lát, mới sực nghĩ thầm:

– À, bần tăng nhớ ra rồi, người ấy đã thất chức vì để người khác trộm mất cuốn kinh. Chẳng hay Hà cư sĩ kiếm y có liên quan gì tới cuốn kinh Lăng Già của bổn chùa đã mất không?

Túc Ðạo lắc đầu:

– Ðiều đó vãn sinh không được biết

Thiên Minh thiền sư gọi một tên đệ tử đến bảo:

– Con gọi Giác Viễn ra đây.

Người đệ tử đó vâng dạ rồi đi liền.

Vô Tướng thiền sư tiếp:

Hà cư sĩ được tặng là cầm kiếm kỳ tam thánh. Theo bần tăng chữ Thánh đó người thường không ai dám tự nhận phải không? Hay Hà cư sĩ sở trường ba môn đó, tài ba còn siêu tuyệt hơn người đời. Hôm nay Hà cư sĩ đã giáng lâm sao không ban cho một vài thế để chúng tôi được chiêm ngưỡng tuyệt kỹ của cư sĩ.

Túc Ðạo lắc đầu nói:

– Cô nương đây đã nói rồi, hai bên chúng ta không nên để cho tổn chân khí.

Vô Tướng nghe nói tức giận vô cùng nghĩ thầm:

– Người đã để lại thư thách đánh, bây giờ gặp gỡ nơi đây lại thối thoát, một ngàn năm nay có ai vô lễ với Thiếu Lâm như vậy đâu, Hơn nữa ba sư huynh đệ Thiên Canh bị người đánh bại, chuyện này thiên hạ sẽ đồn đại rằng đệ tử phái Thiếu Lâm thua người, do đó hai chữ kiếm thánh của ngươi càng vang lừng hơn nữa? Có lẽ tất cả các đệ tử ở đây không phải là địch thủ của ngươi, trừ phi ta phải đích thân ra tay mới được.

Nghĩ xong, Vô Tướng thiền sư tiến lên hai bước nói:

– Tỷ thí võ công chưa chắc tổn thương đến hòa khí, Hà cư sĩ hà tất phải thối thoát.

Nói xong lão thiền sư quay đầu lại quát bọn Ðạt Ma Ðường:

– Lấy kiếm ra đây, các con sẽ được lãnh giáo kiếm thuật của kiếm thánh và xem kiếm thánh đây kiếm thuật cao siêu đến mức nào.

Trong chùa các thứ khí giới đã sớm chuẩn bị sẵn. Chỉ vì xắp hàng đón khách nên không tiện đem ra vì sợ mang tiếng. Mấy người đệ tử nghe sư phụ nói thế liền đem ra bảy tám thanh trường kiếm hai tay đưa trước mặt Túc Ðạo nói:

– Chẳng hay Hà cư sĩ sử dụng kiếm tự đem tới hay là mượn kiếm của tệ tự.

Túc Ðạo không giơ tay ra tiếp những thanh kiếm đó, chỉ cúi mình xuống nhặt một viên đá rồi vẽ ngang vẽ dọc đủ mười chín vạch thành một bàn cờ lớn. Những vạch đó sâu tựa bị đục. Phải biết những đã xanh đó cứng như sắt, từ khi xây làm lối đi đến giờ đã trải qua mấy trăm năm, biết bao người đi lên thế mà không hao mòn chút nào. Nay thấy Túc Ðạo vạch thành bàn cờ thấy nội công của chàng đến bực nào. Có lẽ trong chùa Thiếu Lâm không ai được như thế.

Túc Ðạo cười nói:

– Dùng kiếm đấu với nhau hơi bá đạo một chút, mà thi thố tiếng cầm thì không có cách gì, nếu đại hòa thượng cao hứng chúng ta lại đây đánh cuộc cờ, vậy có phải thú hơn không?

Thiên Minh, Vô Tướng, Vô Sắc và Tâm Thiền Ðương thất lão thấy Túc Ðạo dùng đá vẽ bàn cờ, giở môn tuỵêt kỹ đó ra đều trố mắt nhìn nhau kinh hãi. Thiên Minh thiền sư biết trong chùa không có người nào có nội lực hùng hậu như thế.

Lão Phương Trượng là người rất khoáng đạt không quan niệm tới thắng bại , đang định lên tiếng chịu thua thì bỗng nghe tiếng “leng keng đã thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt nặng cùng một thiếu niên thân hình rất cao, từ từ tới trước mặt Thiên Minh, Giác Viễn giơ một chưởng lên hành lễ:

– Nghe Phương Trượng cho gọi, tiểu tăng đã tới nơi, chờ sai bảo.

Thiên Minh thiền sư liền nói:

– Vị Hà cư sĩ này muốn gặp đệ tử và có vài lời muốn nói với đệ tử.

Giác Viễn quay lại nhìn Hà Túc Ðạo, thấy không quên biết, liền hỏi:

– Tiểu tăng là Giác Viễn, chẳng hay cư sĩ có điều chi dạy bảo?

Túc Ðạo vừa vẽ xong bàn cờ đang cao hứng liền đáp:

– Câu chuyện này để hạ hồi đã. Bây giờ vản sinh đấu với đại hòa thượng Vô Sắc một ván cờ chơi

Sự thật chàng là người không thích phô trương tài ba mình, nhưng bình sinh rất mê ba môn cầm kiếm kỳ thích ba môn đó đến nỗi như điên như cuồng. Trong lúc cao hứng mặc cho trời có đổ chàng cũng mặc.

Thiên Minh thiền sư liền nói:

– Hà cư sĩ vạch đã thành bàn cờ thần công như vậy, bần tăng bình sinh chưa thấy, đệ tử trong tệ tự cam tâm bái phục cư sĩ.

Giác Viễn nghe Thiên Minh nói vậy, lại nhìn xuống mặt đá thấy có bàn cờ đã vạch sẵn mới biết người tới đây tìm mình để biểu diễn võ công.

Không nói năng gì cả, vai vẫn gánh đôi thùng sắt, Giác Viễn hít mạnh một hơi rồi vận hết công lực xuống hai chân bước theo những lằn gạch của bàn cờ.

Dấu chân của Giác Viễn đại sư tới đâu là có dấu vết tới đó và xóa nhòa những vạch mà Túc Ðạo vừa vẽ. Các tăng nhân trong chùa thấy vậy đều vỗ tay lớn tiếng khen ngợi.

Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng và các vị lão tăng vừa kinh hãi vừa mừng rỡ. Mọi người có ngờ đâu một lão tăng ngớ ngớ ngẩn ngẩn lại có nội công thâm hậu đến thế?

Ai nấy đều ở chung với lão tăng, mấy chục năm trời mà không biết. Phải biết một người nội công mạnh đến đâu đi trên mặt đất mà muốn có vết chân như vậy không sao làm nổi.

Nhưng Giác Viễn làm được như thế nhờ trên vai gánh đôi thùng sắt đựng nước, có sức nặng của năm sáu trăm cân đó từ trên vai Giác Viễn truyền xuống dưới chân, sang cả những cái xích sắt, mới có thể in sâu vết chân. Và cái xích sắt như dùi đục, mới xóa nhoà được những vạch của Túc Ðạo. Bằng Giác Viễn đi mình không thì không thể nào làm được như thế. Dù sao ai nấy cũng phải công nhận Giác Viễn có thần công hiếm có trên đời.

Túc Ðạo không chờ Giác Viễn đi hết ba mươi tám vạch đó, đã lớn tiếng nói;

– Ðại hòa thượng nội công thâm hậu thật, tại hạ không sao bằng!

Giác Viễn đi tới đây, mặc dù thấy chân khí trong mình còn dồi dào, nhưng hai chân cảm thấy đau nhức. Nay y nghe Túc Ðạo nói vậy liền dừng lại mỉm cười và nói:

– Hà cư sĩ còn định đấu cờ nữa hay thôi?

Túc Ðạo liền đáp:

– Ván cờ tại hạ xin chịu thua. Chỉ muốn lãnh giáo hòa thượng vài thế kiếm.

Nói xong Túc Ðạo rút ra một thanh trường kiếm giấu dưới chiếc dao cầm ra, rồi để mũi kiếm vào dưới ngực, còn mũi kiếm thì từ tứ hướng ra bên ngoài. Chỉ một thế khởi đầu quái dị đó không khác gì dùng kiếm tự tử đủ khiến ai nấy phải ngạc nhiên rồi, vì kiếm pháp trong thiên hạ không khi nào có một thế kiếm kỳ quái như thế.

Giác Viễn liền nói:

– Lão tăng chỉ biết tụng kinh, phơi sách quét nhà, còn võ công thì quả thật không biết một thế nào.

Túc Ðạo khi nào chịu tin, cười nhạt mấy tiếng rồi tung mình nhảy lại gần. Thanh trường kiếm đó đột nhiên cong lại rồi bắn tung ra, mũi kiếm đâm thẳng vào ngực Giác Viễn. Thế kiếm nhanh không tả, bất cứ một kiếm pháp nào cũng không lẹ bằng. Thì ra thế kiếm đó không phải đâm thẳng mà trước hết Túc Ðạo tụ nội công rồi mới hất ngọn kiếm ra đâm vào đối phương.

Nếu là nhà sư tầm thường khác, Túc Ðạo chỉ cần một thế cũng đủ đánh trúng, nhưng nội công của Giác Viễn đã luyện tới mức muốn sao được nấy, thủ pháp tùy mình nên Túc Ðạo ra kiếm tuy nhanh nhưng ý nghĩ của Giác Viễn lại còn nhanh hơn.

Mắt nhìn thấy thì ý nghĩ đã tới tay liền, vội thu tay phải hất thùng nước ra phía trước chống lại. Chỉ nghe “coong” một tiếng, mũi kiếm đã đâm trúng thùng nước. Túc Ðạo vội thu trường kiếm lại , thuận tay đâm tới, chỉ thấy Giác Viễn phất tay áo một cái, thùng nước bên trái hất về phía trước chông đỡ liền.

Túc Ðạo nghĩ thầm:

– Dù võ công của ngươi có cao tới đâu đi chăng nữa nhưng với đôi thùng nước nặng nề thế kia làm sao tránh kịp những thế công của ta. Nếu ngươi tay không đối địch, thì ta còn em chừng vài ba phần.

Mọi người chỉ thấy chàng búng ngón tay vào lưỡi kiếm một cái, thanh trường kiếm có tiếng kêu như long ngâm, rồi chàng la lớn:

– Ðại hòa thượng cẩn thận!

Thanh trường kiếm của chàng rung động mũi kiếm ngả nghiêng về phía trước sau tả hữu chỉ trong nháy mắt chàng đã tấn công luôn mười sáu thế. Chỉ nghe ‘leng keng” mười sáu tiếng liền. Không ngờ mười sáu thế kiếm của Túc Ðạo nhanh như chớp mà đều đâm trúng thùng sắt hết.

Mọi người đứng cạnh thấy Giác Viễn cuống cuồng cả tay chân, thân hình loạng choạng, thật không có vẻ gì là người biết võ cả. Hình dáng của lão hòa thượng trong tức cười nôn ruột.

Nhưng cũng lạ thật, thế mà không sao chạm được vào áo của Giác Viễn. Chính Túc Ðạo cũng ngạc nhiên không hiểu sao những thế kiếm của mình lanh lẹ như vậy mà cứ bị thùng sắt chậm chạp và nặng nề cản trở hết!.Vô Sắc thiền sư và mấy người đứng quanh đấy cũng lo ngại hộ Giác Viễn, liền đồng thanh la lớn:

– Xin Hà cư sĩ nể nang mà thâu kiếm lại.

Quách Tường cũng lên tiếng:

– Xin Hà huynh đừng hạ thủ nhé.

Mọi người thấy rõ Giác Viễn không biết võ gì cả, trái lại Hà Túc Ðạo ở trong cuộc, đã dùng hết sức tấn công mà không làm gì được đối phương. Nhưng ai ngờ đâu, chính Giác Viễn cũng chưa hề học qua võ công, so dĩ nhà sư đỡ được những thế kiếm đó là nhờ nội công thượng thừa của lão hoà thượng.

Hà Túc Ðạo thấy mình tấn công nhanh như vậy mà không ăn thua gì, bàn nhằm bụng dưới của Giác Viễn mà đâm tới.

Giác Viễn la hoảng:

– Úi chà.

Rồi hoà thượng chụp tay lại, chỉ nghe “keng” một tiến lớn hai cái thùng sắt chụm lại kẹp thanh kiếm vào giữa.

Túc Ðạo có hết sức rút thanh kiếm ra nhưng không sao lay chuyển nổi.

Chàng liền buông kiếm ra hai bàn tay đẩy mạnh một cái xô vào mặt Giác Viễn.

Giác Viễn hai tay xách hai thùng nước kẹp chặt lấy thanh kiếm của đối phương còn tay đâu mà chống đỡ?

Quân Bảo đứng cạnh đó thấy sư phụ lâm nguy liền dùng một thế Tứ Thông Bát Ðạt mà Dương Qua đã dạy cho, đánh luôn vào vai Túc Ðạo một chưởng. Ðồng thời nội công của Giác Viễn truyền vào thùng sắt, hai cây nước từ trong thùng bay ra công thẳng vào mặt Túc Ðạo. Nước và chưởng lực chạm nhau, nước bắn tung làm ướt cả mặt. Nhờ vậy chưởng lực Túc Ðạo mất hết nội lực.

Trong khi Túc Ðạo đem toàn lực ra tấn công Giác Viễn không để tới Quân Bảo nên bị đối phương đánh trúng một chưởng vào vai, hai chân đứng không vững chàng phải lùi về phía sau ba bước.

Giác Viễn lớn tiếng nói:

– A Di đà Phật. Hà cư sĩ tha thứ cho lão tăng. Mấy thế kiếm đó quả thật làm lão tăng mất hết hồn vía.

Nói xong Giác Viễn vội chạy sang dùng tay áo lau nước dính trên mặt.

Túc Ðạo cả giận đáp:

– Chùa Thiếu Lâm quả là nơi ngọa hổ tàng long có khác. Cả đến một cậu bé nhỏ tuổi như thế này mà thân thủ cũng nhanh nhẹn. Tiểu tử kia, có giỏi thì lại đây tỷ thí với ta, nếu người tiếp ta được mười hiệp thì Hà Túc Ðạo này thề không vào trung thổ nữa.

Bọn Vô Sắc, Vô Tướng biết thằng nhỏ chỉ là một đứa quét trong chùa, không biết chút võ công nào, nhưng vừa rồi không hiểu tại sao y có thể đánh trúng Túc Ðạo một chưởng? Nhưng bảo y đấu võ thật sự thì nói chi mười hiệp, chỉ sợ một hiệp cũng đã chết dưới tay Túc Ðạo rồi.

Vô Tướng liền tiến lên nói:

– Hà cư sĩ nói sai rồi, ngài mệnh danh là Côn Luân Tam Thánh, võ học siêu tuyệt cổ kim sao lại đòi đấu với một tên nhỏ chỉ biết dọn nước quét nhà? Nếu cư sĩ vui lòng, lão tăng xin tiếp cư sĩ mười hiệp.

Hà Túc Ðạo lắc đầu đáp:

– Cái nhục một chưởng đó khi nãy khi nào tôi bỏ qua. Tiểu tử hãy coi chừng!

Nói xong, chàng đấm luôn một quyền vào ngực Quân Bảo. Quyền đó rất nhanh mà Quân Bảo lại đứng gần chàng. Vô Sắc Vô Tướng thiền sư muốn ra tay cứu cũng không kịp. Mọi người đều lo ngại cho chàng trai nọ.

Ngờ đâu Quân Bảo vẫn đứng yên một chỗ chỉ dùng đầu ngón chân chuyện động là thân hình quay sang phải, nhẹ nhàng tránh khỏi quyền đối phương.

Tiếp theo, chàng dùng thế hữu xuyên hoa thủ của phái Thiếu Lâm, dáng điệu không khác một tay võ lâm cao thủ có thủ pháp lão luyện tinh vi.

Từ lúc đấu một chưởng, Túc Ðạo biết võ công của Trương Quân Bảo cao hơn anh em Thiên Canh nên chàng dè dặt và suy tính thế nào trong mười hiệp có thể hạ được đối thủ.

Ðồng thời, chàng thấy đối phương giở thế hữu xuyên hoa thủ, tuy là thế công võ nhập môn của phái Thiếu Lâm nhưng lúc phát chưởng và quay mình Quân Bảo tỏ ra rất trầm tĩnh và kín đáo, không sao kiếm được một sơ hở nào để tấn công, chàng buột miệng khen:

– Quyền pháp đẹp lắm!

Vô Tướng thấy Quân Bảo ra tay lão luyện như vậy liền nhìn Vô Sắc mỉm cười và nói:

– Vô Sắc sư đệ, mừng sư đệ ngấm ngầm thu được đệ tử đắc ý.

Vô Sắc lắc đầu đáp:

– Không phải đệ đâu!

Quân Bảo liên tiếp ra bốn thế võ kiểu cách rất đúng, xét lại tất cả những sư trong chùa không có ai có thể ra tay đẹp như vậy.

Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng và Thiền Tâm Thất lão thấy Quân Bảo sử dụng mấy miếng quyền của Thiếu lâm mà thần oai lẫm lẫm liền nhìn nhau có vẻ ngạc nhiên.

Vô Tướng kinh hãi nói:

– Quyền pháp của y nghiêm cẩn như vậy cũng chưa lấy làm lạ. Lạ nhất là nội công của y đến mức siêu việt!

Vô Tướng vừa dứt lời thì Túc Ðạo và Quân Bảo đã đánh tới hiệp thứ sáu. Thấy đánh luôn sáu hiệp mà chưa thắng nổi thiếu niên kia, Túc Ðạo nghĩ thầm:

– Một thiếu niên còn hơi sữa mà cũng đối phó không xong, vậy mà dám đến khiêu chiến với cả chùa Thiếu Lâm, thật là đồng đạo anh hùng võ lâm cười ta đến rụng hết cả răng.

Hồi thứ 4
Hoa Rụng Hoa Nở

Nghĩ đoạn, chàng đột nhiên quay mình lại dùng Thiền Sơn Tuyết Phiêu, chỉ thấy những chưởng của chàng bay múa bao vây chặt lấy thân hình Quân Bảo.

Còn Quân Bảo khi ở Hoa Sơn chỉ được Dương Qua dạy cho bốn miếng võ, ngoài ra chàng chưa hề được thọ giáo một danh sư nào.

Nay đột nhiên chàng gặp các thế võ của đối thủ kỳ ảo vô cùng, biến hóa không lường chàng làm sao chống đỡ cho nổi?

Trong lúc nguy nan, chàng quay lưng về phía trái, song chưởng giơ lên trên trán tạo thành thế Song Khuyên Thủ, có dậy trong pho quyền của Thiếu Lâm.

Thế võ này trịnh trọng như Thái Sơn, nên không cần phải giải phá thế võ của địch cũng tự giải lấy.

Bất cứ Hà Túc Ðạo ở phía nào tấn công tới cũng đều bị Song Khuyển Thủ bao trùm.

Các đệ tử của Ðạt Ma Ðường và La Hán Ðường đồng vỗ tay khen ngợi, vang động một góc trời vì thấy Quân Bảo đã khéo dùng một quyền thế rất tầm thường của Thiếu Lâm mà phá giải được một thế kỳ ảo của đối phương.

Trong lúc mọi người đang khen ngợi, Túc Ðạo rú lên một tiếng, rồi giơ quyền nhằm ngực Quân Bảo đâm tới, sức mạnh vô biên.

Quân Bảo liền dùng song chưởng đẩy ra chống đỡ.

Quyền chưởng hai bên va chạm nhau, chỉ nghe thấy bùng một tiếng là Túc Ðạo loạng choạng nhưng vẫn đứng yên lại được, còn Quân Bảo phải lùi lại hai ba bước mới giữ được quân bằng.

Túc Ðạo lại tiến lên đấm một quyền nữa.

Quân Bảo vẫn dùng song chưởng đẩy ra và nghe bùng lớn hơn lần trước. Lần này Quân Bảo bị đẩy lùi năm bước còn Túc Ðạo thì đâm bổ về phía trước. Chàng biến sắc quát lớn một tiếng:

– Chỉ còn một hiệp nữa, ngươi hãy dùng hết sức mà đỡ nhé!

Ðoạn chàng bước lên hai bước, từ từ đấm một quyền. Lúc này mấy trăm người đứng trước Thiếu Lâm đều im hơi lặng tiếng, ai nấy đều biết quyền này của Túc Ðạo liên quan đến danh tiếng cả đời chàng, thế nào chàng cũng đem hết sức bình sinh ra đánh đối thủ.

Quân Bảo lại cũng xử dụng song chưởng như trước, nhưng lần này quyền và chưởng chạm nhau mà không gây một tiếng vang.

Mọi người chỉ thấy quyền chưởng hai bên dính chặt vào nhau rồi cả hai bên đều dùng tới nội công ra lấn át lẫn nhau. Quân Bảo học được tâm pháp của Cửu Dương chân kinh mà không biết, chàng chỉ cảm thấy nội công sung túc và liên miên đẩy ra.

Lát sau Túc Ðạo lùi lại một bước, cảm thấy như có một cục máu xông lên tận cổ. Chàng phãi cố chặn lại, nhưng bỗng nhiên, tối tăm mặt mũi, rốt cuộc phải phun cục máu đó ra.

Quân Bảo không ngờ vì mình mà đối phương bị thương nặng như vậy, lòng ăn năn vô cùng liền chạy đến toan giơ tay ra đỡ. Túc Ðạo giơ tay gạt, gượng cười nói:

– Túc Ðạo ơi là Túc Ðạo, sao ngươi ngông cuồng đến thế?

Nói đoạn chàng hướng về Thiên Minh Thiền Sư, cúi đầu vái rạp, rồi tiếp:

– Võ công của chùa Thiếu Lâm vang danh hàng nghìn năm nay, quả thật phi thường. Hôm nay kẻ cuồng sinh này mới sáng mắt.

Nói xong chàng nhún mình một cái nhảy đi thật xa. Nhưng chàng ngừng bước, quay đầu lại rồi nói với Giác Viễn:

– Giác Viễn đại sư, người đó nhờ Hà mỗ chuyển lời rằng:”Cuốn kinh thư gì đó ở trong đầu ấy”.

Rồi chàng nhún mình nhảy mấy cái nữa đã mất dạng. Thân pháp nhanh như vậy trong võ lâm thật hiếm thấy.

Ðồng thời chúng tăng thấy chàng đã bị thương nặng mà còn giở được khinh công tuyệt diệu thì ai nấy khâm phục vô cùng.

Kẻ địch đã đi, chúng tăng nhìn dồn vào Thiên Minh để nghe lệnh.

Một lão tăng gầy gò trong bọn Tâm Thiền Thất tăng bỗng cất tiếng nói:

– Võ công của đệ tử này ai truyền cho thế?

Giọng nói của lão rất sắc bén, không khác gì tiếng kêu của chim, cú lúc ban đêm, ai nghe cũng phải rùng mình kinh sợ. Cả Thiên Minh, Vô Sắc , Vô Tướng cũng đều nghi ngờ quay lại nhìn Giác Viễn và Quân Bảo.

Thầy trò Giác Viễn đứng ngẩn người ra, không sao trả lời cho xuôi. Thiên Minh liền hỏi tiếp:

– Nội công của Giác Viễn tuy tinh xảo nhưng y chưa học qua quyền pháp.

Còn Thiếu Lâm quyền của thiếu niên kia , ai đã truyền cho vậy?

Các đệ tử của Ðạt Ma Ðường và La Hán Ðường đều nghĩ thầm:

“Không ngờ hôm nay nhà chùa gặp nguy cơ mà thằng nhỏ kia lại cường địch. Chắc thế nào lão Phương trượng cũng ban thưởng cho y rất hậu. Còn sư phụ dậy nội công và quyền pháp cho y chắc càng thương mến y”.

Lão tăng nọ thấy Quân Bảo đứng ngẩn người không nói năng gì cả liền cau mày lại, mặt đầy sát khí quát lớn:

– Ta hỏi ngươi pho La Hán quyền đó ai dậy cho ngươi thế?

Quân Bảo liền móc trong túi ra đôi La Hán mà Quách Tường đã tặng và nói:

– Ðệ tử theo phương pháp của đôi Thiết La hán này mà học được mấy thế võ đó, chớ không có ai dậy cả.

Lão tăng nọ bước lên một bước, hạ giọng nói:

– Ngươi hay nói rõ một lần nữa rằng không phải do một vị sư nào trong chùa dậy mi mà chính mi tự học lấy?

Giọng nói tuy rất khẽ nhưng đầy vẻ dọa nạt, nhưng Quân Bảo vẫn thản nhiên và tự nghĩ:

“Ta chưa làm một việc gì xấu cả, dù vị sư này có hung hăng ta cũng không sợ”.

Ðoạn chàng lớn tiếng đáp:

– Ðệ tử ngày tối ở trong Tàng kinh các quét dọn đun nước và hầu hạ sư phụ Giác Viễn. Tại chùa không có vị sư phụ nào truyền dạy võ công cho đệ tử. Pho La Hán này là do đệ tử tự học lấy. Có phải đệ tử múa không đúng phép phải không? Mong lão sư phụ chỉ giáo.

Lão tăng đó hừ một tiếng, hai mắt dường như nẩy lửa trợn trừng nhìn Quân Bảo một lát lâu không hề cử động.

Giác Viễn biết vai vế của vị sư Tâm Thiên Ðường đó rất cao. Lão cũng là sư thúc của Phương trượng Thiên Minh Thiền sư nữa. Nay lão tăng bỗng nhiên quát tháo Quân Bảo, Giác Viễn ngạc nhiên vô cùng, nhứt là khi thấy hai mắt của lão lại chứa đầy oán độc.

Giác Viễn sực nhớ lại năm nọ ở Tàng Kinh các ngẫu nhiên y có thấy một cuốn sách nhỏ, bên trong có ghi một đại sự về môn phái của chùa xảy ra như sau:”Cách đây bảy mươi năm, Phương trượng của chùa Thiếu Lâm là Khổ Thừa Thiền Sư, sư tổ của Thiên Minh thiền sư hiện thời. Tết Trung thu theo lệ của chùa mỗi năm nào cũng có cuộc thử tài các đệ tử của Ðạt Ma đường do Phương trượng và hai vị thủ tọa của Ðạt Ma Ðường và La Hán Ðường làm chủ khảo để xét võ công của tất cả đệ tử trong chùa xem một năm qua tiến bộ đến mức nào.

Ngờ đâu cuộc khảo thí Trung Thu năm đó xảy ra một thảm biến. Các để tử biểu diễn xong, Ðạt Ma Ðường chủ tọa Khổ Trí Thiền Sư thăng tọa phê bình võ công của các đệ tử, đột nhiên có một tên đầu đà đi tu mà tóc còn để dài, vượt mọi người xông ra lớn tiếng nói:

– Lời phê bình của Khổ Trí thiền sư không thông chút nào. Chả biết võ công là cái quái gì mà cũng nhân là thủ tọa Ðạt Ma Ðường thật nhục nhã biết bao.

Tất cả tăng nhân đều kinh hãi, nhìn kỹ lại mới hay người đó là Hỏa Công đầu đà chuyên nhóm lửa ở bếp Hương Tích. Các đệ tử của Ðạt Ma Ðường không chờ cho sư phụ lên tiếng đã đồng thanh quát tháo. Tên Hỏa Công đầu đà đó cũng không chịu kém liền quát lại:

– Tên sư phụ không hiểu cái quái gì, bọn đệ tử các ngươi cũng thế thôi.

Nói xong tên đầu đà đó nhảy vào giữa đám đệ tử. Các đệ tử Ðạt Ma Ðường liền xông lại tấn công, ngờ đâu đều bị y đánh cho vài ba quyền hay vài ngọn cước là bại ngay.

Theo lệ của chùa thì ở Ðạt Ma Ðường đồng môn đấu với nhau chỉ đánh ngã đối phương rồi thôi, chớ không ai được hạ độc thủ. Trái lại tên đầu đà đó ra tay hung tợn đánh 9 người sư đó kẻ gãy tay, người què chân, ai nấy đều bị thương nặng.

Khổ Trí Thiền sư thấy vậy vừa kinh hãi vừa tức giận. Lão thiền sư nhận ra tên đầu đà xử dụng toàn là quyền thuật của bổn môn chứ không phải y học của những cao thủ môn phái khác rồi có lẻn vào chùa phá quấy nên cố dằn tức khí và hỏi xem võ cố ý lẻn vào chùa phá quấy nên

Hỏa Công đầu đà nọ trả lời:

– Không do ai truyền dậy võ công cho tôi cả, đó là tự tôi học lấy.

Thì ra tên đầu đà đó giúp việc ở nhà bếp dưới quyền nhà sư quản công rất nóng tính hơi tý là đánh đập thủ hạ. Y là người biết võ lại có sức mạnh, nên người nào người nấy đều bị đánh trọng thương.
Cả tên đầu đà này cũng bị tên quản công đánh hộc máu ba lần. Vì sự việc đó y ngấm ngầm học lóm võ công. Một người đã cố âm thầm làm việc gì tất nhiên phải thành công chóng hơn người khác, hơn nữa y lại có chí hơn người nên mười mấy năm liền y mới luyện được võ công thượng thừa như vậy.

Nhưng y vẫn giấu giếm không cho ai hay biết, lặng lẽ tiếp tục bổn phận nhóm lửa ở bếp. Tên sư quản công dưới bếp dù có đánh đập, y cũng không đánh lại, nhưng nhờ có nội công tinh thâm nên y không bị thương như trước nữa.

Tánh y rất thâm trầm, y suy tính có khi nào võ công giỏi hơn tất cả các tăng chúng trong chùa mới ra mặt biểu diễn cho mọi người biết. Bởi vậy Trung Thu này y mới ra mặt.
Mấy chục năm tích uất trong lòng, nên y tức giận hầu hết các tăng chúng trong chùa, vì thế khi ra tay y không nể nang ai cả.

Khổ Trí thiền sư hỏi rõ nguyên ủy rồi cười nhạt nói:

– Ngươi đã khổ tâm học tập như vậy, quả thật đáng kính.

Nói xong thiền sư đứng dậy ra khỏi đài tỷ võ với tên đầu đà. Lúc bấy giờ có thể nói võ công của Khổ Trí thiền sư là số một trong chùa Thiếu Lâm. Hai người cùng giở tuyệt học ra đấu được hơn năm trăm hiệp.

Khổ Trí thiền sư đã già, còn tên đầu đà tuổi tráng niên hơn, lão Thiền Sư còn e dè nể nang, trái lại tên đầu đà luôn luôn hạ độc thủ.

Sau đó hai người dùng tay chân quất vào nhau như hai con mực, hễ ai khỏe hơn sẽ thắng. Khổ Trí thấy tên đầu đà đã chịu khó tự tập mà đạt được thành tích đó nên đổi chiến lược, tháo giỡ ra rồi gạt song chưởng một cái, vừa quát to lên.

Tên đầu đà hiểu rằng đối phương giở một thế trong Thần Chưởng Bát Ðá, vốn là một võ công tuyệt học của Thiếu Lâm. Tên đầu đà đã được dịp thấy các đệ tử Ðạt Ma Ðường xử thế võ này, chỉ bổ song chưởng một cái là đánh gãy cẫy mộc tang trồng dưới đất liền nhờ sức mạnh phi thường do chưởng lực phóng ra.

Võ công của y tuy cao cường nhưng y chưa hề được danh sư nào chỉ giáo mà suốt mười mấy năm y chỉ ngầm học lóm thì dẫu y chăm chỉ đến đâu cũng không sao thấu triệt võ học của Thiêu Lâm rất cao thâm.

Nhưng Khổ Trí sử dụng thế đó là để giải chưởng mượn sức đối phương để giải tán sức lực đối phương rồi hai bên cùng lùi cả ra và đều tỏ vẻ ngưng đấu. Ngờ đâu tên Hỏa Công đầu đà lại nhận lầm là Liệt Tân Chưởng, chưởng thứ sáu trong phái Thần chưởng Bát Ðả, liền nghĩ thầm:”Ngươi muốn giết ta, nhưng có dể gì”

Ðoạn y phi thân đến, giơ song quyền đánh xuống. Khổ Trí thiền sư thất kinh vội quay chưởng lại chống đỡ nhưng đã muộn, chỉ nghe “lắc cắc” mấy tiếng là cánh tay trái và mấy cái xương trước ngực của thiền sư đều bị gãy.

Tăng chúng đứng cạnh đó đều biến sắc, liền xông lại cứu nhưng nội tạng của Khổ Trí thiền sư đã bị thương nặng, hơi thở thoi thóp, không nói ra được một lời.

Tên Hỏa Công đầu đà nhân lúc mọi người đang hỗn loạn bèn lẻn chạy mất. Tối hôm đó vì vết thương quá nặng, Khổ Trí thiền sư tạ thế. Trong lúc cả nhà chùa đang đau đớn về đám tang ấy, tên đầu đà lại lén trở về chùa giết tên quản công bếp Hương Tích và năm vị sư xưa nay có thù hằn với y.

Tất cả chùa đều chấn động. Lão Phương trượng phái mấy chục cao thủ đi khắp nơi truy nã y, mà tìm khắp cả Giang Nam, Giang Bắc cũng không ra tung tích. Các cao tăng trong chùa vì việc này mà cãi lộn và đổ lỗi cho nhau. Thủ tọa Thiền Sư La Hán Ðường là Khổ Tuệ nổi giận bỏ chùa chạy ra Tây vực sáng lập một phái Thiếu Lâm khác.

Bọn Thiên Canh, Thiên Lao là đồ tôn của Khổ Tuệ thiền sư đó.

Sau biến cố tang tóc ấy, võ học của phái Thiếu Lâm suy đồi suốt mấy chục năm và cũng từ đó trở đi, nhà chùa mới định thêm một quy luật ”Phàm đệ tử nào không được sư phụ truyền dạy võ công mà tự học lóm thì khi phát hiện được sẽ bị xử tử, tội nhẹ cũng phải cắt đứt gân mạch để trở thành phế nhân.

Mẩy chục năm nay, trong chùa phòng vệ nghiêm ngặt, không ai dám học lóm võ công nên dần dần ai nấy đều quên hẳn luật lệ ác nghiệt ấy. Lão tăng Tâm thiện Ðường là đệ tử ít của Khổ Trí Thiền sư , lão nhớ đến cái chết của ân sư năm xưa , mà mấy chục năm qua, lão không sao quên được. Ðộtnhiên lúc này lão thấy Quân Bảo không có sư phụ mà học lóm được võ công thì lòng riêng phẫn nộ vô cùng. Giác Viễn đại sư ở trong Tàng Kinh các nên không cuốn nào lão không đọc qua. Bỗng nhớ lại việc cũ mà toát mồ hôi lạnh, liền la lớn:

– Lão Phương Trượng, việc này…việc này không thể trách Quân Bảo được.

Giác Viễn chưa dứt lời, chủ tọa Ðạt Ma Ðường đã quát to:

– Các đệ tử Ðạt Ma Ðường tiến lên bắt y.

Mười tám đệ tử Ðạt Ma Ðường nghe lịnh liền tiến lên bốn phương tám mặt bao vây lấy thầy trò Giác Viễn. Phương vị của mười tám người đó rất rộng lớn, cả Quách Tường cũng bị bao vây vào giữa. Lão tăng Tâm Thiện Ðường cũng la lớn:

– Các đệ tử La Hán Ðường sao cũng không tiến lên hợp sức?

Một trăm linh tám đệ tử La Hán Ðường nhứt tề như sấm động, quây thành ba vòng bên ngoài các đệ tử Ðạt Ma Ðường.

Quân Bảo cuống cả chân tay, cứ tưởng mình đánh đuổi Túc Ðạo là phạm quy luật của chùa, liền lên tiếng hỏi:

– Sư phụ con …con…

Hơn mười năm nay Giác Viễn sống chung với đồ đệ, tình như cha con. Biết rằng nếu Quân Bảo bị bắt thì thế nào cũng bị xử tử hay thành phế nhân, lão chưa kịp xử trí thì Vô Tướng Thiền sư đã quát to:

– Sao không ra tay còn chờ gì nữa?

Mười tám tên đệ tử Ðạt Ma Ðường miệng niệm nam mô, chân bước tới từ từ. Không hề nghĩ ngợi, Giác Viễn đại sư đột nhiên quay tít cái thùng đẩy lùi mười tám tên tăng nhân khiến cho họ không sao tiến lên được.

Ðoạn Giác Viễn nghiêng hai cái thùng bên trái múc Quách Tường, bên phải múc Quân Bảo, rồi quay thêm bảy tám vòng nữa. Hai cái thùng sắt tựa như hai trái chùy lớn sức mạnh nghìn cân, nên không ai dám giơ tay ra cản trở.
Các đệ tử Ðạt Ma Ðường tránh cả sang hai bên. Nhanh như bay Giác Viễn gánh Quách Tường cùng Quân Bảo chạy xuống núi. Bọn tăng nhân vừa chạy theo vừa la, đuổi được bảy tám dặm tiếng xích vang lên càng lúc càng nhỏ dần, cuối cùng im bặt.

Quy luật của phái Thiếu Lâm rất nghiêm, nên một khi thủ tọa Ðạt Ma

Ðường đã ra lịnh tróc nã Giác Viễn tuy biết rằng đuổi không kịp, bọn tăng chúng vẫn cứ phải đuổi theo Giác Viễn.

Thời gian càng kéo dài khinh công người nào cao thấp biết rõ ngay. Người nào khinh công kém bị bỏ xa dần. Ðuổi đến lúc trời tối sẩm, chỉ còn có năm tên đại đệ tử là còn tiếp tục đuổi theo.

Giây lát sau, năm tên đó thấy trước mặt hiện ra năm ngả đường. Bọn chúng không biết Giác Viễn chạy về ngả nào, vả lại chúng dư biết nếu đuổi kịp họ cũng không địch nổi Quân Bảo và Giác Viễn, nên kéo nhau lủi thủi trở về chùa phục lịnh.

Hãy nói Giác Viễn gánh hai người chạy hơn trăm dặm mới ngừng lại, định thần mới hay nơi đó là giữa khoảng núi rừng sương mù bao phủ tứ phía, chim về tổ từng đoàn kêu ríu rít. Giác Viễn tuy nội công rất mạnh, nhưng đã xả thân chạy một hơi xa, nên cũng thấy gân cốt mỏi mệt, nên nhất thời lão hòa thượng không sao hạ được gánh thùng sắt xuống.

Quân Bảo và Quách Tường ở trong thùng bèn nhảy ra, rồi mỗi người một bên, gỡ hai thùng sắt ở đầu đòn gánh xuống. Vì trong thùng vẫn còn phân nửa nước, Quân Bảo lên tiếng nói:

– Sư phụ hãy nghỉ ngơi giây lát, con đi kiếm cái ăn đã.

Nhưng trong dãy núi hoang xa này, có cái gì có thể ăn được chứ? Nên Quân Bảo đi đến nửa ngày trời mà cũng chỉ mang về một ít củ măng. Ba người chia nhau dùng tạm cho đỡ đói, rồi tựa vào tảng đá nghỉ ngơi. Quách Tường nói:

– Nè đại hòa thượng, tôi thấy các sư trong chùa Thiếu Lâm sao đều kỳ quặc quá tệ.

Giác Viễn chỉ ừ hừ cho qua, tuyện nhiên không dám trả lời thẳng câu hỏi.

Quách Tường liền tiếp:

-Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Ðạo tới chùa Thiếu Lâm khiên chiến, nhưng không một ai địch nổi, nhờ thầy trò hai người đánh lui được y mới bảo tồn danh tiếng chùa. Tăng chúng đã không cám ơn hai người thì chớ, trái lại còn hung hăng như lang, như hổ định tróc nã chú Quân Bảo để làm tội. Chúng không biết phân biệt trắng đen, thật là vô lý hết sức.

Giác Viễn thở dài một tiếng rồi đáp:

– Ta không thể trách lão Phương trượng với Vô Tướng sư huynh, vì chùa Thiếu Lâm có một điều lệ là… Nói tới đây lão hòa thượng ho luôn mồm, không sao nói hết lời được, Quách Tường vội chạy lại khẽ đấm vào vai Giác Viễn và nói:

– Ðại hòa thượng mệt mỏi lắm rồi, hãy nghỉ ngơi giây lát ngày mai hẵng nói tiếp.
Giác Viễn thở dài nói tiếp:

– Phải, tôi cảm thấy rất mệt.

Quân Bảo đi nhặt nhanh những cành khô gom lại đốt để sưởi. Ba người ngủ tạm dưới gốc cổ thụ. Ðến nửa đêm, Quách Tường nghe Giác Viễn lẩm bẩm tựa như tụng kinh, liền chỗi dậy. Nàng nghe hòa thượng nói nho nhỏ:

– Sức của đối phương vừa mới chạm vào da ta thì niệm của ta đã vào tới trong xương y, hai tay chống đỡ, một hơi quán xuyến. Tả trọng thì hư hữu mà đi, hữu trọng thì hữu hư mà đi .

Quách Tường rùng mình nghĩ:

– “Ta cư tưởng lão hòa thượng tụng kinh, không ngờ y đang đọc võ học quyền kinh”.

Nàng bèn lắng tai nghe tiếp. Giác Viễn đọc:

– Hơi như bánh xe theo khắp người, chổ nào không theo tứ thân liền thấy tán loạn ngay, muốn cứu vãn thì phải nhờ ở lưng và đùi. . .

Nghe tới đây Quách Tường biết ngay Giác Viễn đang đọc một quyển sách võ, liền nói thầm:

– “Vị hòa thượng này không biết một chút võ công nào, chỉ đọc sách thành si mê, những gì ghi ở trong sách y đều cho là thiên kinh địa nghĩa bất di bất dịch. Năm xưa ta ở trên đỉnh Hoa Sơn, lần đầu tiên gặp y, nghe y nói:”Ðạt Ma lão tổ trong khi viết cuốn kinh Lang Ca, lại còn viết thêm cuốn Cửu Dương chân kinh nữa”. Y bảo rằng muốn cho thân thể khỏe mạnh thì phải theo cuốn kinh đó tu luyện ắt được theo muốn. Nên hai thầy trò học theo sách đó, chớ không nhờ vả ai dạy cho cả. Vì vậy hai thầy trò y đã luyện tới cao thủ bậc nhất bậc nhì trong thiên hạ mà không biết. Như bữa nọ Tiêu Tương Tử đánh y một chưởng, y cứ đứng chịu đòn mà không việc gì, trái lại Tiểu Tương Tử bị thương nặng. Thần công

cao siêu như thế, có lẽ cha ta và đại ca cũng chưa chắc bì kịp. Hơn nữa cữ xem thầy trò y ngày hôm qua lẳng lặng đánh bại Hà Túc Ðạo, không biết có phải thầy trò y nhờ học ở Cửu Dương chân kinh mà luyện được tới mức độ đó không? Và lúc này, y đang lẩm bẩm đọc đây, không biết có phải Cửu Dương chân kinh không? ”.

Nàng bàn ngồi dậy, lắng tai nghe những lời tụng niệm của Giác Viễn để cố nhớ, nàng lại suy tính:

“Nếu những lời y tung đây quả là Cửu Dương chân kinh, thì cuốn kinh đó tinh vi lắm. Chỉ trong giây lát ta không thể nào thấu hiểu hết được. Ta cứ việc nhớ cho thật kỹ, ngày mai yêu cầu chỉ giáo cũng chưa muộn.”

Nàng lại nghe Giác Viễn lẩm bẩm đọc tiếp:

– Trước hết dùng tâm sai khiến thân hình, theo người chớ không theo mình.

Sau khi thân hình đã theo được, do mình vẫn theo người trong tay đã có mực thước. Ðo lường sức của đối thủ, to nhỏ không sai một chân lông kẽ tóc. Tiến trước, thoát hậu bước nào cũng đúng mực thước, càng luyện lâu bao nhiêu càng tinh xảo bấy nhiêu. . .

Quách Tường nghe tới đây lắc đầu nghĩ thầm:

– Không đúng không đúng. Cha và mẹ ta thường nói lúc đối địch ta phải kiềm chế người trước chớ đừng để người kiềm chế mình. Như vậy đại hòa thượng nói sai rồi.

Nang còn đang lẩm bẩm lại nghe Giác Viễn tiếp:

– Ðối phương không động ta không động, đối phương hơi động ta phải động trước. Sức lực trông như nhẹ nhàng, sự thực không phải nhẹ nhàng, làm như sắp giở sức ra, sự thật chưa giở sức ra. Hơi sức dứt, niệm vẫn chưa sức

Quách Tường càng nghe càng mơ màng. Phải biết nàng học võ từ thủa nhỏ, và ai dạy nàng cũng dạy kiềm chế người trước thế võ nào cũng phải ra tay trước đối phương. Những bí quyết quyền kinh mà Giác Viễn vừa đọc đây, trái hẳn với những lý thuyết mà nàng học bấy lâu nay. Cho nên nàng lại nghĩi

“Nếu lúc sáp trận ra tay, hai bên đấu trí mạng với nhau mà ta lại hy sinh mình theo người, kẻ địch muốn ta Ðông ta phải theo Ðông, muốn ta Tây ta phải theo Tây. Như vậy có khác gì tha hồ cho kẻ địch tấn công không? ”

Lý thuyết ra tay sau kiềm chế người cho mãi tới cuối đời nhà Minh, phái Võ Ðang đang thịnh hành vẫn áp dụng và coi trọng. Lúc này cuối đời nhà Tống, Quách Tường nghe lý thuyết đó lấy làm kinh ngạc. Chỉ vì lo nghĩ ngợi mà Giác Viễn đọc ra rất nhiều, nhưng nàng không sao nghe kịp. Bỗng nàng thấy Quân Bảo tỉnh giấc, ngồi xếp bằng tròn, lắng tai nghe. Nàng lại nghĩ :

“Bất cứ lão hòa thượng nói đúng hay sai, ta cứ việc nhớ kỹ. Cứ biết Ðại hòa thượng đã làm cho Tiểu Tương Tử bị thương và Hà Túc Ðạo phải rút lui. Những cảnh chính mắt ta trông thấy, như vậy những lời lão hòa thượng đọc đây hẳn không phải là lý thuyết suông .

Thế rồi nàng lại để nghe và nhớ nằm lòng .

Giác Viễn vẫn tiếp tục đọc, thỉnh thoảng có xem vào mấy đoạn Lăng Ca, nói tới chuyện Phật tổ lên đảo Lăng Ca thuyết pháp. Thì ra Cửu Dương chân kinh xem vào cuốn kinh Lăng Ca Giác Viễn sức học lam nham, cứ thấy chữ là đọc, cho nên mới đọc lẫn lộn.

Cũng may nàng rất thông minh, tuy kinh văn mà Giác Viễn đọc ra đảo đảo, điên điên nhưng nàng cũng đã hiểu được mấy đoạn.
Mặt trăng lặn dần, bóng người càng giờ càng dài, tiến tụng niệm của Giác Viễn cũng khẽ dần, khẽ đến nỗi có câu không sao nghe rõ được. Quách Tường liền khuyên:

-Suốt ngày tranh đấu đã mệt mỏi nhiều, lão hòa thượng hãy nghỉ ngơi chút đi.

Giác Viễn hình như không nghe lời của Quách Tường nói, cứ thản nhiên tụng niệm:

– …Sức mượn của người, hơi do xương sống phát xa. Tại sao hơi lại do xương sống phát ra, vì hơi hướng xuống phía dưới mà trâm do hai vai thâu vào xương sống dồn xuống dưới lưng. Ðó là hơi từ trên xuống gọi là hợp. Rồi lại tự lưng từ dưới đi lên gọi là khai. Hợp tức là thàn, khai tức là buôn, biết được khai hợp là hiểu được âm dương ngay.

Tiếng tụng niệm của lão hòa thượng càng chút càng nhỏ. Sau cùng không còn nghe tiếng nào cả, hình như lão hòa thượng đã thiếp đi. Quách Tường và Quân Bảo không dám lâm động, chỉ ngồi ôn lại kinh văn thôi.

Trên trời sao đã lặn, trăng đã xuống. Tây sơn, mây đen tứ phía kéo tới.

Mặt đất tối như mực. Qua một thời gian khá lâu, phía Ðông sáng dần. Chỉ thấy Giác Viễn ngồi yên không cử động chút nào, mặt lộ vẻ tươi cười. Quân Bảo khẽ nói:

– Quách cô nương có đói không? Chúng ta hãy kiếm củ năng để ăn đi.

Chàng quay đầu lại thấy phía sau một cây cổ thụ có bóng người thấp thoáng hình như đó là vạt áo cà sa màu vàng.

Chàng giật mình kinh hãi, vội quát hỏi:

– Ai đó?

Chỉ thấy một ông sư, thân hình gầy gò và cao từ phía sau thân cây bước ra. Người đó chính là Vô Sắc Thiền Sư thủ tọa La Hán Ðường.

Quách Tường vừa kinh hãi vừa cả mừng, vội lên tiếng hỏi:

– Ðại hòa thượng sao cứ đuổi theo mãi thế này? Chẳng hay Ðại Hòa Thượng muốn bắt hai thầy trò trở về chùa sao?

Vô Sắc liền đáp:

– Thiện tai!Thiện tai!Lão hòa thượng này không như những hòa thượng chỉ biết câu nệ giới luật. Lão tăng tới đây đã được nửa đêm rồi, nếu định ra tay thì hẳn không phải chờ đến lúc này. Này Giác Viễn sư đệ, Vô Tướng thiền sư đã xuất lãnh một nhóm đệ tử Ðạt Ma Ðường đang đuổi về phía Ðông tìm kiếm đó. Các ngươi hay theo phía Tây mà chạy đi.

Giác Viễn cứ nhắm mắt làm như không nghe gì cả. Quân Bảo liền tiến lại thưa:

– Mời sư phụ thức tỉnh, thủ tọa La hán Ðường đang nói chuyện với sư phụ đấy.

Giác Viễn vẫn cứ ngồi yên. Thấy vậy Quân Bảo kinh hãi vô cùng vội rờ tay vào trán sư phụ, thấy giá lạnh như băng. Thì ra Giác Viễn đã viên tịch từ lâu rồi.

Quân Bảo đau đớn vô cùng, phủ phục xuống ôm lấy xác kêu lên:

– Sư phụ!Sư phụ!

Nhưng tiếng kêu của chàng làm sao cho sư phụ chàng thức tỉnh lại được. Vô Sắc thiền sư chắp tay hành lễ, miệng niệm:”Chư phương vô vân (bốn phía không có màn mây) Từ diện giai thanh minh (bốn phía đều trong sáng) Vi phong thôi hương khí (gió nhẹ thổi mùi thơm) Chung Sơn tĩnh vô thanh (tất cả các núi yên lặng như tờ) Kim nhất đai hoan hỉ (ngày hôm nay thật vui mừng) Xã vô nguy thúy thân (hy sinh cái thể xác vô vị và mỏng manh)Vô điền giựt vô ưu (không hờn cũng không lo) Ninh đang bất thân khánh (như vậy chả vui mừng lắm ru)”.
Nói xong lão hòa thượng lẳng lặng đi liền.

Quân Bảo khóc một hồi, Quách Tường cũng chảy khá nhiều nước mắt.

Theo lệ chùa Thiếu Lâm chúng tăng viên tịch đều hỏa táng, hai người liền nhặt những cành cây khô châm lửa thiêu thân pháp của Giác Viễn. Xong đâu đấy Quách Tường liền nói:

– Này chú em họ Trương, tăng chúng Thiếu Lâm sẽ không buông tha chú đâu. Vậy phải cẩn thận lắm mới được. Chúng ta chia tay ở đây, sau này sẽ gặp gỡ lại.

Quân Bảo vừa khóc vừa đáp:

– Quách cô nương đi đâu thế? Bây giờ tôi biết đi đâu?

Quách Tường nghe Quân Bảo hỏi cũng hơi mủi lòng đáp:

– Tôi thì ở chân trời góc biển, hành tung không nhất định, tự tôi cũng không biết sẽ đi đâu. Chú em hãy còn ít tuổi lại không có chút lịch duyệt giang hồ biết đối phó cách nào? Hiện giờ tăng chúng chùa Thiếu Lâm đang tìm bắt chú chi bằng…

Nói tới đây nàng rút cái vòng vàng ở cổ tay ra đưa cho Quân Bảo và tiếp:

– Chú cầm cái vòng vàng này đi nơi thành Tương Dương kiếm cha mẹ ta thì thế nào cha mẹ ta cũng có cách giúp chú. Chú ở nhà tôi, có cha mẹ tôi che chở thì dù tăng chúng chùa Thiếu Lâm có độc ác đến đâu cũng không dám đến thành Tương Dương hại được chú.

Quân Bảo ngậm lệ đỡ lấy cái vòng, Quách Tường nói tiếp:

– Chú nói với cha mẹ tôi hay rằng tôi vẫn được bình yên như thường không khỏi lo nhớ nữa. Cha tôi rất thích những thiếu niên anh hùng, thấy chú có tài hẳn sẽ thâu làm đồ đệ. Em thì là người thật thà trung hậu thế nào cũng mến chú, riêng có chị tôi thì hơi khó tánh một chút. Có điều gì không bằng lòng là chị ấy chẳng nể nang ai cả. Nhưng chú cứ cẩn thận, đừng làm điều gì nghịch chị ấy là đư nghịch

Nói xong nàng quay mình đi liền.

Quân Bảo cảm thấy trời đất mênh mông mà mình không có một chỗ nào nương tựa an thân, nên đứng trước hỏa táng của sư phụ mà ngẩn người ra nửa ngày mới bước chân đi. Chàng đi được mười mấy trượng bỗng quay trở lại lấy đôi thùng sắt của sư phụ gánh lên vai rồi từ từ đi thẳng. Giữa hoang sơn đã lạnh, một thiếu niên thân hình gầy gò đang lủi thủi đi về phía Tây, trông thật tội nghiệp vô

cùng.

Chàng đi được nửa tháng đã đến biên giới, cách thành Tương Dương không xa. Tăng chúng trong chùa Thiếu Lâm vẫn không sao đuổi kịp.

Ðó cũng nhờ Vô Sắc thiền sư ngấm ngầm giúp đỡ, cố dẫn bọn sư Thiếu Lâm đi về phía Ðông trái ngược đường, nên chúng càng đuổi càng cách xa chàỡ,

Trưa ngày nọ chàng tới một chân núi lớn, tựa lưng vào đó nghỉ ngơi giây lát rồi hỏi thăm người qua đường, mới hay đây là núi Võ Ðương cây cối um tùm, thế núi hùng vĩ. Trong lúc chàng còn đang thưởng thức cảnh lạ đó đây, bỗng thấy một nam một nữ ăn mặc theo lối quê mùa đi sát cánh nhau, qua con đường chỗ chàng ngồi. Trông thái độ hai người rất thân mật, đủ biết họ là một đôi vợ chồng. Người thiếu nữ mồm lẩm bẩm trách cứ chồng luôn, còn người chồng cứ cúi đầu lầm lũi.

Thiếu nữ nọ lại nói:

– Anh là nam nhi đại trượng phu, không thân mà cứ đi nương nhờ anh rể và chị. Cho nên mới bị họ hạ nhục như vậy. Chúng ta có phải là người thiếu tay thiếu chân đâu? Tự mình làm lấy mà ăn thì dù canh rau miếng dưa cũng được ung dung tự nhiên hơn. Nhưng anh không có một chất chí khí, quả thật hổ thẹn cho kiếp sống trên đời. Cổ nhân đã dạy: ”Cùng lắm là chết, khi chết thì hết “, hà tất anh phải nhờ vả người vậy? ”

Người đàn ông bị vợ mắng một hồi, không dám nói lại một lời, mặt đỏ tía tai, cứ lẳng lặng mà đi.

Những lời người đàn bà nói câu nào cũng in sâu vào trí óc Quân Bảo, chàng nghĩ thầm:

“Anh là một nam nhi đại trượng phu mà không thể tự lập được ư? …

Bỗng tự dưng bị một trận sỉ nhục như vậy, cổ nhân đã dậy:Cùng lắm là chết, mà chết thì hết? . . . ”

Nghĩ tới đó chàng ngẩn người ra nhìn phía sau lưng hai người vọ chồng nọ.

Sau rốt người chồng nói mấy câu gí đó rồi ưỡn ngực duỗi thẳng lưng lên. Thế là hai vợ chồng cười rộ một hồi. Hình như người chồng đã quyết chí tự lập, nên hai người tỏ vẻ hớn hở.

Quân Bảo nghĩ tiếp:

“Quách cô nương nói rằng tính nết của người chị rất khó, ăn nói chẳng nể nang ai cả , nhưng đừng làm nghịch cha là được .

Ta là một nam nhi đại trượng phu, hà tất phải cúi đầu nhẩn nhịn một người đàn bà để được sinh sống ư?

Vợ chồng thiếu niên quê mùa kia còn biết nỗ lực tự cường, huống hồ ta Quân Bảo đây khi nào chịu phải nhờ vả người và chịu chiều theo người như chịu

Nghĩ đến đây chàng quyết định gánh đôi thùng lên trên núi Võ Ðang, kiếm một cái hang trú ẩn, khát uống nước suối, đói kiếm trái cây ăn, những lúc rỗi rãi thì luyện theo Cửu Dương chân kinh mà Giác Viễn đã truyền cho. Chàng rất mực thông minh, mà môn học của chàng là môn võ học kỳ thú. Trong mười mấy năm trời, võ công của chàng tiến bộ rất khả quan và nhanh chóng.

Và một hôm chàng đang lững thững dạo trong khe núi, thấy một con rắn và một con chim đang đấu ác liệt. Con chim từ tứ phía xông và tấn công mà không làm gì được con rắn, rốt cuộc mang thương tích mà bay đi.

Chàng liền nghĩ ngay ra một thế võ, rồi ở trong động nghiền ngẫm luôn bảy ngày đêm, mới thấu cái lẽ “lấy nhu khắc cương” bàn ngửng mặt lên trời cười một hồi.

Từ khi hiểu rõ nguyên lý đó rồi chàng căn cứ vào nội công trong Cửu Dương chân kinh mà phát minh ra những thế võ và sáng lập một môn phái làn lý đó rồi chàng

Phái võ đó là phái Võ Ðang. Sau đó chàng lên du ngoạn miền Bắc, thấy ba ngọn núi rất thanh tú, đứng trơ trọi giữa bể, lại nghĩ ra được một thế võ nữa, đặt tên là Tam Phong. Thế rồi chàng trở lên là kỳ nhân Trương Tam Phong một người kỳ lạ nhất trong hạng võ sử của Trung Quốc.

Sau đó mấy chục năm, Quách Tường đi khắp thiên hạ tìm kiếm vợ chồng Dương Qua và Tiểu Long nữ cho tới già mà vẫn không gặp. Mà giới giang hồ không ai rõ vợ chồng Dương Qua đã đi đâu và cũng không thấy xuất hiện ở nhân gian nữa.

Cho tới năm bốn mươi tuổi, Quách Tường giác ngộ liền cắt tóc lên núi Nga Mi, nghiên cứu võ học , thâu nhận đồ đệ , sáng lập ra phái Nga Mi.

Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Ðạo sau khi đại bại ở chùa Thiếu Lâm, về tới Tây Vực theo đúng lời thề, không hề bước chân và Trung nguyên nữa. Cho tới tuổi già mới thu nhận một người đệ tử truyền dạy cầm, kỳ và võ học, ba môn tuyệt kỹ.

Vì thế phái Côn Luân tuy ở tận biên giới, mà môn hạ nào cũng văn võ kiêm toàn và nho nhã hết sức.

Sau đó trong võ lâm chỉ có môn phái Thiếu Lâm, Võ Ðương , Nga Mi và Côn Luân là hưng vượng hơn cả, đời nào cũng có nhân tài xuất chúng làm rạng rỡ môn phái.

Hôm nọ, Giác Viễn đại sư ở trong núi hoang, đang lúc hấp hối tụng niệm Cửu Dương chân kinh, Quách Tường, Quân Bảo và Vô Sắc thiền sư đều nghe rõ mồn một, nhưng thiên tư và căn bản mỗi người khác nhau sự ghi nhớ và lãnh hội cũng có phần sai biệt, nên ba người truyền cho môn hạ đều có nhiều điểm khác nhau.

Quách Tường vốn giòng dõi gia học uyên nguyên, tập luyện nhiều môn nên đệ tử của phái Nga Mi võ công hết sức phức tạp và tinh xảo, chỉ một thế cũng đủ nổi danh.

Lúc Vô Sắc thiền sư nghe Giác Viễn đọc Cửu Dương chân kinh thì lão đã là một võ học đại sư, nên sau đó võ học của thiền sư càng tiến tới mức mức thượng thừa, nhưng hành công cơ bản của thiền sư không thay đổi chút nào.

Chỉ một mình Quân Bảo trừ bốn thế võ do Dương Qua truyền dạy và pho La Hán quyền mà chàng học theo hai thiết La Hán ra, chưa hề học hỏi được võ công nào cả. Cũng vì thế chàng là người hiểu biết chân nghĩa của Cửu Dương chân kinh chậm nhứt, nhiều chỗ chàng mù tịt.

Chàng thấy con chim đấu với rắn mới nghĩ ra một thế võ, nhưng đó là chuyện ba mươi năm về sau. Những kinh văn mà chàng đã nghe từ hồi còn trẻ đã quên lãng rất nhiều rồi.

° ° °

Năm Chí Nguyên nhị niên của Nguyên Thuận Ðế, tức cách năm nhà Tống diệt vong đúng sáu mươi năm tròn. Lúc ấy đang tháng ba, cuối mùa xuân, ở miền duyên hải tại Giang Nam có một tráng sĩ áo lam, tuổi trạc ba mươi chân đi giày rơm, đang lớn bước trên đường cái quan. Chàng thấy trời sắp tối đến nơi, nên không để tâm thưởng thức những cảnh đẹp ở hai bên đường.

Vừa đi chàng vừa suy tính:

– Hôm nay đã là hai mươi bốn tháng ba rồi, chỉ còn mười bốn ngày nữa.

Trong thời gian ngắn ngủi ấy, ra phải nhanh chân mới mong kịp tới Ngọc Hư Cung núi Võ Ðang để chúc mừng ân sư hưởng thọ chín mươi.

Tráng sĩ ấy họ Dư tên Ðại Nham, là đồ đệ thứ ba của Trương Tam Phong (Tức Trương Quân Bảo) tổ sư của phái Võ Ðang. Tới năm bảy mươi, võ công mới đạt thành , Tam Phong mới dám thâu nhận đồ đệ.
Nên năm đó Tam Phong đã chín mươi mà Tống Viễn, đệ tử lớn nhất trong bảy sư huynh đệ cũng chưa đầy bốn mươi. Còn người đồ đệ ít tuổi nhất năm đó mới mười mấy thôi, tên Mạc Cốc Thanh.

Tuy bảy đồ đệ của Tam Phong rất ít tuổi, nhưng đã gây tên tuổi ở giang hồ rồi. Cho nên các nhân sĩ võ lâm, hễ nhắc tới đều phải khen ngợi và nói:

– Võ Ðang thất hiệp danh môn chính phái, có ai dám gây hấn với họ đâu?

Dư Ðại Nham là đệ tử thứ ba. Năm ấy chàng thừa lịnh sư phụ đi tỉnh Phúc Kiến diệt trừ một bọn giặc chuyên môn bắt cóc và giết hại lương dân. Bọn cường đạo ấy võ công đã cao cường, lại đa mưu nhiều kế.

Chúng hay tin Ðại Nham tới tiễu trừ, liền ẩn núp một nơi, không dám ló mặt ra nữa. Ðại Nham phải tốn công hai tháng trời tìm kiếm mới ra chốn ẩn núp của chúng, liền đến tận nơi khiêu chiến.

Chàng giở Thái Cực Huyền hư đao pháp của sư môn, tới hiệp thứ mười một mới giết được tên đầu đảng và giải tán bọn cướp đấy.

Thoạt tiên chàng dự tính chỉ tốn công mười ngày là xong, ngờ đâu trước sau hơn hai tháng trời mới hoàn thành công tác.

Chàng tính đã gần tới ngày chúc thọ chín mươi của sư phụ, vì thế chàng mới phải hấp tấp để mong trở về kịp ngày.

Chàng càng đi càng thấy đường lối hẹp dần, rồi bỗng thấy một miếng đất vuông chừng bảy tám trượng canh bờ bể, bằng phẳng và sáng loáng như gương. Chàng đã đi khắp địa Giang Nam Bắc rồi, mà chưa hề thấy có một miếng đất kỳ dị như vậy.

Hồi thứ 5
Ðồ Long Bảo Đao

Chàng liền hỏi thăm thổ dân, suýt nữa chàng phải chết vì cười. Thì ra miếng đất ấy là ruộng muối. Dân chúng nơi đây tát nước bể phơi khô để lấy muối.

Chàng nghĩ thầm: “ta ăn muối ba mươi năm nay mà không ngờ phải tốn công như vây mới có đưn, sut nữa chàng

Chàng đang đi, bỗng thấy con đường nhỏ phía Tây, có hơn hai mươi người đang gánh mỗi người hai cái thúng. Chàng định thần nhìn kỹ thấy họ đều mặc quần áo vải xanh, đầu đội nón lá. Hai cái thúng đều đựng muối. Chàng cũng biết nhà vua thu thuế tự muối rất nặng, nên dân chúng ở ngay bờ bể cũng không sao ăn được muối quan (đã đóng thuế), phải mua muối của bọn lái buôn lậu mà ăn. Chàng đoán chắc bọn người đang gánh muối là bọn buôn lậu. Ðến đòn gánh của bọn chúng cũng kỳ dị, đầu cứng rắn và đen thui. Chàng biết đó là đòn sắt.

Có điều khiến chàng ngạc nhiên hơn nữa là bọn buôn lậu muối ấy, người nào cũng gánh hơn hai trăm cân nặng, mà hai chân như đi trên không, không thấy đụng đất chút nào, và chỉ trong nháy mắt, bọn họ đã vượt qua mặt chàng.

Thấy vậy, Ðại Nham liền nghĩ:

“Bọn buôn lậu muối thế nào cũng là những tay võ lâm cao thủ. Tuy đã lâu nghe bọn buôn lậu muối thanh thế rất lớn, trong phái của chúng có rất nhiều võ học danh gia. Nhưng không có lý nào hơn hai mươi tay cao thủ như thế này tụ tập cả vào một bọn như vậy ?

Chàng là người hiếu sự, nếu lúc thường, chàng đã theo dõi bọn họ điều tra cho ra manh mối, nhưng lúc này, chàng phải vộ trở về núi chúc thọ sư phụ nên không lý do chàng để ý đến việc của người. Chàng cũng rảo bước thật nhanh để mong chóng về tới Võ Ðang. Chỉ trong nháy mắt, chàng đã vượt qua bọn gánh muối.

Bọn buôn lậu thấy chàng đi nhanh như vậy đều ngạc nhiên vô cùng .

Chiều hôm đó, Ðại Nham vừa tới một thị trấn. Chàng hỏi thăm thổ dân mới hay đây là trấn An Ðông, huyện Dư Diệu. Từ đây qua sông Tần Ðường, là tới Lâm an, quay sang phía Tây Bắc, qua Giang Tây và Hồ Nam mới tới Võ Ðang. Ðêm khuya không có thuyền quá giang, chàng bèn phải vào một tiểu khách sạn ở trấn An Ðông nghỉ tạm.

Cơm nước xong, chàng vừa lên giường bỗng nghe tiếng ồn ào, mới hay có một bọn người tới nghĩ điếm. Tiếng nói đều là giọng quê Triết Ðông. Người nào người nấy đều trung khí rất mạnh. Chàng liền ló đầu nhìn ra mới hay bọn chúng là bọn buôn lâu muối khi nãy. Ðáng lẽ những khách buôn lậu rất hào phóng, đi tới đâu cũng ăn uống bừa bãi, sao bọn người này chỉ gọi ít rau đậu xào để ăn cơm.

Cơm nước xong, bọn họ đi ngủ liền,không hề uống một giọt rượu nào cả. Ðại Nham không để ý tới điều đó, liền lên giường ngồi xếp bằng tròn theo tâm pháp của sư phụ dạy là luyện khí công ba lần, rồi mới để ý .

Nửa đêm, chàng bỗng nghe phòng bên cạnh có tiếng kêu “cách’ một cái, liền thức dậy ngay.

Chàng nghe một người khẽ nói:

Chúng ta lẳng lặng mà đi, dừng lên tiếng làm kinh động người khách phòng bên mà sinh chuyện lôi thôi.

Những người khác không nói gì cả , chỉ khẽ đẩy cửa đi ra ngoài sân. Ðại Nham nhìn qua khe cửa sổ thấy hơn hai mươi người buôn muối lậu quảy gánh lên vai, rồi cùng nhau nhảy qua bờ tường đi liền. Chàng biết võ công của bọn chúng không hơn mình. Ðáng lẽ chàng lại tiếp tục đi ngủ, nhưng vì lời nói của họ vừa rồi, khích động lòng nghĩa hiệp của chàng , nên chàng mới suy nghĩ thầm “Bon người buôn muối lậu này lén lén lút lút như vậy, chắc thế nào cũng có gì gian trá bên trong. Nay để ta bắt gặp, khi nào ta lại để chịu cho yên cho chúng hãm hại người lương thiện. Cứu được mạng người hiền, dù có lỡ ngày chúc thọ, ân sư mà hay biết cũng không trách mắng”

Vì lúc mới bắt đầu truyền dạy võ công cho các môn đồ, Trương Tam Phong đã dặn bảo bọn chúng phải hành hiệp trượng nghĩa, cứu dân độ thế. Sở dĩ tên tuổi của Võ Ðang thất hiệp lừng lẫy khắp giang hồ, không những vị võ nghệ của họ cao cường mà còn vì lòng nghĩa hiệp hay giúp đỡ người của họ cũng được giới võ lâm hâm mộ. Lúc ấy Dư Ðại Nham nhớ tới lời dạy của sư phụ, liền vác túi vác khí giới lên vai, vọt qua cửa sổ, giở khinh công Tả Phi Thức nhanh nhẹn nhảy qua bờ tường đi ngay.

Lắng nghe tiếng chân người đi về phía Ðông Bắc, Ðại Nham hít một cái thật dài, giở khinh công nhắm phía đó mà rảo chân đuổi theo. Ðêm ấy, mây đen phủ đầy trời, trăng sao đều mất dạng, trong bóng tối, Ðại Nham thấy hơn ba mươi cái bóng người vai gánh gánh đang chạy trên bờ ruộng muối. Chàng nghĩ thầm: “Bọn buôn muối lên đường trong lúc đêm khuya như vậy là chuyện rất thường, nhưng bọn người này tên nào tên nấy võ công cao cường, nếu chúng muốn làm những trò phi pháp, đừng nói chi vào nhà giàu trộm cướp, có muốn phá cướp ngân khố, quan quân cũng chẳng làm gì được chúng. Vậy chúng hà tất phải lén lút đi buôn lậu muối như thế này? Chắc thế nào bên trong cũng có mưu mô gì đây?
Không đầy nửa tiếng sau, bọn buôn lậu đã đi được hơn hai mươi dặm đường. Cũng nhờ Ðại Nham khinh công giỏi, chân lại nhẹ nhàng nên chàng theo dõi bấy nhiêu lâu mà những người kia không hay biết gì. Lúc ấy mọi người đã đi tới bờ biển, bỗng thấy người đi đầu khẽ huýt sáo một tiếng, những người đi theo sau đều ngừng lại. Người đi đầu khẽ hỏi :

– Ai đó?

Trong bóng tối có tiếng khàn khàn hỏi lại:

– Có phải nhóm có ba chìm thuỷ ở bên cạnh không?

Người đi đầu đáp:

– Phải các hạ là ai?

Ðại Nham nghĩ thầm: ” Có phải nhóm có ba chìm thuỷ ở bên cạnh là cái gì?

Chàng suy nghĩ một hồi liền hiểu ngay: “Phải rồi, đó là Hải Sa Phái. Ba chữ Hải Sa Phái có ba chấm thuỷ ở bên cạnh”

Chàng nghe người có giọng khàn khàn nói tiếp:

– Việc bảo đao Ðồ Long, tôi khuyên các người đừng nhúng tay vào.

Người đi đầu rùng mình kinh hãi, vội hỏi lại:

– Thế ra ngài cũng vị Ðồ Long Ðao tới đây phải không?

Trong bóng tối chỉ nghe tiếng cười khinh khỉnh của người có giọng khàn khàn, chớ không nghe y trả lời ra sao.

Tiếng cười của người nọ kỳ lạ vô cùng, ai nghe cũng thấy khó chịu. Chàng đang ẩn thân sau tảng đá bỗng đi vòng ra phía trước. một người bé nhỏ gầy gò đứng ngăn cản giữa đường, trong bóng tôi chàng không rõ mặt mày, chỉ thấy tay y cầm một cái quải, mình mặc áo cẩm bào lóng lánh. Chàng lại nghe tên thủ lãnh phái Hải Sa nói tiếp:

– Thanh Ðồ Long Ðao nguyên là bảo vật trấn phái của bổn phái, sau bị kẻ gian trộm mất chúng tôi phải đòi về cho được.

Người mặc áo gấm cười khì khì, vẫn nghênh ngang đứng cản lối đi. Người đứng sau tên dẫn đường quát to:

– Tránh ra, con chó kia! Có phải người muốn chết phải không?

Y chưa dứt lơi, bỗng kêu rú lên một tiếng thảm thiết, rồi ngã lăn ra đất chết liền.

Bọn hải Sa thấy đồng bạn bị đánh ngã vội vàng chạy lại, mới hay người nọ đã tắt thở rồi. Ai nấy đều kinh hãi và tức giận, có mấy người đặt gánh xuống, đuổi theo người mặc áo gấm. Ðại Nham ngạc nhiên vô cùng và nghĩ thầm: “người khách mặc áo gấm không sử dụng ám khí gì không thấy y giơ tay, cũng không thấy động thân mình, mà đối phương đã chết như vậy. Ta đứng cách y không xa, sao ta không thấy rõ?”

Chàng lại lùi về phía sau tảng đá, không dám cử động gì cả, sợ bọn Hải Sa Bang thấy mà gây sự phiền phức. Chàng lại nghe người dẫn đầu nói:

– Ta hãy bỏ xác chú tư sang bên, lo liệu việc lớn cần hơn rồi chốc nữa quay lại sẽ chôn cất chú sau. Kẻ thù ấy là ai, sau này chúng ta sẽ rõ thôi.

Mọi người lại vâng lời gánh chạy thẳng về phía trước.

Ðại Nham chờ họ đi xa rồi mới lại gần cái xác xem xét. Chàng thấy người nọi co rúm như con tôm, đoán ngay người đó trúng nọc độc gì rất lợi hại. Chàng sợ trúng phải nọc độc nên không dám mó vào cái xác đó. Chàng liền đuổi theo bọn buôn lậu muối nọ.

Bọn người ấy đi mấy dặm, bỗng người dẫn đầu huýt một tiếng còi, mọi người rẽ sang hai bên, rồi tiến thẳng đến một căn nhà lớn ở phía Dông Bắc. Ðại Nham nghĩ thầm: “Bọn họ có nói tới Ðồ Long Ðao, chẳng lẻ con dao ở trong nhà này chăng ?

Chàng đưa mắt nhìn căn nhà trước mặt thấy trên mái có một ống khói, khói đen bốc lên ngùn ngụt. Bọn buôn lậu muối đặt gánh xuống rồi mỗi người trong tay cầm một cái gáo gỗ, múc ra một chất trắng như muối, như bột rồi rải tứ phía. Ðó có phải là muối không vậy? Chàng lại nghĩ thầm: “Sao tối hôm nay có nhiều chuyện lạ kỳ như vậy? Ta về kể lại chắc các vị sư huynh không thể tin”

Nhưng chàng thấy bọn buôn lậu kia trong khi rắc muối có vẻ cẩn thận lắm, như là chúng sợ muối bám vào nhiều vây. Lúc này chàng mới biết muối đó có chất độc rất mạnh, bọn này rắc muối định hại người trong nhà, tháy vậy lòng nghĩa hiệp thúc đẩy, chàng nghĩ thầm:

“hai bên ai phải ai trái ta không cần biết tới, nhưng bọn người này giở trò quỉ quái thiếu quang minh chính đại dù sao ta cũng phải bảo cho người trong nhà biết để khỏi bị những người này hãm hại”

chàng thấy bọn Hải Sa Bang rải sắp tới phía mình liền vòng quanh một vòng rồi nhảy qua bờ tường tức thì.

Toà nhà lớn đó trước sau có năm căn, tổng cộng độ chừng ba bốn mươi gian. Trong nhà không có căn nào có lửa. Ðại Nham nghĩ thầm: “Ta thấy rõ ràng có khói ở căn nhà giữa bốc ra, thế nào cũng có người ở đó”
Ðoạn chàng sợ bọn kia nghi là kẻ thù ra tay ám hại thì phiền lắm, liền nhặt một thanh củi đốt cháy để làm bó đuốc, giơ cao lên và nói:

– Ðệ tử phái Võ Ðang, Dư Ðại Nham có việc cần gặp, tuyệt nhiên không có ý gì khác, xin chớ hiểu lầm .

Chàng nói như vậy hai lần, dù người trong phòng kín cũng nghe nhưng chàng nhắc đến hai lần mà không có ai trả lời cả. Ðại Nham là một anh hùng hào kiệt danh môn, tuy trong toà nhà đó âm thầm tối đen trông rất rùng rợn nhưng không tỏ vẻ sợ hãi chút nào, liền vận chân khí nghinh ngang đi vào toà nhà đó qua một cái sân, đi tới tận hậu sảnh, vừa định thần nhìn kỹ phải kinh hãi lùi lại. Thì ra ở góc sảnh có hai cái xác nằm dưới đất, một mặc áo đạo sĩ, một mặc áo nhà quê. Hai người đều lớn tuổi mặt mày méo mó trông thật rùng rợn, chắc trong lúc chết dã đau khổ vô cùng. Nhưng chàng thấy hai cái xác đó không có một vết tích gì mà cũng không có chút máu, đoán rằng không phải họ chết vì khí giới. Chàng bàn tiếp tục tiến lên, thấy cửa nào cũng tối đen như mực, không biết bên trong có những gì. Ngoài ánh sáng của cây củi trong tay chàng soi sáng được vài thước, còn thì tứ phía đều tối om. Dù chàng can đảm và giàu kiến thức đến đâu gặp trường hợp này cũng phải giật mình. Chàng lại xuyên qua một cái vường đến sảnh bên thì thấy cảnh tượng này còn rùng rợn hơn nữa. Nói tới đây có hơn hai mươi xác chết nằm ngổn ngang, người này cầm dao kiếm đâm người kia. Chàng liền nghĩ:

“Trong nhà này thể nào cũng có thảm trạng võ lâm rất lớn. Cứ xem những khí giới mà họ sử dụng ta cũng biết trong đó có nhiều danh gia đệ tử. Những khí giới đó là Ðục điểm huyệt, Ngũ Hành Luân, Phán Quan bút. Nếu không giỏi điểm huyệt làm sao họ sử dụng được những khí giới này? Nhưng tại sao họ lại chết nơi đây?”

Lúc mới vào toà nhà này chàng rất ung dung bình tĩnh. Từ lúc thấy xác của nhiều tay cao thủ chết ngổn ngang chàng kinh hãi vô cùng, lại lớn tiếng:

– Ðệ tử của phái Võ Ðang, Dư Ðại Nham có việc cần mong tiền bối cao nhân cho kính cáo.

Chàng chỉ nghe ở bên sảnh phía giữa có tiếng :bít bếp” của củi cháy và tiếng thổi vù vù vọng tới chứ không có tiếng ai trả lời, chàng đi qua một tấm vách chiếu và tấm bình phong mới vào được trong chính sảnh, đột nhiên thấy sáng rõ, một luồng hơi nóng xông ra. Thì ra trong sảnh có một cái lò lúa xây bằng đá lửa đang bốc khói nghi ngút. Bên cạnh lò có ba người đứng ba góc đang vận khí thổi vào lò. Trên mặt lò có một con dao dài độ bồn thước bề ngang.

Ba người đó đều là những ông già trạc sáu mươi tuổi người nào người nấy cũng mặc quần áo xanh, tro bụi phủ đầy mặt. Những đom đóm lửa trong lò văng tứ tung. Người nào cũng phùng mang thổi vào lò. Ngọn lửa trong lò bốc cao năm trượng và cứ chạy quanh đơn đao có tiếng kêu xì xì. Ðại Nham thấy cảnh của ba ông già nội công thâm hậu vô cùng, sức thổi mạnh hơn bất cứ ống bễ nào, chàng cách lò mấy trượng mà còn không chịu nổi, sức nóng không tưởng tượng được. Nhưng thanh đơn đao đó vẫn xanh biếc như trước. Lúc ấy bỗng trên mái nhà có tiếng quát lớn:

– Có mau ngừng lại không? Các người thật là vô lương tâm, muốn phá huỷ bảo đao có phải không?

Ðại Nham nghe tiếng nói đó kinh hãi vô cùng vì chàng biết người đó là người khách mặc áo gấm đã gặp giữa đường. Ba ông già luyện kiếm hình như không nghe gì cả, lại càng thổi mạnh và nhanh hơn trước.

Chàng nghe thấy người trên mái như cười nhạt, rồi trước mái hiên như có 1 chiếc lá nhẹ nhàng rơi. Chỉ thoáng cái người khách đã lẻn vào trong sảnh. Nhờ ánh sáng lửa, Ðại Nham nhìn rõ mặt người nọ, khách mặc áo gấm là 1 thiếu niên tuổi ngoài hai mươi, mặt mày thanh tú. Thanh niên đó không cần hỏi han, lạnh lùng nói:

– Trường Bạch Tam cầm, các người đã khổ công lấy được thanh Ðồ Long Ðao thì cứ giữ yên đấy, sao lại phá huỷ thần vật ấy?

Vừa nói chàng vừa từ từ tiến lên.

Ông già phía tây trong bọn Trường Bạch Tam cầm giơ tay trái ra, đưa thẳng năm ngón tay vừa nhọn vừa gầy nhắm mặt thiếu niên áo gấm cào tới. Thiếu niên áo gấm né tránh và tiến lên một bước. Ông già phía Ðông thấy chàng tới gần liền cầm cái búa rất lớn để cạnh đó bổ luôn vào đầu thiếu niên áo gấm.

Chàng áo gấm rất nhanh nhẹn, chỉ thấy nủ một cái là búa ông già đánh hụt, nghe “bùng” một tiếng, cái búa to rơi xuống đất, đom đóm lửa bắn tứ tung. Ông già ở phía Tây bỗng xông lại giúp sức tấn công. Hai tay của y như hai cái chân gà, múa lên múa xuống thế trông lợi hại vô cùng.

Ðại Nham thấy vậy kinh hãi nghĩ thầm: “những người này không biết có thâm thù gì mà ra tay ác độc thế? Thế nào cũng muốn giết đối phương cả?”

Nhưng võ công của thiếu niên nọ rất đặc biệt và kỳ lạ. Lúc nào y cũng tươi cười mà ung dung ra tay ngăn đỡ. Hai ông già tấn công mãi mà không làm gì được chàng trai. Ðấu được mấy hiệp, ông già sử dụng búa sắt quát lớn:

– Các hạ là ai? Muốn lấy được bảo đao cũng phải để lại tên họ cho anh em lão biết!

Thiếu niên áo gấmcười nhạt, không trả lời, đoạn quay mình một cái, chỉ nghe “lắc cắc” hai tiếng, ông già ở phía tây dã bị đánh gãy hai tay. Cái búa sắt trong tay ông già ở phía Ðông cũng bắn lên, xuyên qua mái nhà rơi xuống sân ngoài. Ông già đó khôn ngoan vô cùng, thấy tình thế bất lợi dù có hợp sức ba người cũng không sao chống nổi, bèn vội dùng kềm gắp thanh Ðồ Long ở trong lò ra.

Ông già phía Nam cầm sẵn ám khí chờ dịp may ném vào đối phương, nhưng thiếu niên quay mình như chong chóng không sao ra tay được.

Ông ở phía Ðông dùng kềm gắp thanh Ðồ Long ở trong lò lên, y biết thanh bảo đao này mà lọt vào tay ông già đó cũng khó đòi lắm, liền nghĩ:

“Y có bảo đao ra làm sao địch lại”

Nghĩ đoạn, y cho tay vào lò nắm luôn cán đao đem ra trước. Tuy thanh Ðồ Long Ðao chưa đỏ nhưng nóng vô cùng. Tay ông già vừa cầm vào thấy khói trắng bốc lên rất khét chứng tỏ bàn tay ông già đã bị cháy xém. Nhưng y không chịu buông, tựa như điên như cuồng không còn biết đau đớn là gì.

Tay vẫn cầm con Ðao Ðồ Long, y định nhảy về phía sau. Mọi người thấy vậy kinh hãi vô cùng. Nhưng ông già cứ cầm thanh đao chạy thẳng ra ngoài. Thiếu niên áo gấm cười nhạt nói:

– Ðâu có dễ như thế!

Ðoạn chàng duỗi cánh tay đã nắm được vai ông già nọ. Ông già thuận tay chém một đao ngược về phía sau. Ngọn đao chưa tới, hơi nóng đã phủ mặt tóc và lông mày thiếu niên đều cháy xém. Chàng hơi kinh hãi, không dám giơ chưởng lên chông đỡ, chỉ phất tay mạnh một cái, ông già nọ ngã lăn ra phía lò lửa.

Ðại Nham đừng cạnh xem mấy người chiến đấu, thấy họ hung ác vô cùng, người nào người nấy cũng có vẻ rất gian tà. Tuy nhiên việc không liên quan gì đến mình, chàng cũng không cần ra tay can dự.

Khi thấy ông già sắp thiệt mạng đến nơi, chàng không cần biết ai phải ai trái, cứ thấy có người lâm nguy là ra tay cứu giúp, liền tung minh tới giơ tay túm luôn tóc của ông già nọ xách lên.

Rồi chàng nhẹ nhàng hạ chân xuống cạnh lọ. Khinh công thần tốc ấy của phải Võ Ðang có thạ nói là đứng đầu các phái võ trong thiên hạ, gọi tên là thế vân tung.

Thiếu niên áo gấm và Trường Bạch Tam Cầm thấy chàng đứng đó đã lâu, nhưng không ai để ý đến, giờ đột nhiên chàng giở một món khinh công đó ra, ai nấy đều kinh hãi vô cùng. Thiếu niên áo gấm xếch ngược lông mày lên tiếng quát :

– Khinh công này có phải là Vân Thế Tung nổi tiếng thiên hạ chăng?

Ðại Nham thấy thiếu niên nói trúng khinh công của mình cũng phải giật mình, nhưng chàng cũng đắc y vô cùng và nghĩ:

“võ công của phái Võ Ðang ta vanh danh trong thiên hạ ,ai mà không biết”

Ðoạn chàng trả lời:

_-không dám! Xin ngài cho biết tôn danh đại tánh.võ công nhỏ mọn của tại hạ không đáng nhắc tới.

Thiếu niên áo gấm lại nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Khinh công của phái Võ Ðang được khen là thiên hạ vô song, quả nhiên khá thật.

Giọng nói của người thiếu niên đó kiêu ngạo vô cùng, tuy khen khinh công của Ðại Nham nhưng giọng nói có vẻ như giọng người trên khen kẻ dưới.

Thấy thái độ và lời nói của thiếu niên như vậy, Ðại Nham tức giận vô cùng, nhưng vẫn cố nén rồi nói:

– Giữa đường, ngài đã ra tay đánh chết cao thủ của phái Hải Sa, võ công của ngài cũng thần xuất quỉ mạt, khiến cho người ta không thể đo lường được cao thâm ra sao.

Người nọ nghe chàng nói như vậy, rùng mình nghĩ thầm” Hành động của ta y thấy rõ cả mà ta không thấy được y. như vậy không hiểu tiểu tử này lúc ấy núp ở đâu.

Ðoạn y lạnh lùng nói:

– Phải, võ công đó người khác không thể nào lãnh hội, không nói các hạ, đến ông già họ Trương phái Võ Ðang cũng chưa chắc lãnh hội được.

Ðại Nham là người có tiếng nhịn rất giỏi, mặc dù nói xấu chàng như thế nào chàng cũng không lên tiếng cãi lại. Nhưng lần này chàng nghe thiếu niên nói nhục ân sư nên không nhịn được. Tuy nhiên đệ tử phái Võ Ðang trọng tu tâm dưỡng tánh hơn cả võ công, nên chàng nghĩ: Y có ý gây hấn, không hiểu có dụng gì không? Người này võ công quái dị, ta không nên vì mấy lời nói đó mà gây hấn thêm thù địch cho môn phái .

Ðoạn chàng mỉm cười trả lời:

– Võ công trong thiên hạ vô cùng tận, chính bọn tà đạo cũng có hàng nghìn hàng vạn. Môn võ học của phái Võ Ðang chúng tôi chỉ là một hạt thóc trong vựa thóc võ lâm. Võ công của ngài quả là tôn sư không biết.

Mấy lời của chàng tuy rất khiên tốn, nhưng nghĩa sâu sắc. Tự chàng muốn nói “Phái Võ Ðang không thèm biết đến võ công của bọn bàng môn tả đạo .

Ông già đứng bên Nam tay cầm cán Ðao Ðồ Long cháy hồng nên da thịt cũng bị cháy xém. Hai ông già đứng phía Ðông và Tây đang chuẩn bị xông tới, người nào cũng muốn thừa có cướp lấy bảo đao.

Ðột nhiên có tiếng kêu vừa vù. Thì ra ông già ở phía Nam múa đao xông thẳng ra bên ngoài. Tuy y không định chém giết ai, nhưng Ðại Nham đứng ngày trước mặt y, thấy thể đao lợi hại võ công mà cứ nhắm mình chém tới. Chàng không ngờ mình ra tay cứu ông già đó thoát chết mà y lại giở mặt chém mình.

Trong lúc nguy cấp, chàng vọt nhảy lên cao để tránh bảo đao. Ông già nọ tay nắm lấy cán đao chém bừa chém loạn như điên, một mặt xông thẳng ra ngoài.

Thiếu niên áo gấm với hai ông già nọ đều kinh hãi, vì thế đao lợi hại nên không ai dám ngăn cản, chỉ đuổi theo phía sau hò hét.

Ðại Nham cũng duổi theo, khinh công của chàng hơn những người kia rất nhiều nên tuy đi sau mà đến trước, chỉ thoáng cái chàng đã đến bên cạnh ông già cầm đao. Ông già này hai tay cầm đao, lúc chân vừa đụng đất lại loạng choạng suýt ngã như vì cây đao quá nặng. Ðột nhiên y thét lên một tiếng hình như đã bị thương .

Thiếu niên áo gấm và hai ông già nọ vội nhảy tới cướp đao. Nhưng cả ba đều kêu la như bị rắn độc cắn phải. Riêng thiếu niên võ công cao siêu hơn, vừa ngã đã tung mình nhảy lên liền vội nhảy ra bên người.

Cả ba ông già Trường Bạch Tam Cầm cứ nằm lăn lộn dưới đất.

Ðại Nham định ra tay cứu người nhưng lại giật mình hãi kinh và chàng sực nghĩ ra chuyện người phái Hải Sa đã dùng muối độc có lẽ đụng lên da thịt là nguy. Chàng nghĩ thầm: “Xung quanh nhà đều có muối độc, muốn ra khỏi đây ra cũng không có cách gì”

Ðoạn chàng đưa mắt nhìn bốn bề thấy sau cửa lớn mỗi bên có hai chiếc ghế mới nghĩ ra một cách, liền kéo hai cái ghế đó lại chồng lên rồi nhảy lên mỗi chân đứng trên một ghế, đi như cà khêu. Chàng thấy ba ông già kêu khóc thảm thiết lăn lộn liền liền, trông ghê rợn vô cùng.

Ðại Nham biết lúc này nguy cơ đang phục bốn bên, không kịp nghĩ ngợi gì liền xé luôn một mảnh áo buộc vào tay, rồi nhanh tay túm luôn ông già ôm bảo đao rồi bằng hai cái ghế đó đi thẳng về phía Ðông.

Hành động của chàng quả thật khiến phái Hải Sa không ngờ. Chúng thấy sắp được bảo đao đến nơi, dè đâu giữa đường chúng bị Ðại Nham cướp.

Khi nào chúng chịu thua, nên cũng quát tháo và móc túi lấy ám khí nhắm lưng Ðại Nham ném lia lịa.

Ðại Nham hai chân dùng sức nhún mình nhảy một cái, kẹp cả cái ghế nhảy về phía trước, thế là tất cả ám khí đều hụt. Nhờ có ghế bên dưới thành ra hai chân chàng đột nhiên dài thêm được bốn thước nên chàng lại càng đi nhanh hơn.

Ði bốn năm bước chàng đã xa bọn Hải Sa.

Nhưng chàng nghe phía sau bọn hải sa vẫn đuổi theo kêu la om sòm . Chàng tức giận vô cùng, liền tung mình nhảy lên cao, hai chân đá trở lại hất luôn hai cái ghế về phía sau, chỉ nghe “bình bình” đã có ba bốn người kêu la. Chắc chúng bị hai cái ghế đó ném trúng.

Nhờ sự cản trở đó, lại thêm khinh công của Ðại Nham lợi hại vô cùng, nên thoáng cái chàng đã chạy xa mấy chục trượng. Mặc dầu tay chàng vẫn xách ông già nọ.

Chàng càng chạy càng xa, biết bọn Hải Sa không sao đuổi kịp nữa. Ðại Nham chạy một hồi nghe tiếng kêu ảo não, phía sau không có người duổi theo, liền lên tiếng hỏi:

– Ông có sao không?

Ông già không trả lời, vẫn rên rỉ, tay ôm chặt bảo đao. Ðại Nham nghĩ thầm: “người này dính muối độc, trước hết phải tắm rửa cái đã.

Chàng đi đến bờ biển chỗ nước cạn, nhúng ông già xuống nước, nhưng tay vẫn không dám đụng vào mặt nước. Ông già nọ nửa mê nửa tỉnh ở dưới nước một lúc lâu mà chưa bò dậy được. Ðại Nham định giơ tay kéo lên thì bỗng một làn sóng đẩy ông già lên bãi cát.

Ðại Nham liền nói:

– Bây giờ ông đã thoát nạn rồi, tại hạ có việc cần, thôi chúng ta chia tay ở đây.

Ông già nọ gượng dậy nói:

– Các hạ sao không cướp lấy bảo đao?

Ðại Nham cả cười đáp:

– Bảo đao tuy tốt thật, nhưng không phải của tôi, tôi cướp làm gì.

Ông già nọ ngạc nhiên vô cùng, không thể tin được, lớn tiếng nói tiếp:

– Các hạ có quỉ kế gì định làm gì lão thế?

Ðại Nham liền đáp:

– Tôi với ông không thù không oán thì tôi đói xử tệ với ông làm gì? Tối hôm nay tôi qua đây thấy ông trúng độc bị thương mới ra tay cứu giúp.

Ông già nọ lắc đầu la lớn:

– Số mạng của ta ở trong tay ngươi, muốn giết thì giết chứ đừng giở thủ đoạn ác độc ra làm hại ta.

Ta dù có chết cũng hoá thành ác quỉ không tha người đâu.

Ðại Nham biết ông già đó bị thương nặng, nên bấn loạn. Chàng không thàm cãi vã, mỉm cười đang định quay đi, đột nhiên có một ngọn sóng lớn bắn tới, làm ướt cả quần áo của chàng.

Ông già nọ rên rỉ một tiếng rồi phục ở trong nước bể run cầm cập.

Ðại Nham nghĩ thầm” cứu người phải cứu tới cùng. Ông già này trúng độc rất nặng nếu ta bỏ mặc mà đi thế nào ông ta cũng bị chôn thân dưới đáy biển.

Chàng liền túm lấy áo ông già nọ, xách lên trên đồi nhỏ rồi đưa mắt nhìn chung quanh thấy phía Ðông Bắc có một tảng đá nhô ra, trên có một căn nhà như cái miếu, liền túm ông già chạy lên đó. Chàng thấy tấm bảng treo đó đã tróc sơn rất nhiều, có viết ba chữ Hải Thần Miếu, Liền đẩy cửa đi vào. Bên trong rất giản dị, cát bụi bám đầy tường và không có ông từ ở đó. Chàng liền đăt ông già nằm trên bục gỗ trước bàn thờ, rồi móc túi lấy đá lửa ra đánh lửa nhưng đã bị nước bể làm ướt cả rồi. Chàng đứng dậy di tới bàn thờ sờ tay một hồi quả nhiên thấy có đá lửa. Chàng liền đánh lửa châm đốt cây nến cháy dở ở đó. Nhờ ánh sáng nến chàng mới thấy rõ mặt ông già nọ đã tím bầm, hiển nhiên trúng độc rất nặng. Chàng kinh hãi vô cùng, vội móc trong túi lấy viên Thiên Tâm giải độc đơn vội vã nói:

– Ông hãy uống viên giải độc đơn này đã. Ông già nọ đang nhắm nghiền hai mắt nghe chàng nói mở mắt nhìn và đáp:

– Lão dù chết cũng không chịu uống viên thuốc độc dược hại người này.

Ðại Nham nhịn giỏi đến đâu lúc này cũng phải nổi giận, trợn mắt và nói:

– Ông tưởng tôi là ai. Võ Ðang thất hiệp có tồi bại đến đâu cũng không bao giờ làm những việc hại người hèn nhát. Viên thuốc này là giải độc đơn nhưng chưa chắc cứu ông thoát chết được. Ít ra nó cũng có thể giúp ông sống thêm ba ngày nữa nên tại hạ khuyên ông nên lấy con Ðao Ðồ Long đổi lấy thuốc giải độc của phải Hải Sa cứu mạng mình thì hơn.

Ông già nọ đọt nhiên nhảy phắt lên quát tháo:

– Lão nhất định không chịu cho ai lấy thanh Ðao Ðồ Long này.

Ðại Nham lại nói:

– Ông không còn tánh mạng thì bảo đao có lợi ích gì?

Giọng run run, ông già nọ liền đáp:

– Lão đánh chịu chết chớ con Ðao Ðồ Long này vốn là của lão.

Nói xong ông già nọ ôm chặt thanh dao, dí má vào lưỡi đao ra chiều quí mến lắm.

Ðại Nham thấy vạy, lòng hiếu kỳ thúc đẩy muốn biết lai lịch thanh đao này và sự quí báu của nó ra sao. Nhưng chàng thấy hai mắt ông già nọ chứa đầy vẻ tham lam hung ác, tựa con thú đói định kiếm mồi, trông rất đáng ghét, liền quay lưng bỏ đi.

Ông già nọ quát lớn:

– Ðứng lại, đi đâu thế?

Ðại Nham cười nói:

– Tại hạ đi đâu thì việc gì đến ông.

Nói xong, chàng ung dung đi ngay nhưng đi được một khoảng lại nghe ông già lớn tiếng khóc. Tiếng khóc rất bi đát, tựa như con thú bị thương kêu rú, chứa đầy nỗi đau tuyệt vọng. Chàng xúc động, nổi lòng nghĩa hiệp quay lại hỏi:

– Tại sao ông khóc có vẻ bi đát thế?

– Lão khổ sở biết bao mới lấy được thanh bảo đao Ðồ Long này, nhưng trong chớp mắt tánh mạng không còn nữa thì thanh đao này có lợi ích gì?

Ðại Nham lại hỏi:

– Sao bây giờ có đem thanh đao này đổi lấy thuốc giải của phái Hải Sa không?

Ông già nọ khóc lóc:

– Nhưng lão không nỡ vứt bỏ thanh dao này.

Trông hình dáng của ông già nọ thật buồn cười. Ðại Nham muốn cười nhưng không dám cười ra tiếng, lát sau mới nói:

– Một người có võ học, phải biết dùng võ học của bản thân để khắc địch chế thắng hành đạo trượng nghĩa, lưu danh hậu thế. Còn bản thân bảo đao bảo kiếm chỉ là vật ngoại thân, được cũng không đáng mừng, mất cũng không đáng ngại. Lão trượng hà tất phải vì con đao này mà bận tâm dến thế?

Lão già nọ cả giận đáp;

– Các hạ có biết võ lâm chí tôn bảo Ðao Ðồ Long hiệu lệnh thiên hạ Mạc cảm bất tùng không?

Chẳng hay các hạ đã nghe ai nói câu này chưa?

Ðại Nham thất thanh cả cười đáp:

– Mấy câu này tất nhiên tại hạ nghe nói, bên dưới còn hai câu nữa ‘ ỷ thiên bất xuất thuỳ dữ tranh phong’.

Những lời ấy có lẽ đề cập tới chuyện kinh thiên động địa xảy ra trong võ lâm mười mấy năm về trước chớ không phải nói Ðồ Long Ðao gì đâu.

Ông già nọ lại tiếp:

– Chuyện gì mà kinh động đến thế? Các hạ có thể kể cho lão nghe được không?

Ðại Nham liền đáp:

– Việc này ai ai trong võ lâm cũng biết. Mấy câu đó chỉ Thần Ðiêu Ðại Hiệp Dương Qua giết vua Mông Cổ là Hiếu Tân, khiến ai ai cũng hỉ hả vô cùng. Từ đó Dương đại hiệp có hiệu lệnh gì võ lâm anh hùng đều nghe theo. Do đó mới có câu “Mạc cảm bất tòng” (không dám không theo). Long tức là vua. Ðồ Long là chỉ việc giết vua Mông cổ, chớ trên thế gian này làm gì có rồng thiệt.

Ông già nọ cười nhạt:

– Lão hỏi các hạ, năm xưa Dương đại hiệp sử dụng khí giới gì?

Ðại Nham ngẩn người giây lát mới đáp:

– Tại hạ nghe sư phụ nói Dương đại hiệpcụt một cánh tay, bình thường không bao giờ sử dụng khí giới.

Hôm đó Dương đại hiệp ở ngoài thành Tương Dương ác chiến với Kim Luân Pháp Vương thì sử dụng kiếm.

Ông già nọ lại hỏi: -Ðúng đấy, nhưng Dương đại hiệp giết vua Mông Cổ bằng gì?

Ðại Nham đáp:

Dương đại hiệp dùng đá ném chết vua Mông cổ Hiếu Tôn, tất cả thiên hạ ai ai cũng biết.

Ông già nọ có vẻ đắc chí hỏi tiếp:

– Bình thường Dương đại hiệp dùng chưởng và kiếm. Khi giết vua Mông Cổ dùng đá. Như vậy Bảo Ðao Ðồ Long bốn chữ có phải là nói chuyện đó đâu?

Câu này khiến Ðại Nham khó nghĩ. Nghĩ một lát chàng mới đáp:

– Câu đó võ lâm thuận miệng nói vậy, chẳng lẽ người ta lại nói Thạch Ðâu đồ long sao? (hòn đá giết rồng). Nói vậy có phải khó nghe không?

– Giảng nghĩa như vậy thật vô lý lắm, lão lại hỏi các hạ : Thiên bất xuất thuỳ dữ tranh phong nghĩa là gì ?

Ðại Nham ngẩn người giây lát rồi đáp:

– Thiên có lẽ là tên người. Nghe nói võ công của Dương đại hiệp do vợ truyền dạy. Như vậy, Thiên là tên của Dương phu nhân hay biệt hiệu của Quách Tỉnh?

Ông già nọ lại tiếp:

– Thế à? Tôi đoán các hạ không sao giảng giải được nên mới giải thích vớ vẩn như vậy. Hãy nghe lão nói đây: Ðồ Long là một thanh đao, tức thanh đao này đây. Còn hai chữ Thiên là chỉ thanh kiếm, sáu câu này là “Vật Chí tôn trong võ lâm là thanh Ðao Ðồ Long. Ai mà được thanh đao này bất cứ hiệu lệnh gì tất cả các anh hùng hảo hán thiên hạ đều phải theo lịnh mà thì hành. Quí hồ bảo kiếm yêu tinh không xuất hiện thì thanh đao Ðồ Long này là một khí giới sắc bén nhất trong thiên hạ .

Ðại Nham bán tín bán nghi liền nói:

– Lão trượng đưa thanh đao đó cho tại hạ xem có gì thần kỳ không nào?

Ông già nọ cứ khư khư giữ chặt thanh đao, cười nhạt đáp:

– Bạn ngỡ lão là đứa trẻ lên ba sao mà lừa lấy thanh đao này.

Ông già nọ sau khi trúng độc gân cốt đã suy nhược, chỉ nhờ uống một viên giải đọc đơn của Ðại Nham, nên mới phấn chấn được một chút. Lúc này vì dùng quá sức nên lại rên liên tiếp.

Ðại Nham mỉm cười đáp:

– Không đưa cho tại hạ thì thôi. Lão trượng tuy được thanh đao Ðồ Long này nhưng có sai khiến được ai đâu? Chẳng lẽ tại hạ thấy lão trượng ôm thanh đao này mà phải nghe lời sao? Thật buồn cười vô cùng. Lão trượng là một người đã có tuổi mà còn nghe những lời đồn đại vô căn cứ đó, rốt cục mất mạng đến nơi mà cũng còn chấp nê không chịu tỉnh ngộ. Lão trượng ôm thanh đao kia mà không sai khiến được tại hạ đủ biết thanh đao này quả không có gì thần kỳ cả.

Ông già nọ không còn nói được một tiếng gì nữa, một lúc sau mới lên tiếng:

– Lão đệ, lão ước hẹn với lão đệ như sau: nếu lão đệ cứu lão khỏi chết lão sẽ chia cho lão đệ một nửa chuyện lợi ích của bảo đao này.

Ðại Nham ngẩng mặt lên trời cả cười đáp:

– Sao lão trượng coi rẻ đệ tử phái Võ Ðang chúng tôi như thế? Phò nguy tế khốn là phận sự của anh em chúng tôi. Lão trượng đã trúng phải muối độc mà tại hạ không biết những muối đó có chất độc gì. Bầy giờ lão trượng đi yêu cầu phái Hải Sa chữa trị cho.

Ông già nọ liền đáp:

– Thanh đao này do lão lấy trộm của phái Hải Sa, chúng đang hận lão vô cùng thì khi nào chúng lại chịu cứu lão.

Ðại Nham nói:

– Lão trượng trả lại thanh đao cho họ thì mối oan cứu đó được hoá giải ngay, như thế chùng còn hại lão làm gì nữa.

– Lão thấy võ công của lão đên cao siêu như vậy hẳn đủ tư cách tới chỗ ở của phái Hải Sa để lấy trộm thuốc giải mà cứu lão.

Ðại Nham đáp:

– Một là tại hạ có việc cần phải đi không thể trì hoãn, hai là lão trượng lấy trộm bảo đao của người ta, đó là cái quấy. Nay tại hạ không thể nào làm thêm việc quấy nữa. Lão trượng mau mau đi kiếm người của phái Hải Sa đi, nếu trể chất độc phát ra chữa không kịp đấy.

Ông già nọ thấy chàng định đi, vội lớn tiếng gọi:

– Thôi được, lão xin hỏi lão đệ câu này: lúc lão đệ xách người lão có thấy gì khác lạ không?

– Tại hạ cũng lấy làm ngạc nhiên vì lão là người bé nhỏ như thế, mà tại sao lại có thể nặng đến hai trăm cân?

Mà tại hạ cũng thấy lão trượng không có mang theo vật nặng nào cả?

Hồi thứ 6
Thuyền Buồm Huyết Chưởng

Ông già nọ để thanh đao Ðồ Long xuống và nói:

– Bây giờ lão đệ nhấc lão lên thử xem.

Ðại Nham đưa tay nắm luôn ông già giở lên, quả nhiên thấy nhẹ vô cùng, chỉ vào khoảng tám mươi cân, chàng mới biết rõ liền nói:

– Thế ra thanh đao đó nhỏ mà nặng hơn trăm cân, quả thật kỳ lạ. Bây giờ tại hạ mới biết đó không phải là một vật tầm thường.

Nói xong chàng để ông già xuống.

Ông già lại nói:

– Thanh dao đó không những nặng mà thôi đâu. Chẳng hay lão đệ quí tính họ Dư hay họ Trương?

Ðại Nham đáp:

– Tôi họ Dư, tên Ðại Nham. Tại sao lão trượng hỏi vậy.

Ông già vừa cười vừa nói;

– Tống Ðại hiệp Võ Ðang thất hiệp, tuổi tác lớn quá, Mạc nhị vị Ðại hiệp tuổi chỉ trạc hai mươi, còn nhị Tam lương hiệp họ Dư và tứ ngũ Ðại hiệp họ Trương ai mà chẳng biết.

Thì ra lão đệ là Dư Tam hiệp, thảo nào võ công siêu tuyệt đến thế, Võ Ðang thất hiệp quả là danh trấn thiên hạ, hôm nay lão được gặp mặt quả thật danh bất hư truyền.

Ðại Nham tuy tuổi không lớn lắm, nhưng chàng cũng đã lão luyện giang hồ, nghe ông già khen ngợi mình như vậy biết ý lão chẳng qua muốn mình giúp đỡ. Nên chàng chỉ mỉm cười, lòng căm ghét thêm rồi lên tiếng hỏi:

– Lão trượng quí tánh là gì?

– Tiểu lão nhi họ Ðức, tên Thành, trên đường Liêu Ðông các bạn đặt cho biệt hiệu Hải Ðông Thanh.

Hải Ðông Thanh là một con chim ưng lớn sinh trưởng ở vùng Liêu Ðông, tánh rất hung ác chuyên bắt các cầm thú nhỏ để ăn. Loại chim đó nổi tiếng hung ác nhất quan ngoại.

Ðại Nham chắp tay vái chào và nói:

– Ngưỡng mộ lão trượng đã lâu.

Nói xong chàng ngẩn mặt lên trời nhìn. Ðức Thành biết chàng muốn đi, nếu không dùng lợi quyến rũ chàng ở lại thì không sao cầu được chàng ra tay giúp cho nên nói:

– Lão đệ tưởng ai cầm thanh đao Ðồ Long rồi lên tiếng phát lệnh là ai ai cũng phải nghe theo chớ gì? Lão đệ hiểu như vậy là sai.

Ông già nói tới đây, hạ thấp giọng tiếp:

– Dư lão đệ, thanh đao Ðồ Long bên trong có dấu một cuốn bảo chọ bí kíp. Có người nói cuốn đó là Cửu Dương Chân Kinh. Nếu lấy được cuốn chân kinh đó ra mà học võ công sẽ cái thế, thì con ai địch nổi mà không tuân lịnh chứ.

Cửu Âm , Cửu Dương hai bộ chân kinh đó Ðại Nham đã nghe sư phụ nói qua , chỉ vì năm xưa Giác Viển đại sư viên tịch, Võ Ðang, Thiếu Lâm , Nga My mỗi phái có một vài chương của cuốn kinh thôi. Nhưng cuốn kinh đó đã thất truyền từ lâu, còn Cửu Âm chân kinh mấy chục năm nay ít ai nhắc tới. Lúc trà dư tửu hậu, các người trong võ lâm thường đem chuyện đó ra bàn, bán tín bán nghi, mỗi người cho đó là lời đồn thôi.

Ðức Thành thấy Ðại Nham có vẻ không tin, lại tiếp theo:

– Chúng tôi là Trường Bạch Tam Cầm lấy trộm được bảo đao rồi định dùng lửa đốt cho bảo đao này chảy ra để lấy cuốn chân kinh đó nhưng vì không giữ được kín mà những người thèm muốn bảo đao theo bén gót. Dư lão đệ hãy đi lấy trỘm thuốc giải đến đây cứu cho tiểu lão nhi đó rồi anh em ta tìm chỗ vẵng cùng lấy kinh ra luyện công. Mấy năm sau trong võ lâm chỉ có anh em ta xưng hùng xưng bá, lão đệ nghĩ sao?

Ðại Nham lắc đầu đáp:

– Việc này không tin được. Dù trong đao có kinh thật, khi đao chưa nung chảy thì những giấy bên trong đã thành tro rồi.

Ðức Thành đáp:

– Con dao này sắc bén vô cùng. Dù có dùi đục sắc bén tới đâu cũng không đục nổi, chỉ có cách dùng lửa nung mà thôi.

– Hai người nói tới đây, Ðại Nham biết sắc, tay phải giơ thẳng ra phảy một cái, ngọn đèn trên bàn thờ tắt phụt, rồi khẽ nói:

– Có người đến đây!

Nghe vậy Ðức Thành kinh hãi lắng tai nghe nhưng y không nghe thấy gì vì vậy có ý không tin. Nhưng mấy giây sau đó, y đã nghe thấy tiếng người kêu gọi nhau và tiếng chận chạy thẳng đến phía miếu.

Ðức Thành kinh hãi vội nói:

– Kẻ địch đã đuổi tới, chúng ta mau chạy ra sau miếu đi.

Ðại Nham đáp:

– Phía sau miếu cũng có người rồi.

Ðức Thành có vẻ không tin:

– Chưa chắc!

Ðại Nham đáp:

– Ðức Thành lão , những người tới đây là bọn phái Hải Sa đấy! Như vậy rất tiện cho lão trượng hỏi chúng lấy thuốc giải độc. Tại hạ không muốn dính vào. Câu chuyện đó phúc hoạ như thế nào là tuỳ vào lão trượng quyết định lấy.

Ðức Thành giơ tay ra nắm chặt lấy cổ tay Ðại Nham, run run nói:

– Dư tam hiệp xin chớ bỏ tiểu lão này. Mong tam hiệp không nên đành tâm như vậy.

Ðại Nham thấy năm ngón tay của Ðức Thành giá lạnh như băng cắm sâu vào da thịt cổ tay mình, liền lộn tay giở thế Cử Chuyển Ðơn Thần quay một vòng, hất luôn ngón tay của đối phương ra.

Ðức Thành cảm thấy nắm ngón tay đã như bị bẻ gãy, nhưng trong giai đoạn khẩn trương này y biết chỉ Ðại Nham ra tay mới cứu giúp y thoát chết.

Nếu bảo y ngoan ngoãn hai tay dâng vật chí bảo của võ lâm mà y đã thí mạng mới cướp được thì còn đau khổ hơn là dứt đi một vài miếng thịt. Ông già nọ đưa hai tay ôm chặt lấy Ðại Nham. Ðại Nham giật mình định hất bắn hai cánh tay đối phương ra. Nhưng có ngờ đâu lúc này Ðức Thành tựa như một xác chết đuối vớ phải một vật gì không bao giờ chịu buông, nên xương lão bị chạm kêu “răng rác”. Ðại Nham sợ dùng sức hất mạnh tí nữa hai tay đối phương sẽ gãy, chàng không nỡ nhẫn tâm liền quát lớn:

– Lão trượng có buông tay ra không?

Lúc ấy bên ngoài có tiếng chận người vọng vào, tiếp theo đó, một tiếng kêu bùng vang lên.

Thì ra đã có người đá cánh cửa miếu, cú đá mạnh vô cùng, cánh cửa bị bay tung lên cao.

Ðại Nham thấy vậy phát sợ, nghĩ thầm” “sức của người này khá mạnh ta chớ nên khinh địch”

Chàng nghĩ xong, múi đã ngửi thấy một mùi tanh rồi thấy có một vật trong bóng tối ném tới. Chàng vội cúi mình xuống tựa như con lươn vậy lướt mình ra khỏi Ðức Thành. Thân pháp của chàng vừa kỳ lạ vừa nhạnh nhẹn đi trước ám khí đó, nhảy tới sau thân tượng Hải Thần Bồ Tát.

Ðức Thành kêu ối chà một tiếng, tiếp theo đó có mấy tiếng soẹt soẹt thì ra những ám khí đó đã ném trúng ông già đó. Sau đó, chàng còn nghe tiếng ông già ấy ngã xuống đất. Tiếp theo nghe những ám khí tới tấp bay vào. Chàng càng ngửi mùi tanh hôi càng nồng thêm, hình như có mấy trăm ngàn con cóc chất chồng vào một nơi. Ðức Thành tránh Ðông né Tây tựa như một đại hán say sưa loạng choạng ngã tới ngã lui, nhưng Hải Thần Miếu quá chật hẹp, ông già đó bị ám khí ném đến choáng váng cả đầu óc nên bị ném trúng luôn luôn.

Ðại Nham nghe tiếng ám khí rơi xuống liền nghĩ thầm:”Chẳng lẽ những ám khí này là đoạn mệnh độc xà? Nếu như vậy, Ðức Thành bị ném trúng nhiều như vậy làm sao chịu đựng nổi?”

Chàng đang nghĩ ngợi đột nhiên tỉnh ngộ và nghĩ tiếp:

“Ừ phải rồi, có lẽ là muối độc của phái Hải Sa”.

Chàng chỉ nghe tiếng gió kêu vù vù, muối độc cứ liên tiếp ném vào trong, dù có võ công cao cường chàng cũng không dám xông ra bên ngoài, tiếp theo đó chàng nghe trên mái nhà có tiếng kêu lách cách. Thì ra đã có người nhảy lên mái nhà lật ngói ra mà ném muối độc xuống.

Ðại Nham giật mình nghĩ thầm:”Chả lẽ ta chết oan uổng ở chốn này?

Thật không ngờ vô duyên vô cớ mà lại mang đại hoạ vào thân , vì chàng đã thấy thiếu niên áo gấm với Trường Bạch Tam Cầm bị hại bởi những muối độc như thế nào rồi. Trương Bạch Tam Cầm võ công tầm thường chịu không nổi cũng không lạ, nhưng thiếu niên áo gấm, võ công tuyệt luân mà khi bị dính muối độc cũng kêu la thảm khốc thì đủ biết muối độc đó lợi hại như thế nào rồi.

Muối độc ở trong miếu nhỏ bay tứ tung khiến Ðại Nham buồn nôn. Chàng biết trước nếu cứ thế này thế nào cũng dính phải, chàng chợt nghĩ ra một kế, bèn giơ tay đập vỡ phía sau lưng tượng thần. pho tượng ấy trống rỗng ở bên trong, chàng chui ngay vào trong, không khác gì khoác một cái áo đất thật dày, mà muối độc không làm gì được chàng nữa.

Muối độc của phái Hải Sa cốt dùng nhiều mà thắng địch, chứ phát động chậm, vì thế Ðức Thành ở trong miếu cứ kêu la luôn mồm mà chưa bị nằm liệt một chỗ. Mọi người của phái Hải Sa sợ võ công của Ðại Nham lợi hại, nên chúng không dám đương nhiên tấn công.

Chúng định làm cho hai người bị độc ngã lăn nằm yên một chỗ rồi mới ung dung vào trói bắt và cướp thanh đao Ðồ Long.

Những kim châm thiết xa có chất độc, khi bắn trúng vào thân thể con người thì chất độc đó theo mạch máu chạy khắp chân thân. Những thứ lợi hại đó hễ gặp máu là phát độc ngay.

Còn những muối độc này do ngoài da truyền vào, chất độc từ từ phát ra rốt cuộc cũng có thể làm cho người ta chết được.

Ðại Nham trốn trong ruột tượng thần biết đó không phải là thượng kế, nên vẫn đợi phái Hải Sa sơ suất một chút là nhảy luôn lên mái nhà. Chàng vội lấy ra hai viên linh đơn giải bách độc uống vào, một mặt chờ thời cơ. Sau khi uống thuốc chàng không còn thấy buồn nôn như trước nữa.

Lúc ấy, chàng nghe bọn người phái Hải Sa đang lớn tiếng bàn tàn ngoài miếu:

– Không còn tiếng la nữa chắc là bọn chúng đã mê man bất tỉnh rồi?

Lại một tên nữa lên tiếng:

– Tên trẻ tuổi võ công cao siêu lắm, hãy đợi một phút nữa, hà tất phải vội vàng.

Lại một tên nữa nói:

– Lần này chúng ta lập được đại công chắc xong đâu đấy đại ca sẽ trọng thưởng .

Một lát sau lại nghe tiếng một người quát lên:

– Này những đứa trong miếu, khôn hồn thì ra khỏi miếu đầu hàng, để khỏi phải chết oan chết uổng.

Tiếp theo đó có một tiếng hiệu, mười mấy người xông cả vào miếu, những người này đều có thuốc giải nên không sợ muối độc.

Ðại Nham nghĩ thầm:

“Ta với phái Hải Sa không oán không thù, ta không nên tham thanh bảo đao Ðồ Long đó.

Chi bằng ta nhảy ra ngoài đó nói rõ sự thực có phải hơn không?

Nhưng chàng sực nghĩ lại:

“Phái Võ Ðang danh trấn thiên hạ, bây giờ ta ra nói chuyện với chúng như thế có khác nào ta đầu hàng ? Như vậy có phải làm tổn thanh danh của sư môn không?”

Trong lúc đang nghĩ ngợi, bỗng từ xa có tiếng rú vọng tới, tiếng rú đó rất nhỏ nhưng ai nghe cũng phải kinh hồn, động phách. Chàng nghe tiếng rú đó ngẩn người giây lát, chỉ trong thoáng cái tiếng rú ấy đã tới cửa miếu. Chàng ngạc nhiên vô cùng, vì thoạt tiên nghe tiếng rú đó, ai cũng đoán biết ở ngoài xa mười mấy dặm, nhưng chỉ trong thoáng cái tiếng rú đó đã đến trước mặt rồi.

Trên thế gian này chỉ có chim bay nhanh nhất, trừ phi người đó cưỡi trên con chim mới nhanh như vậy. Bằng không, dù người ấy có cưỡi thiên lý mã cũng không nhanh như thế được. Trong khi đang thắc mắc, thì tiếng rú đó ngừng hẳn, chàng bỗng nghe tiếng Ðức Thành la lớn:

– Người, người cũng muốn lấy thanh Ðồ Long Ðao. Bạch Mi..

Chàng nghe tới đây rồi im lặng. Trong miếu ngoài miếu mấy chục tên phái Hải Sa cũng im lặng nốt. Bốn bề tĩnh mịch như tờ. Hình như những người đó đột nhiên chết cứng, hay hoá thành đá, hay là chúng thấy vật gì rùng rợn, mà chúng sợ đến ngẩn người không nói được nửa lời?

Trong khung cảnh yên lặng như tờ đó, bỗng nghe một tiếng “bốp”. Trong miếu hình như có người bị thương, tiếp theo đó có giọng nói run run:

– Bạch mi, Bạch mi.. anh em chúng ta mau đi thôi tiếng nói chưa dứt, đột nhiên ngừng ngay. Ðại Nham chắc bọn Hải Sa đã thấy quái vật vào tới trong miéu mà khiếp đảm. Mọi người không dám đào tẩu.

Dư càng ngạc nhiên vô cùng, lại suy nghĩ tiếp: “Bạch Mi là cái gì? Chẳng lẽ một con mãnh thú hung ác? Hay y là một nhân vật rất lợi hại, khiến ai cũng phải thất kinh?” . Kế chàng nghe một người nói:

– Giáo chủ hỏi các ngươi, con đao Ðồ Long hiện ở đâu? Mau lấy ra biếu giáo chủ, thì giáo chủ sẽ tha chết cho.

Giọng nói nghe rất hiền từ và thân thiết, khiến người nghe không lấy gì làm sợ, nhưng rất oai nghiêm. Chàng lại nghe một người trong phái Hải Sa trả lời:

– Chính y… y đã lấy trộm , chúng tôi đuổi theo tói đây. Thưa giáo chủ. Giáo chủ tiếng hiền từ lại tiếp:

– Này, con đao Ðồ Long ở đâu?

Ðại Nham đoán ngay ra người ấy đang hỏi Ðức Thành, nhưng không nghe Ðức Thành trả lời. Chỉ nghe bộp một tiếng, có tiếng ngã phịch xuống đất. Chàng buột miệng la nho nhỏ “nguy tai” vì chàng biết Ðức Thành đã bị chúng giết. Một mình chàng chống không nổi đối phương nhưng đã trót nhúng tay vào tuyết không thể khoanh tay mà chạy”

Chàng liền nghĩ thầm: “Ta sợ như thế không phải là đấng trượng phu” . Ðoạn chàng định chui ra để hỏi cho rõ ngọn nguồn. Bỗng nghe giọng lanh lảnh nói:

– Người này đã chết vì sợ hãi, thử khám xét mình y xem.

Ðại Nham giật mình nghĩ thầm:

“Sao lại hoảng sợ tới chết được”.

Chàng vừa nghe tới đó đã nghe tiếng sột soạt của người khám xét trong mình kẻ bạc mạng, rồi tiếng hiền từ nói tiếp:

– Không có vật gì cả.

Lát sau người đầu lãnh của phái Hải Sa nói run lên:

– Thưa giáo chủ, chính y đã lấy trộm con dao đó, chúng tôi không giấu diếm đâu.

Nghe giọng nói của người đó có thể đoán là y đang bị tầm mắt của giáo chủ soi mói mà đâm ra hoảng loạn. Sợ không dám tiếp thêm. Tuy Ðại Nham là người tài cao táo bạo nhưng nghe những tiếng động vừa rồi chàng cũng hơi sợ sệt và nghĩ tiếp:

“Rõ ràng là con dao đó Ðức Thành đang cầm trong tay, sao lại biến mất lạ lùng kỳ ảo như vậy?

Chàng nghe tiếng hiền từ cất lên:

– Các người bảo con dao chính y đã lấy trộm sao không thấy trong mình y? chắc các người đã giấu đi rồi phải không? Vậy ai nói rõ con dao đó ở đâu ta sẽ tha chết cho. Trong các người, ta chỉ tha chết cho một người sống thôi, bây giờ ai nói trước người đó sẽ được toàn mạng.

Trong miếu im lặng như tờ, tên thủ lãnh phái Hải Sa lên tiếng:

– Bẩm giáo chủ, quả thật chúng tôi chẳng biết gì cả, nhưng thế nào chúng tôi cũng hết sức tìm cho ra.

Vị giáo chủ chỉ dùng giọng mũi “hừ” một tiếng chớ không nói năng gì cả. Ðột nhiên một người la lớn:

– Chúng ta hét sức cực nhọc tìm kiếm bảo đao, quả thật không thấy đâu cả. Bây giờ giáo chủ chủ nhất định không tin thì đằng nào cũng chết chi bằng hôm nay chúng ta liều mạng với mi, để Bạch Mi .

Câu đó chưa dứt đã đột nhiên ngưng ngay.

Ðại Nham đoán có lẽ tên đó đã bị kết liễu mạng sống rồi.

Chàng nghe một giọng nói khác:

– Vừa rồi có một đại hán trạc ba mươi tuổi đã cứu ông già này tới đây, võ công của y rất lợi hại nhưng không biết bây giờ y ở đâu. Chắc thanh bảo kiếm đó đã bị y cướp mất.

Giáo chủ liền đáp:

– Ðược lắm, ta sẽ để cho người này không chết.

Giáo chủ nói xong, đi ngay. Ðại Nham kêu gọi:

– Tôi ở đây, chớ giết hại người vô tội.

Chàng biết thuộc hạ của giáo chủ đang ra tay độc thủ giết hại những người của phái Hải Sa nên vội chui ra ngoài. Ðại Nham ngạc nhiên vị không thấy ai ngoài bọn Hải Sa. Chàng đưa mắt nhìn quanh, thấy mọi người yên lành cả, nhưng không hề cử động chút nào, trông thật thâm trầm lạnh lùng vô cùng.

Chàng kinh hãi hết sức, liền thắp đèn lên và kinh hãi hơn bèn thất thanh là “ủa” một tiếng.

Thì ra hai mươi người của Hải Sa đều mê man cả như bị thuốc mê hay bị điểm huyệt.

Người nào người nấy vẻ mặt trông rất rùng rợn. Dù Ðại Nham là người võ công cao, trống ngực cũng đập mạnh. Chàng nghĩ thầm:”giáo chủ Bạch Mi giáo không hiểu ba đầu sáu tay gì mà bọn Hải Sa tên nào tên nấy đều hung ác dũng mãnh thế này mà mới thấy giáo chủ đã hãi sợ đên thế?” Chàng liền giơ tay đẩy vào Cái huyệt của nàng đứng cạnh, định giải huyệt cho y. ngờ đâu người đó đã cứng đờ không đông đậy gì cả. Chàng vội rờ vào mũi thì thấy y hết thở, mới hay y bị điểm trúng tử huyệt. Chàng lại khám xét từng người một thấy hơn hai mươi người của phái Hải Sa đều chết ráo. Chỉ có một người đang phục dưới đất đang thở hổn hển thôi. Chắc người này lên tiếng sau cùng nên được giáo chủ tha chết. Ðại Nham kinh hãi thắc mắc vô cùng và nghĩ thầm:”Ta nghe giáo chủ nói để cho người này khỏi chết, thì biết ngay sinh mạng những người khác sẽ nguy liền chui ra ngay, nhưng ngờ đâu chỉ trong khoảnh khắc mà tên giáo chủ đó đã hạ độc thủ hơn hai mươi người. Thủ pháp của y thật trên đời hiếm thấy”

Ðoạn chàng đỡ người còn sống sót dậy và hỏi :

– Bạch Mi giáo là giáo gì? Giáo chủ chúng là ai?

Nhưng tên nọ cứ trố mắt ra ngơ ngác như người rồ dại, Ðại Nham liền nắm tay thăm mạch, thì ra mạch của y loạn hết. Y tuy không chết nhưng đã có mấy đường mạch quan trọng của y đã bị đánh đứt, nên không nói được và thành người ngớ ngẩn.

Ðại Nham không kinh hãi nữa, trái lại tức giận vô cùng và nghĩ thầm:

“Bạch Mi Giáo là quái gì mà giáo chủ ra tay tàn độc như thế này?” Chàng lại nghĩ võ công của đối phương cao siêu như thế , còn chàng thì đơn thương độc mã làm sao địch lại.

Chàng nghĩ ngợi giây lát rồi quyết định về núi Võ Ðang thưa lên sư phụ biết trước và điều tra rõ Bạch Mi Giáo là gì rồi cùng Võ Ðang thất hiệp để đấu với Bạch Mi Giáo một phen.

Chàng nghĩ tiếp:

“Dù Bạch Mi có lợi hại đên đâu, bảy anh em ta liên hiệp tranh đấu, cũng không đên nỗi nào. Như vậy, khỏi phải kinh động đến sư phụ” , nhưng chàng thấy những người của phái Hải Sa chết uổng mạng, trong lòng thật bất nhẫn, chàng lại thấy trong miếu tịch đấy muối độc như tuyết trắng, liền nghĩ:

“Bọn người này chuyên làm việc ác nên rốt cục bị kẻ ác tiêu diệt. Nhưng những xác này cứ để yên trong miếu, chỉ sợ dân chúng không hiểu nguyên nhân mà đi bừa sẽ bị hoạ lây” đoạn chàng cúi xuống nhặt khí giới ở phía sau chùa đào một cái hố sâu, rồi vứt hết những cái xác vào hố. Khi khiêng xác ra ngoài chàng rất cẩn thận bởi sợ trúng phải muối độc.

Khi chàng đem xong mười mấy cái xác ra, đến một cái xác nằm dưới đát thì thân mình hơi ngả về phía trước, xác đó nặng vô cùng. Chàng nhìn kỹ lại thấy người đó không có gì khác thường, không hiểi sao lại nặng như vậy? Chàng liền nhấc lên xem thì thấy phía sau lưng y có một vết thương mà rờ tay vào đó thì cảm thấy giá lạnh như băng và lấy ra được một con dao. Con dao đó nặng ít ra cũng trên trăm cân. Ðó chính là con dao Ðồ Long mà bao nhiêu người đã xả thân thí mạng., quên tất cả để tranh cướp. Thì ra Hải Ðông Thanh Ðức Thành xưa nay vẫn sợ hãi tên giáo chủ Bạch Mi, nên vừa thấy giáo chủ y đã sợ hãi mất cả hồn vía như chết khiếp. Con dao Ðồ Long trong tay y rơi xuống chém trúng ngay sau lưng một người trong bọn Hải Sa. Chỉ vì con dao đó quá nặng, lưỡi dao lại quá sắc bén nên đã cắm sâu vào mình tên nọ. Những tay thuộc hạ của Bạch My khám xét mọi người, nhưng không để ý đến cái xác ấy. Nếu Ðại Nham không động lòng từ thiện đem chôn thì con đao Ðồ Long từng làm chán động võ lâm đã phải mai một.

Ðại Nham chống thanh đao xuống đất đứng ngơ ngẩn nghĩ:

“Tuy con dao này võ lâm chí bảo, nhưng theo ta nhận xét lại là một vật rất xui. Hải Ðông Thanh với bọn phái Hải Sa đều mất mạng vì nó. Ta nên đem con dao này về dâng cho sư phụ để sư phụ định đoạt” . Sau khi chôn xong hết mấy cái xác chàng sợ muối độc trong miếu bay ra làm hại người và súc vật xung quanh nên chàng lượm cành khô chất vào miếu, châm lửa phóng hỏa. Lau chùi con dao Ðồ Long, đứng cạnh đống lửa hồng chàng xem xét thấy nó đen lánh không phải vàng, không phải bạc hay thép không hiểu chế bằng thứ gì?

Từ mũi đao xuống tới cán có một cái ngấn xanh mờ mờ. Chàng thấy Trường Bạch Tam Cầm đã dùng lửa thiêu đốt mà không hề suy chuyển chút nào, quả thật là một vật báu.

Chàng liền nghĩ:

“Con dao này nặng như vậy, lúc lâm trận làm sao sử dụng? đến như quan Vân Trường có thần lực hơn người mà sử dụng thanh Long Ðao cũng nặng độ tám mươi cân thôi” . Ðoạn chàng gói con dao vào gói rồi hướng về mộ Ðức Thành vái; “Kính Ðức lão trượng, tôi không phải là người mưu đoạt con dao này, nhưng dao là vật kỳ báu trong thiên hạ nếu lọt vào tay kẻ ác ắt chúng sẽ gây hại cho nhân gian. Sư phụ của tôi là người đại trí sẽ xử trí một cách hoàn hảo” .

Khấn xong, chàng liền vác áo lên vai, rảo chân về phía Bắc. Ði được nửa tiếng , đến bờ sông. Lúc ấy ánh sáng của trăng sao chiếu xuống mặt sông đẹp vô cùng. Chàng đưa mắt nhìn xung quanh không thấy có chiếc thuyền nào, đành thả bộ dọc ven sông. Chàng đi một lúc thấy phía xa có một chiếc thuyền câu đậu cách bờ mười trượng, ngư phủ đang mải mê thả câu. Chàng lên tiếng gọi:

– Ngư phủ đại ca! Làm ơn cho tôi quá giang đệ xin hậu tạ., vì thuyền đậu khá xa ngư phủ hình như không nghe tiếng chàng gọi nên vẫn ngồi yên. Ðại Nham liền vận hết nội công, gọi vài tiếng nữa. Lát sau chàng thấy một chiếc thuyền nhỏ trương cao buồm từ trên thượng lưu theo ven bờ thả xuống. Lúc thuyền đó tới chỗ Ðại Nham đứng, người lái đó lên tiếng trước:

– Có phải khách định quá giang đấy không?

Ðại Nham cả mừng đáp:

– Ðúng thế, phiền đại ca giúp cho.

Người lái đó đáp:

– Quá giang một chuyến thì phải trả một nén bạc.

Ðại Nham thấy người lái đò đòi hơi đắt, nhưng nghĩ mình phải qua song cho kịp nên cũng bằng lòng.

– Thôi được, một lạng bạc cũng được.

Ðoạn chàng tung mình nhảy xuống thuyền mũi thuyền bị trầm xuống tức thì.

Người lái đò không có phòng bị nên suýt bị ngã lộn xuống sông, kinh hãi hỏi:

– Sao khách nặng thế, trên người khách mang vật gì vậy.

Ðại Nham liền lấy ra một lạng bạc ra đưa cho người lái đò, vừa cười vừa nói:

– Không có chi, chỉ vì khinh công của tôi non nớt đó thôi.

Tuy vậy người lái đò vẫn tỏ vẻ hồ nghi đôi mắt cứ nhìn chằm chằm vào lưng Ðại Nham.

Chiếc thuyền thuận buồm xuôi gió, đi tréo sang sông, nhanh nhẹn vô cùng. đi được một dặm bỗng thấy phía xa có sóng ngầm bủa tới, tiếng sóng càng lúc càng to.

Ðại Nham liền hỏi:

– Đại ca nầy, trời sắp mưa lớn phải không ?

Người lái đò vừa cười vừa đáp :

– Đó là thủy triều ban đêm của sông Triều Đường, thuận nước mà đi chỉ trong chớp mắt sẽ tới bờ sông bên kia ngay, nhanh còn hơn gió thổi.

Đại Nham đưa mắt nhìn về phía Đông thấy có làn mây trắng đang cuồn cuộn kéo tới. Tiếng sóng động phút càng lớn, không khác gì tiếng động của muôn binh ngàn mã. Chàng liền nghĩ :

“Không ngờ trong đời lại có cảnh lạ như thế này, hôm nay ta mới được sáng mắt, thật không uổng chuyến đi nầy. ”

Đại Nham thấy những làn sóng như bờ tường nước, nhanh nhẹn xô tới. Chàng đang ngắm nhìn, bỗng thất thanh kêu một tiếng. Thì ra một chiếc thuyền buồn đang cởi sóng lướt về phía chàng. Trên buồm trắng có vẽ một bàn tay máu thật lớn, trông bàn tay đó như giương ra để chộp lấy chàng vậy. Thật là rùng rợn ! Trong đêm khuya bỗng thấy cảng tượng ấy, ai mà chẳng hoảng sợ. Mắt Đại Nham rất sắc tuy trong đêm tối vẫn thấy rõ bàn tay máu in trên buồm trắng ở xa mấy chục trượng, còn người lái đò chờ đến khi thuyền buồm đến gần mới nhận ra. Vừa thấy, y liền lớn tiếng, có vẻ kinh hãi vô cùng :

– Máu, bàn tay máu…

Đại Nham liền hỏi :

– Bàn tay máu có nghĩa gì ?

Ngườ lái đò bỗng nhảu xuống sông. Đại Nham kinh hãi vô cùng. Ngọn thủy triều dâng cao như ngọn núi, dù người lội giỏi đến đâu cũng không sao chịu đựng được. Chàng vội cướp lấy cây sào, giơ ra cứu người lái đò, nhưng y xua tay, mặt lộ vẻ sợ hãi, hình như đang thấy một ác quỷ rồi y chìm lỉm xuống đáy nước. Trong giây lát không thấy dạng hình y.

Chiếc thuyền không ai lái, bị nước thủy triều đẩy mạnh, cứ quay vòng vòng. Đại Nham vội chạy vào phía sau, nắm chặt lấy tay lái. Lúc ấy thuyền buồm tay máu đã đụng vào thuyền chàng. Hình như thuyền ấy bọc bằng sắt, nên khi va vào thuyền chàng làm thủng ngay một lỗ lớn, nước theo lỗ hổng đó chảy vào, Đại Nham vừa kinh hãi vừa tức giận hỏi người bên kia :

– Ngươi là ai, sao lại cường hành bá đạo thế ?

Chàng thấy chiếc thuyền của chàng không thể nào tiếp tục lướt sóng được nữa, liền tung mình nhảy lên mũi thuyền bàn tay máu. Lúc ấy vừa có một ngọn sóng lớn đánh tới chiếc thuyền buốm bàn tay máu nhô cao hơn trượng.

Ðại Nham đang ở trên không mủi thuyền nhô lên, chàng rớt xuống đáy thuyền. Trong lúc nguy ngập chàng vỗ hai cánh tay, giở khinh công Thế Vân Tung nhảy lên cao được hơn trượng, nhờ thế chàng mới hạ được chân trên mủi thuyền đó.

Chàng thấy cửa khoang thuyền đóng kia không có ai cả, liền lớn tiếng gọi:

– Có người ngã xuống nước, mau mau cứu vớt.

Chàng nói liền hai ba câu, nhưng không có tiếng trả lời. Tức giận chàng liền giơ tay đẩy cửa khoang thuyền . nhưng chàng vừa đụng vào cửa khoang thì thấy gia lạnh vô cùng. Lúc ấy chàng mới hay cửa khoang thuyền cũng làm bằng gang thép. Chàng lại đẩy mạnh một cái nữa nhưng không sao đẩy nổi.

Chàng dồn hết sức vào hai cánh tay quát lớn một tiếng song chưởng đẩy mạnh một cái, cánh cửa sắt đó vẫn không chuyển động, nên chàng nghĩ nếu tung một chưởng nữa có lẽ cửa khoang sẽ mở tung ra. Bỗng nghe từ trong khoang có người lớn tiếng nói:

– Khinh công Thế Vân Tung và chưởng lực của Trấn Sơn chưởng của phải Võ Ðang quả danh bất hư truyền. Dư tam hiệp hãy để thanh đao Ðồ Long thì chúng tôi sẽ tiễn tam hiệp sang sông ngay.

Tiếng nói rất ôn hoà và có vẻ thân thiện. Chàng nhận ra ngay tiếng nói của tên thuộc hạ của giáo chủ Bạch Mi Giáo. Thế ra thuyền bàn tay máu này là thuyền của Bạch Mi Giáo, vì thế tên lái đò vừa thấy đã mạo hiểm nhảy xuống sông mà lánh nạn. Nhưng không hiểu sao đối phương biết tên họ của mình và lại còn biết thanh đao Ðồ Long ở trong tay mình nữa?

Chàng còn đang ngẫm nghĩ chưa kịp trả lời thì người nọ tiếp:

– Dư Tam Hiệp chắc đang ngạc nhiên vì không biết tại sao chúng tôi biết tên họ của Tam Hiệp phải không? Sự thật không có gì kỳ lạ cả, vì khinh công Thế Vân Trung và chưởng lực Trấn Sơn chưởng ngoài cao thủ phái Võ Ðang thì không ai có thể sử dụng xuất thần nhập hoá như thế. Dư Tam Hiệp chưa bước chân vào tỉnh Triết Giang của chúng tôi thì ba hôm trước chúng tôi đã biết rồi, chỉ tiếc dọc đường chúng tôi không có dịp đón tiếp Dư Tam Hiệp, mong Tam Hiệp tha lỗi.

Ðại Nham nghe người đó nói vậy, không biết trả lời ra sao cho phải, nhưng giây lát sau chàng cũng nói:

– Những việc khác ta hãy khoan nói tới đây, bây giờ trước mắt mau cừu người lái đò kia.

Người nọ ha hả cười rồi đáp:

– Tên lái đò có cái tên là “ma nước” thường ngày đòi khách trên sông Tiền Ðường này. Y đã giết không biết bao nhiêu người rồi. Dư Tam Hiệp nhân nghĩa hơn người có lòng tốt muốn cứu y , nhưng y đã dóm gói tiền bạc của Tam Hiệp đấy.

Ðại Nham thấy tên lái đó quỉ quyệt đã nghi ngờ, lại nghe người đó nói đúng sự suy đoán của mình liền hỏi:

– Ngài quí danh là gì? Có thể hiện thân cho tại hạ nhìn mặt không?

Người nọ đáp:

– Bạch MI Giáo chúng tôi với quí phái sơ thân vô cớ, không thù không oán, chúng ta không nên gặp nhau thì hơn. Dư Tam Hiệp nên để thanh đao Ðồ Long lại ở trước mũi thuyền, chúng tôi sẽ tiễn Tam Hiệp qua sông ngay.

– Ðại Nham nghe nói tức giận vô cùng liền nói:

– Thanh đao Ðồ Long này có phải của quí giáo đâu !

Người nọ đáp:

– Vẫn biết thế, nhưng con dao này là vô giá, người trong thiện hạ ai cũng muốn chiếm được.

Ðại Nham lại hỏi:

– Ðúng thế, con dao này lọt vào tay ai thì tại hạ cũng phải đem về Võ Ðang để sư phụ định đoạt. Tại hạ tuổi trẻ, hiểu biết ít, không biết tự mình giải quyết ra sao.

Người nọ lên tiếng, nhưng tiếng rất nhỏ như tiếng muỗi kêu:

Ðại Nham bèn lên tiếng hỏi:

– Bạn nói gì thế?

Người trong khoang thuyền lại nói nữa, nhưng tiếng còn nhỏ hơn, nên chàng chỉ thoáng nghe:

– Dư Tam Hiệp Ðồ Long Ðao

Chàng tiến lên hai bước bèn hỏi tiếp:

– Bạn nói gì thế?

Lúc ấy bỗng có một ngọn sóng đánh tới làm cho múi thuyền bắn hẳn lên. Ðại Nham bỗng thấy bụng ngực đùi mình như bị muỗi cắn. Lúc ấy đang là đầu xuân lẽ ra không có muỗi, nhưng chàng không để ý, thuận tay vỗ vào chỗ ngứa ấy hai cái rồi lớn tiếng nói:

– Quí giáo vì con dao ấy mà giết không biết bao nhiêu người , để lại mấy chục cái xác ở Hải Thần Miếu, quả thật thủ đoạn của quí giáo ác độc vô cùng.

Người trong khoang thuyền tiếp:

– Xưa nay Bạch Mi Giáo ra tay không biết nặng nhẹ, đối với kẻ ác thì chúng tôi ra tay nặng, đối với người tử tế thì chúng tôi ra tay nhẹ. Như trường hợp của Dư Tam Hiệp chẳng hạn, nổi tiếng nghĩa hiệp khắp giang hồ thì chúng tôi không nỡ giết hại tánh mạng. Nếu Tam Hiệp để lại con dao đó, tại hạ sẽ tặng thuốc giải Kim Dâu muỗi ngay.

Ðại Nham nghe nói Kim Dâu muỗi, rùng mình kinh hãi, vội rờ tay lên ngực và bụng chàng cảm thấy những chổ đó hơi tê, tự như muỗi đốt vậy. Chàng liền nghĩ:

“Lúc này làm gì có muỗi, huống hồ ta đang ở trên sông lớn” , nhưng chàng tỉnh ngộ ngay “vừa rồi y cố ý nói thật nhỏ để dụ ta tới gần ném ám khí đó” chàng bỗng nghĩ đến bọn người của phái Hải Sa và tên lái đò đều sợ hãi Bạch My Giáo như rắn rết. Như thế, chất độc trong ám khí của chúng thế nào cũng lơi hại vô cùng. Chàng suy tính:

“Bây giờ chỉ có cách ra tay bắt ép y phải đưa thuốc giải” đoạn chàng liền giơ song chưởng lên che mắt, che ngực tung mình vào trong khoang thuyền. Chân chàng vừa hạ xuống ván thuyền đã thấy một người từ trong khoang thuyền

múa chưởng đánh tới. Chàng tức giận vô cùng dồn mười thành kình lực vào chưởng đẩy mạnh một cái, chỉ nghe kêu “Bùng” một tiếng, chưởng của hai người đã va chạm nhau, rồi cả hai cùng lui về phía sau mấy bước. Vì chân chàng chưa đứng xuống thuyền nên chàng bị đẩy trở lui về mũi thuyền. Chàng cảm thấy bàn tay đau buốt tận xương. Chàng không ngờ đã bị mắc mưu đối phương, vì chàng tay không mà đối phương cầm lợi khí trong tay, nên khi hai chưởng va chạm nhau, chưởng lực của người nọ với chưởng của Ðại Nham chỉ tám lạng nửa cân, nếu y không dùng quỉ kế thì thắng sao nổi Ðại Nham. Ðại Nham vừa đứng yên đã nghe người nọ lên tiếng với giọng rất nho nhã:

– Chưởng lực của Dư Tam Hiệp quả thật kinh người, tại hạ xin bái phục. Nhưng thế tinh đinh trong tay tại hạ có một chất độc riêng.

Ðại Nham tức giận vô cùng mở bọc áo lấy con đao Ðồ Long ra. Hai tay cầm chắc cán đao nhảy tới chém ngang một cái, cánh cửa sắt bị chém đứt đôi liền. Con dao này bề ngoài rất mộc mạc, nhưng sắc bén tuyệt luân. Ðại Nham càng chém càng cao hứng, chém luôn bảy tám nhát. Khoang thuyền bằng sắt gặp phải bảo đao hoá ra như giấy bị chém đứt từng mảnh rơi cả xuống sông. Người ngồi trong khoang không biết ẩn nơi đâu nữa, liền nhảy lui về đằng lái và la to:

– Người bị trúng hai thứ độc, còn tác oai tác phúc gì chớ?

Ðại Nham đáp:

– Ðược, người đưa thuốc giải cho ta, ta đưa bảo đao.

Chàng vừa nói vừa múa bảo đao nhảy tới nhắm lưng tên nọ chém liên tiếp.

Người nọ thấy thế công của chàng mạnh vô cùng, thuận tay cầm luôn cái neo sắt lên đỡ chỉ nghe soẹt một tiếng cái neo sắt đã bị dao chém làm đôi.

Người nọ nhảy sang bên và la lớn:

– Người muốn lấy bảo đao hay muốn bảo tồn tánh mạng?

Ðại Nham đáp:

– Người đưa thuốc giải đây, ta trao bảo đao cho.

Lúc ấy những vết muỗi đốt ở chân chàng đã thấy tê ngứa, chàng đoán biết chắc chất độc đã loang dần ra. Chàng vô tình lượm được thanh đao Ðồ Long này nên cũng không coi trọng lắm, có mất cũng không tiếc. Chàng bèn vất ngay thanh dao xuống mặt thuyền kêu loong coong.

Người đó cả mừng cúi xuống nhặt lấy đao, dùng tay áo chùi ra vẻ quí trọng vô cùng. Người nọ đứng trước phía trăng nên không rõ mặt.

Ðại Nham lấy làm lạ vì y mải xem đao mà không lấy thuốc giải. Lúc sau, chàng bỗng thấy vết thương ngày càng đau bèn lên tiếng hỏi:

– Tại hạ đã đưa đao để đổi thuốc, vậy thuốc đâu?

Người nọ ha hả cười hình như y cho lời nói của Ðại Nham có vẻ trào lộng mà thôi.

Ðại Nham tức vô cùng, lớn tiếng hỏi tiếp:

– Ta hỏi ngưoi lấy thuốc giải sao người cười hoài vậy.

Người nọ giơ ngón tay trỏ ra chỉ mặt chàng vừa cười vừa nói:

– Hì, hì sao ngươi ngốc thế, sao không chờ ta trao thuốc giải trước rồi hãy trao bảo đao cho ta?

Ðại Nham giận dữ đáp:

– Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy, đã nhận lời lấy dao đổi thuốc lý nào người lừa dối ta hay sao?

Người nọ vừa cười vừa nói tiếp:

– Trong tay ngươi có bảo đao ta còn sợ hãi ngươi ba phần vì nếu địch không lại nổi ta, ngươi sẽ vứt đao xuống sông, chưa chắc ta mò lên được. Còn giờ đây con dao đã về tay ta, người còn muốn ta đưa thuốc giải nữa hay sao?

Ðại Nham nghe người đó nói vậy, một hơi lạnh từ đáy lòng bốc lên. Chàng nghĩ thầm: “phái Bạch Mi Giáo và Võ Ðang vô oán vô thù sao lại có chuyện giết hại nhau? Võ công của người này cũng khá cao, ta tưởng y là người có địa vị nên mới đưa thanh đao Ðồ Long cho y trước, ngờ đâu y là dối trá như vậy.”

Nghĩ tới đây, chàng nghe người nọ nói tiếp:

– Này Dư Tam Hiệp, những Kim Dâu muỗi không lợi hại cho lắm, nhưng những chất độc trong thât tinh đinh thì lợi hại vô cùng. mười hai tiếng sau, những bắp thịt của Dư Tam Hiệp sẽ bị bong từng mảng một. Tai mũi chân tay cũng bị tiêu ma. Ngoại trừ thuốc giải của bổn giáo ra, dù có thần tiên hạ phàm cũng không sao cứu được, nhưng nếu có thuốc giải của bổn giáo giải độc cho, Dư Tam Hiệp cũng chỉ cứu được khỏi chết thôi, còn võ công tuyệt thế nổi danh thiên hạ của Dư Tam Hiệp từ nay không còn tồn tại trên thế gian nữa.

Giọng nói của y nghe rất êm, tựa như người thân khuyên bảo. Ðại Nham cố nén căm tức rồi nói :

– Ðại trượng phu sống chết có số, ta là Dư Đại Nham đây, suốt đời hành sự quang minh chính đại không hổ thẹn với lương tâm cùng trời đất, dù có chết trong tay tiểu nhân đi nữa ta có sợ hãi gì đâu ?

Người nọ dơ ngón tay cái lên khen rằng :

– Hay, hay, hay !… Võ Đang thất hiệp quả thật danh bất hư truyền. Tam hiệp đã trúng phải Thất tinh đinh và Kim dâu muổi của ta mà vẫn còn anh hùng hảo hán như vậy. Từ trước tới nay đã có rất nhiều người trúng phải hai môn ám khí độc đó, nếu chúng không van lơn thì khóc lóc, thỉnh thoảng cũng có một vài tay có đảm lược thì mở mồm chữi rủa chớ ta chưa thấy ai lại coi thường cái chết và trầm tĩnh như Dư Tam hiệp vậy.

Đại Nham chỉ dùng giọng mũi “hừ” một tiếng rồi lên tiếng hỏi :

– Chẳng hay quý tánh đại danh của ngài là gì, có thể cho tôi biết không ?

Người nọ vừa cười vừa đáp :

– Tại hạ chỉ là một tên vô danh tiểu tốt của Bạch Mi giáo. Nếu phái Võ Đang muốn kiếm Bạch Mi giáo trả thù thì đã có Giáo chủ ra mặt. Hơn nữa Dư Tam Hiệp chết một cách bất minh bất bạch như vậy, tổ sư của quí phái Trương Tam Phong, dù có tài thông thiên triệt để đi chăng nữa, cũng chưa chắc đã biết được Dư Tam Hiệp đà chết vì tay Bạch Mi giáo.

Y nói vậy là quyết định thế nào Đại Nham cũng phải chết. Lúc nầy, Đại Nham nghe trong gan bàn tay như có hàng nghìn vạn con kiến bò cắn, vừa đau ngứa vô cùng. Chàng lén nắm lấy nừa cái neo, trong lòng nghĩ thầm :

“Hôm nay, dù ta không còn sống được nữa thì mi cũng phải chết theo ta.”

Người nọ đang cao hứng thao thao bất tuyệt, Đai Nham bỗng quát lớn một tiếng tung mình lên cao, tay trái múa cái neo gãy, tay phải đẩy ra một chưởng, nhắm mắt và ngực của người ấy đánh tới. Chàng tự biết không sao sống sót nên cũng không thèm xin thuốc giải của người nọ nữa. Thế công này của chàng sử dụng lúc như ngọn đèn sắp tắt, oai lực ghê gớm biết bao. Người nọ kêu “ối chà” một tiếng, đọan múa thanh bảo đao lên định cản trở. Nhưng y không ngờ Đồ Long đao lại nặng đến thế, nặng như mười mấy thanh đao kiếm bó thành một, nên y thuận tay phẩy một cái, chỉ phẩy được có nữa thước thì cổ tay bỗng trầm hẳn xuống. Với võ công của y không phải y không đủ sức múa thanh đao Đồ Long, nhưng vì y không ngờ thanh đao nặng như thế mới không ra sức giở lên nên con đao mới trĩu xuống chặt ngay vào đầu gối của y.

Người nọ kinh hãi vô cùng, vội dồn sức vào ca;nh tay để giở thanh đao lên, thì đã thấy nữa cái neo đà phi tới, vừa nhanh vừa mạnh. Võ công của y tuy cao cường, nhưng y không sao chống đở kịp nữa, y liền kêu thầm :

“Phen này ta chết mất !”

Rồi y đánh thúc thủ đợi chết. Ngờ đâu lúc ấy một cơn sóng lớn đánh tới, chiếc thuyền bị nhồi lên cao, cái neo gãy bị đánh trượt ra ngoài. Người nọ dùng hết sức nhún chân mạnh một cái lộn một v`ong, đâm đầu xuống sông. Tuy y tánh khỏi được cái neo gãy, nhưng y không sao tránh thoát được hữu chưởng của Đại Nham. Bụng của y bị chưởng của Đại Nham đánh tới, ngũ tạng lục phủ đều đảo lộn. Nên lúc y ngã xuống sông đã mê man bất tỉnh. Đại Nham thở dài một tiếng, khi thấy người nọ bị đánh trúng một chưởng mà tay vẫn nắm chặt con đao Đồ Long. Chàng cười nhạt một tiếng và nghĩ thầm :

“Dù mi có cướp được bảo đao, rốt cuộc cũng bị vùi thây dưới đáy nước.”

Đột nhiên có một cột màu trắng xuyên thẳng xuống đáy sông, cuốm lấy nguời nọ kéo lên. Đại Nham khing hãi vô cùng, ngước mắt lên nhìn thì một người gầy gò mặc áo trắng đứng trước mũi một chiếc thuyền nhỏ, tay cầm sợi xích trắng, ném ra cuốn Đồ Long đao lẫn người nọ lên.

Hồi thứ 7
Hoàng Kim Bảo Tiêu

Sau khi bị trúng phải đinh độc Ðại Nham đang chăm chú vào người nọ để cướp thuốc giải nên chàng không dè kẻ tiếp viện của người đó đã lẻn tới phía sau. Chiếc thuyền nhỏ nọ tới gần, chàng cũng không để ý. Nguời đi trên chiếc thuyền nhỏ đã tới ngay cạnh thuyền buồm, y chỉ nhún mình một cái đã nhảy lên cao rồi hạ chân xuống trên mặt thuyền. Lúc ấy chất độc đã lan khắp thân thể, Ðại Nham ngã lăn ra đuôi thuyền. Chàng thấy kẻ địch tới nơi, muốn ra tay nghênh đấu nhưng mặt mũi đã tối tăm, không thể nào gượng gạo được nữa, chết giấc luôn tại chỗ. Không biết bao thời gian trôi qua khi Ðại Nham mở mắt thì thấy một lá cờ của tiêu cục, trên thêu một con cá chép vàng. Ðại Nham nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra nhìn lần nữa thấy lá cờ tiêu cục đó, lá cờ nhỏ cắm trong một cái lọ hoa bằng sứ màu xanh sứt mẻ. Con cá chép thêu bằng sợi chỉ vàng, lóng lánh chói mắt hiện ra càng oai võ vô cùng.

Chàng liền nghĩ:

– Lá cờ này của Tiêu cục Long Môn ở phủ Lâm An.

Lúc ấy đầu óc chàng hỗn loạn, không sao nghĩ tiếp được nữa. Chàng định thần lại giây lát mới phát giác ra mình đang nằm trên một cái cáng, trước sau có người khiêng và chàng đang ở giữa một đại sảnh. Chàng muốn quay đầu lại nhìn xung quanh xem sao nhưng cổ cứng ngắc không sao chuyển động được. Chàng kinh hãi vô cùng, định ngồi dậy và nhảy ra khỏi cáng nhưng chàng không sao điều khiển được chân taỵ Dù chàng giở hết sức ra cũng không sao cử động được liền nghĩ: – Ta ở trên sông Tiền Ðờng bị trúng phải chất độc rất mạnh của hai môn ám khí độc là Thất Tinh Ðinh và Kim Dâu Muỗi.

Chàng đang nghĩ thì nghe hai người nói chuyện, một người giọng sang sảng lên tiếng hỏi:

– Các hạ quí tính danh là chi?

Người nọ đáp:

– Tổng Tiêu Ðầu, khỏi cần hỏi tên tôi vội. Tôi chỉ hỏi cuộc chủ có chịu nhận bảo môn hàng này không đã?

Ðại Nham ngạc nhiên vô cùng, nghĩ thầm:

– Giọng nói của người này thánh thót quá! Chẳng lẽ y là một thiếu nữ? Người nói giọng sang sảng có vẻ phẫn ý, liền trả lời:

– Tiêu cục Long Môn của chúng tôi không nhận món hàng này cũng không sao? Nếu các hạ không cho biết họ tên thì các hạ tới tiêu cục khác vậy!

Người nói giọng đàn bà lại tiếp:

– Vẫn biết thế, nhưng những tiêu cục khác trong phủ Lâm An này sao bằng được Tiêu cục Long Môn? Nếu ngài không phải là Tổng Tiêu Ðầu, không tự chủ được thì đi mời Tổng Tiêu Ðầu ra đây cho tôi!

Thấy người đó ăn nói thiếu lễ phép, người nói giọng sang sảng không vui chút nào liền đáp:

– Tại hạ là Tổng Tiêu Ðầu đây, nhưng vì có chút việc bận, không thể hầu chuyện được mong quí khách tùy tiện! Người nói giọng đàn bà vội tiếp:

– Ủa, thế ngài là Ða Ty Hùng Ðỗ Ðại Cẩm …

Nói tới đây y ngừng giây lát mới tiếp:

– Tôi hâm mộ đại danh đã lâu. Tổng Tiêu Ðầu, tôi họ Hân …

Ðỗ Ðại Cẩm hình như đã nguôi cơn giận liền hỏi:

– Chẳng hay quí khách có gì sai bảo?

Người khách họ Hân đáp:

– Trước hết tôi phải hỏi Tổng Tiêu Ðầu câu này đã, chẳng hay ngài có đảm đương được không? Vì việc này quan trọng lắm, không thể nào chậm trễ được!

Ðỗ Ðại Cẩm cố nén sự tức giận, trả lời:

– Tiêu cục Long Môn của chúng tôi thành lập đã hai mươi năm nay, quan tiêu, diêm tiêu, kim ngân, châu báu vân vân, tiêu hàng to nhỏ đưa tiếp khá nhiều nhưng chưa hề mất mát một bận nào!

Ðại Nham cũng được nghe danh Ðỗ Ðại Cẩm rồi, biết y là đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm, quyền chưởng đơn đao đều cao siêu, nhất là ám khí Hòn Châu Tiêu lại tài ba hơn người . Y có thể ném ra một lúc bốn mươi chiếc phi tiêu mà cái nào cũng trúng đích cả. Vì vậy giang hồ võ lâm mới ban cho y cái hiệu Ða Ty Hùng. Tiêu cục Long Môn của y ở miền Ðông Nam cũng có tiếng lắm. Chỉ vì môn phái khác nhau nên Ðại Nham chỉ nghe danh Ðỗ Ðại Cẩm mà thôi chứ không hề tới lui viếng. Người có giọng thánh thót lại tiếp:

– Nếu tôi không tin tưởng quí tiêu cục thì tới đây làm gì? Bây giờ tôi nhờ Ðỗ Tổng Tiêu Ðầu bảo vệ hộ cho món tiêu hàng này, nhưng có ba điều kiện!

Ðỗ Ðại Cẩm vội nói:

– Bổn tiêu cục đã có lệ như sau: những tiêu hàng nào rắc rối lôi thôi là chúng tôi không tiếp, tiêu hàng nào lai lịch bất minh và tiêu hàng nào trở giá dưới năm vạn lạng cũng không tiếp!

Người họ Hân lại nói:

– Thật đáng tiếc là món tiêu hàng của tôi lôi thôi rắc rối lắm, lai lịch lại không thanh bạch cho lắm, mà còn không đáng giá năm vạn lạng bạc. Nhưng ba điều kiện của tôi cũng không phải dễ làm xong. Thứ nhất là phải do Ðỗ Tổng Tiêu Ðầu đích thân áp tải Ðiều thứ hai là từ phủ Lâm An này tới Phủ Tương Dương ở tỉnh Hồ Bắc cần phải đi gấp cả ngày lẫn đêm không được nghỉ ngơi để kịp trong mười ngày đưa hàng đến đích. Ðiều thứ ba là, nếu có gì sơ xuất thì … hà, hà … không những tính mạng của Tổng Tiêu Ðầu không vẹn toàn mà cả Tiêu cục Long Môn cũng không được yên!

Chỉ nghe bùng một tiếng. Ðại Nham đoán chắc là Ðỗ Ðại Cẩm đang đập bàn rồi nghe y quát lên:

– Bạn muốn đùa thì đi nơi khác, sao lại kiếm Tiêu cục Long Môn của ta để mà giỡn nghịch?

Nếu không phải vì tôi thấy bạn gầy gò ốm yếu mà nể nang thì tất tôi đã không để yên cho đâu!

Ðại Nham lại nghe người họ Hân cười nhạt hai tiếng rồi nghe người đó vứt cái gì lên trên mặt bàn, đoạn lên tiếng nói:

– Ðây là hai nghìn lạng vàng. Tổng Tiêu Ðầu hãy nhận lấy trước món tiền chi phí cho cuộc bảo tiêu này!

Ðại Nham nghe nói kinh hãi nghĩ thầm:

– Hai nghìn lạng vàng! Tiêu cục này làm luôn mười năm cũng chưa kiếm nổi số bạc kếch sù đó!

Ðỗ Ðại Cẩm thấy vàng lóa mắt, thái độ thay đổi ngay. Từ khi y lập tiêu cục này tới giờ, dù mắt thấy tay rờ không biết bao nhiêu tiền bạc nhưng những vàng bạc đó đều của người, nay bỗng dưng có hai nghìn lạng vàng đưa đến trước mặt, chỉ gật đầu nhận lời là tiền sẽ về tay làm sao y chẳng động lòng? Ðại Nham đầu cổ không sao chuyển động được, nên mở mắt ra nhìn chỉ thấy lá cờ có con cá chép vàng cắm trong bình hoa Lúc ấy trong đại sảnh yên lặng như tờ, chàng chỉ thấy tiếng những con ruồi xanh bay lướt qua mặt và nghe tiếng thở rất nặng của Ðỗ Ðại Cẩm. Tuy không thấy rõ mặt tên Tổng Tiêu Ðầu đó, chàng cũng đoán được lúc này y đang đứng thừ người ra, hai mắt trợn trừng nhìn hai nghìn lạng vàng sáng chói kia. Một lát sau chàng lại nghe Ðỗ Ðại Cẩm nói:

– Hân đại gia định nhờ tôi bảo vệ tiêu hàng gì đây?

Người họ Hân liền đáp:

– Trước hết tôi phải hỏi lại Tổng Tiêu Ðầu câu này: chẳng hay Tổng Tiêu Ðầu có thể làm đúng theo ba điều kiện mà tôi vừa đưa ra hay không?

Ðỗ Ðại Cẩm nghĩ ngợi giây lát liền vỗ mạnh đùi một cái rồi trả lời:

– Hân đại gia đã chịu trả cho số tiền hậu như vậy thì dù có thiên lao vạn khổ tôi cũng phải vâng theo Chẳng hay bảo vật của Hân đại gia lúc nào mới đem tới đây được?

– Món tiêu hàng mà tôi định nhờ Tổng Tiêu Ðầu bảo vệ đang nằm trên cáng kia kìa!

Ðỗ Ðại Cẩm nghe nói thất thanh kêu một tiếng kinh ngạc vô cùng, riêng Ðại Nham lại kinh ngạc hơn hết, không sao nhịn được liền la lớn:

– Tôi… tôi…

Chàng há mồm thật lớn mà không sao nói ra lời, dù chàng cố gắng đến đâu, mồm và mình mẩy chân tay vẫn không nghe theo trí óc sai bảo . Tới lúc này, chàng mới biết chất độc trong Thất Tinh Ðinh lợi hại vô cùng. Không những chân tay mình mẩy tê liệt mà tiếng nói cũng bị câm nốt, riêng có hai tai chưa điếc và mắt chưa mù thôị Chàng lại nghe Ðỗ Ðại Cẩm lên tiếng hỏi:

– Ðại gia nói… là… vị đại gia này phải không?

Người họ Hân đáp:

– Phải. Nhưng Tổng Tiêu Ðầu phải đích thân hộ tống và được phép đổi xe ngựa nhưng không được thay người . Ði suốt ngày đêm và hẹn trong vòng mười ngày phải tới núi Võ Ðang ở phủ Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, trao cho tổ sư Trương Tam Phong tiên sinh trưởng môn của phái này!

Ðại Nham nghe nói thở dài một tiếng, lòng chàng lúc này mới cởi mở. Chàng lại nghe Ðỗ Ðại Cẩm nói:

– Phái Võ Ðang ? Chúng tôi là đệ tử phái Thiếu Lâm tuy với phái Võ Ðang không thù không oán gì, nhưng … nhưng xưa nay chúng tôi với phái đó không lai vãng… việc này…

Người họ Hân lạnh lùng nói:

– Chậm chễ một giây lát, dù có vạn lạng vàng cũng không mua chuộc được, chẳng hay món tiêu hàng này Tổng Tiêu Ðầu có nhận hay không? Ðại trượng phu chỉ cần quyết định một . Lúc ấy thôi, hà tất phải ấm ớ như vậy làm gì?

Ðỗ Ðại Cẩm đáp:

– Thôi được nể mặt Hân đại gia Tiêu cục Long Môn chúng tôi xin nhận lệnh!

Người họ Hân mĩm cười nói tiếp:

– Hôm nay là hai mươi chín tháng ba, giờ ngọ mùng chín tháng tư nếu Tổng Tiêu Ðầu không tống tiễn được vị đại gia này bình yên tới núi Võ Ðang thì tôi sù không để cho bảy mươi mốt người già trẻ lớn bé của Tiêu cục Long Môn được yên đâu!

Người họ Hân nọ vừa nói xong, chỉ nghe “soẹt soẹt” mấy tiếng là mười mấy cây trâm rất nhỏ đã bắn thẳng vào cái lọ sứ để cắm cờ của tiêu cục, liền đó nghe tiếng chiếc lọ sứ vỡ ra làm mấy chục mảnh, văng tứ tung ra đất. Tài ném ám khí quả thật kinh người, Ðỗ Ðại Cẩm cũng phải thất thanh kêu “ối chà” một tiếng. Ðại Nham cũng phải rùng mình kinh hãị Rồi chàng lại nghe ngời họ Hân quát lớn:

– Ði thôi!

Thế là người khiêng cáng liền đặt Ðại Nham xuống đất rồi theo người họ Hân ra khỏi Tiêu cục Long Môn tức thì. Một lát sau Ðỗ Ðại Cẩm mới định thần lại đi tới gần Ðại Nham lên tiếng hỏi:

– Chẳng hay đại gia quí tính là gì? Có phải là người của Võ Ðang không? Ðại Nham chỉ trợn mắt lên nhìn Ðỗ Ðại Cẩm mà không sao trả lời được. Chàng nhìn thấy Tổng Tiêu Ðầu đó trạc năm mươi, thân hình vạm vỡ, bắp thịt ở hai cánh tay u lên, tướng mạo oai phong, trông bề ngoài cũng đủ biết là một tên đại gia cao thủ.

Ðỗ Ðại Cẩm liền nói:

– Không ngờ Hân đại gia trông người tuấn tú văn nhã như vậy mà võ công lại kinh người đến thế! Không biết Hân đại gia là đệ tử của môn phái nào thế?

Y hỏi liền mấy câu Ðại Nham vẫn không sao trả lời được cứ nhắm mắt làm thinh. Ðỗ Ðại Cẩm thấy Ðại Nham không trả lời liền nghĩ thầm:

– Ta đã là một tay hảo thủ ném ám khí có tiếng nên giang hồ võ lâm mới ban cho ta biệt hiệu Ða Ty Hùng, nhưng người họ Hân kia là một thiếu niên đẹp trai như thế chỉ vung tay một cái đã ném mấy chục cái kim bạc nhẹ như lông bò mà bắn vỡ ngay cái lọ sứ kia. Nếu mắt ta không thấy thì không bao giờ dám tin lại có người có tài ném ám khí tuyệt luân đến thế được.

Nghĩ đoạn, y đi tới cạnh kỷ trà nhặt những mảnh vỡ kia lên xem thấy mảnh sứ còn có mấy cây kim bạc cắm vào như dùi sắt đục sâu vậy, đủ thấy công lực của người họ Hân đó mạnh biết chừng nào. Ðỗ Ðại Cẩm thành lập Tiêu cục Long Môn đã hơn hai mươi năm, vốn là người tinh minh cường cán, đã từng trải không biết bao phong ba bão táp trên giang hồ nhưng đối với việc người họ Hân đưa hai nghìn lạng vàng chỉ để nhờ bảo tiêu cho một người sống y vô cùng kinh dị. Nói chi tiêu cục của y bấy lâu nay chưa hề nhận một món nào bí ẩn như vậy, ngay các tiêu cục trong thiên hạ cũng cha ai gặp một việc kỳ lạ như thế này. Y cất vàng rồi sai người khiêng Ðại Nham vào trong phòng nghỉ ngơi, đoạn triệu tập các tiêu sư trong tiêu cục tới để sửa soạn xe ngựa đi ngay. Y ngấm ngầm bàn với hai tiêu sư lớn tuổi nhất trong tiêu cục. Hai tiêu sư đó cũng nhận thấy lời đe dọa của người khách họ Hân trước khi ra đi rất quan trọng. Thế rồi ba người bấm đốt ngón tay tính toán xem số người trong nhà, kể từ mẹ Ðỗ Ðại Cẩm trở xuống đến đứa con nít chưa đầy tháng, tất cả vừa đúng bảy mươi mốt người. Không hiểu sao người họ Hân lại biết rõ như vậy nên cả ba người cùng ngẩn người ra nhìn nhau trong lòng vô cùng kinh hãi. Trúc tiêu sư lên tiếng trước:

– Thưa Tổng Tiêu Ðầu, theo ý tiểu đệ thì số tiền bảo tiêu này tuy hậu thật nhưng trên đường thế nào cũng sẽø gặp rất nhiều sự hiểm nguy. Chi bằng không nhận thì hơn.

Tiêu sư họ Sử cũng góp ý tương tự:

– Nhưng tiếc thay lúc này đã quá chậm rồi bây giờ không nhận cũng không được. Vả lại với cái danh của Tiêu cục Long Môn chúng ta chẳng lẽ vì một món tiêu hàng này mà dể cho tiêu tan hết sự nghiệp hay sao?

Trúc tiêu sư tức giận đáp:

– Sử ngũ đệ tiếc oai danh hai mươi năm của Tiêu cục Long Môn, chẳng lẽ Trúc mỗ này không tiếc sao? Chỉ vì việc này kỳ lạ quá, biết đâu người ta không làm sẵn cạm bẫy để chúng ta chui vào?

Sử tiêu đầu cười nhạt đáp:

– Chúng ta sống bằng nghề bảo tiêu thì ngày đêm phải kiếm ăn ở trước ngọn đaọ Nếu Trúc Tam Ca muốn cuộc đời được thái bình vô sự thì nên ở nhà giữ trẻ con đừng có ra cửa nữa!

Hai người kẻ nói thế này, người nói thế nọ, cãi vã ồn lên. Ðỗ Ðại Cẩm liền khuyên:

– Thôi hai người đừng cãi nhau, việc này đã trót nhận bảo tiêu cho người ta rồi, dù có nói cũng không thể thay lời được nữạ vậy thì bây giờ chỉ có cách theo lời cổ nhân: “Binh tới thì có nước cản, nước lên đã có đê ngăn”. Phen này chúng ta đành phải dùng toàn lực của Tiêu cục Long Môn để bảo vệ vị đại gia kia lên núi Võ Ðang. Nếu Trúc Tam Ca e sợ vợ con nguy hiểm thì chúng ta gửi hết gia quyến già trẻ, lớn bé về quê. Ðó là một chính sách vẹn toàn.

Tổng Tiêu Ðầu nói vậy liền phái ngay người hộ tống gia quyến về quê ở phía tây phủ Lâm An tạm trú một thời gian. Mọi người ăn cơm nước xong xuôi liền sửa sọan lên đường. Lúc bước ra khỏi cửa tiêu cục giuơng lá cờ hiệu lên, mọi người đồng thanh la lớn:

– Long Môn Tam Dợt Lý Ngư Nhi Hóa Vi Long.

Ðại Nham ngồi trong xe lòng cảm khoái vô cùng:

– Ta tung hoành giang hồ bấy lâu nay, bình sinh có thèm coi bọn bảo tiêu hộ vệ ra gì đâu, không ngờ hôm nay gặp phải đại nạn này, phải nhờ chúng bảo vệ ta lên núi Võ Ðang.

Chàng thở dài một tiếng rồi nghĩ tiếp:

– Không hiểu bạn họ Hân cứu ta là ai . Nghe giọng nói thỏ thẻ của y thì hình như là con gái.

Mà tên Tổng Tiêu Ðầu lại bảo mặt y rất tuấn nhã, nhưng võ công lại trác tuyệt, hành sự đặc biệt hơn người. Chỉ tiếc rằng ta không được cám ơn lấy một câu. Ðại Nham này nếu còn sống ở trên đời thì thế nào cũng báo ơn này!

Chàng nghe thấy tiếng bánh xe kêu lốc cốc biết xe đã ra khỏi cổng thành chàng bỗng nghe tiếng Ðỗ Ðại Cẩm nói lớn:

– Tại sao các người lại quay trở về? Ta đã bảo các người chớ có về phủ Lâm An cơ mà?

Chàng lại nghe một người khác trả lời:

– Bẩm Tổng… Tổng Tiêu Ðầu… chúng tôi… ba…cái tai…

– Ðỗ Ðại Cẩm vừa kinh hãi vừa tức giận:

– Tại sao lại như thế này ? Ba cái tai này của các ngươi bị ai cắt thế?

Người nọ đáp:

– Chúng con… hộ tống các cô, các cậu ra ngoài thành được hai dặm thì có người chạy ra ngăn cản, trông rất hung ác quát lớn:

– Tất cả gia quyến của Tiêu cục Long Môn cấm không cho rời thành Lâm An một bước!

Con có tranh luận với y thì người nọ lại rút dao ra cắt luôn tai của tiểu nhân và hai tên kia nữạ . Người nọ còn bảo tiểu nhân trở về báo cho Tổng… Tổng Tiêu Ðầu hay: nếu không đúng giờ đã hẹn đưa món tiêu này tới nơi chúng sẽ giết hết cả bọn. Ðỗ Ðại Cẩm thở dài một tiếng, y biết tất cả người trong Tiêu cục Long Môn hiện đang bị người ta theo dõi ngầm. Y liền phẩy tay nói:

– Các người hãy trở về tiêu cục đợi chờ. Nếu không có việc gì thì đừng đi đâu đấy nhé!

Người và ngựa của Tiêu cục Long Môn tiến thẳng về phía Tây, những người hộ tiêu, trừ Ðô, Trúc, Sử ba tiêu đầu ra có thêm bốn thiếu niên tiêu sư tuổi trẻ khỏe mạnh. Họ theo đúng lời dặn của người họ Hân, suốt dọc đường chỉ đổi xe thay ngựa chứ không đổi người, đi suốt cả ngày lẫn đêm. Trong lòng người nào cũng nơm nớp lo sợ, họ sợ lỡ xảy ra chuyện gì không những tính mạng của họ không được bảo tồn mà tất cả mọi người già trẻ lớn bé ở Tiêu cục Long Môn tại phủ Lâm An cũng không một ai có thể sống sót.

Lúc mới bắt đầu lên đường Ðỗ Ðại Cẩm đoán chắc suốt dọc đường thế nào cũng phải có vài trận ác chiến chí tử, ngờ đâu cả bọn rời khỏi Chiết Giang qua An Huy vào Giang Tây mấy ngày liền được vô sự. Không những không gặp các giang hồ hảo thủ, lục lâm, hào khách mà cả bọn giặc cỏ cũng không có.

Ngày hôm đó qua Phàn Thành tới Hổ Khẩu đi thêm đoạn đường nữạ Ðỗ Ðại Cẩm thấy chưa tới giờ ngọ đã đến Song Tinh Tư biết chỉ còn nửa ngày đường thì tới núi Võ Ðang. Suốt dọc đường tuy mệt nhọc nhưng may không bị lỡ ngày hạn định khách họ Hân. Vừa đúng mùng chín tháng tư thì đến núi Võ Ðang. Bấy nhiêu ngày trời mọi người đều cắm đầu đi thật nhanh, người nào người nấy chỉ đưa mắt nhìn nhau chứ không nói đến nửa lời vì ai nấy cũng đều sợ hãi, cho đến ngày này các tiêu sư mới được yên lòng.

Lúc bấy giờ là cuối xuân đầu hạ, tiết trời rất ấm áp. Trên đường núi hoa mọc đầy dẫy tựa như đang chào đón khách ở xa mới tới vậy. Ðỗ Ðại Cẩm cầm roi ngựa chỉ lên Thiên Trụ Phong lẩn núp trong trùng mây nói với hai tiêu sư rằng:

– Trúc tam đệ, mấy năm gần đấy thanh thế của phái Võ Ðang rất thịnh, tuy không bằng được phái Thiếu Lâm của chúng ta nhưng tên tuổi của Võ Ðang thất hiệp cũng đã vang rền khắp giang hồ. Cứ xem Thiên Trụ Phong cao chót vót ẩn núp trong đám mây kia mà nhận xét: Nhân kiệt đại linh. Võ công của phái Võ Ðang nhờ vậy mà cũng không thể khinh

thường được.

Trúc tiêu sư đáp:

– Thanh thế của phái Võ Ðang gần đây tuy rất lớn, nhưng dù sao căn bản vẫn còn non, so làm sao được với phái Thiếu Lâm đã có gần hàng nghìn năm căn bản. Không nói chuyện xa xôi, cứ nói Giáng Ma Chưởng một lúc ném ra bốn mươi chín phi tiêu của Tổng Tiêu Ðầu, người của phái Võ Ðang làm sao bì kịp võ công trác tuyệt ấy?

Sử tiêu đầu lại tiếp:

– Phải đấy. Theo lời đồn của giang hồ tiếng tăm của Võ Ðang thất hiệp tuy rất lừng lẫy, nhưng sự thật tài ba của họ ra sao chúng ta đâu có thấy đâu. Chỉ sợ những người quê mùa cục mịch trong võ lâm chưa được thấy những võ công thượng thặng rồi cứ thêm mắm thêm muối, càng khen ngợi bản lãnh, nhờ vậy họ mới được nổi tiếng.

Ðỗ Ðại Cẩm nghe nói chỉ mỉm cười, vì kiến thức của y rộng hơn Sử, Trúc nhiều. Y biết tên tuổi của Võ Ðang thất hiệp không phải do may mắn mà nên. Thế nào họ cũng có những võ nghệ kinh người, nhưng Ðỗ Ðại Cẩm bảo tiêu hơn hai mươi năm trời chưa gặp địch thủ nên cũng tự phụ, tự tin. Nay y nghe Sử, Trúc khen ngợi như vậy càng đắc trí. Ba người sát cánh nhau đi, càng lên cao đường núi càng chật hẹp, không thể đi song song như trước, Sử tiêu đầu đành lùi lại mấy bước, Trúc tiêu đầu liền hỏi:

– Thưa Tổng Tiêu Ðầu, lát nữa chúng ta tới gặp lão đạo sư Trương Tam Phong thì nên dùng lễ gì mà chào hỏi?

Ðại Cẩm đáp:

– Chúng ta khác môn phái, không phải thuộc hạ của y. Nhưng Trương lão tuổi đã ngoài chín mươi, trong số hảo thủ võ lâm đương thời, có lẽ tuổi tác nhất thì chúng ta nên tôn trọng y là võ lâm tiền bối, cúi lạy vài cái cũng không sao.

Trúc tiêu sư liền xen lời:

– Theo ý tiểu đệ thì chúng ta nên lớn tiếng nói: “Hậu bối chúng tôi xin kính chào Chân Nhân”. Thế nào y cũng giơ tay ra ngăn cản và trả lời: “Quí khách ở nơi xa tới, khỏi phải thủ lễ như vậy”. Như vậy chúng ta chỉ gật đầu vài cái, có phải được miễn lạy không?

Ðại Cẩm không nói gì, chỉ mỉm cười và gật đầu. Y đang suy nghĩ coi Dư Ðại Nham hiện nằm trong xe là người như thế nào? Sao mười ngày liền không thấy chàng ta nói năng cử động gì. Ðến việc ăn uống và đại tiểu tiện cũng nhờ bọn phu xe giúp đỡ.

Không ai biết đến lai lịch của chàng, không biết chàng có phải là môn đồ của phái Võ Ðang hay là bạn của Trương lão đạo? Hay chàng là kẻ thù địch của phái Võ Ðang bị bắt được và đưa lên núi?

Những sự nghi vấn trên, lúc gặp Trương Tam Phong thì sẽ hiểu rõ ngay. Nhưng là phúc hay họa, vẫn chưa có thể biết được, nên y lo ngại vô cùng.

Trong khi mọi người đang thủng thẳng đi thì bỗng thấy trên đường núi ở phía Tây có tiếng vó ngựa, rồi có mấy con ngựa phi thẳng tới. Trúc tiêu sư liền phóng ngựa tiến lên xem. Lát sau, theo đường ngách, co sáu người cỡi ngựa chạy tới cách chỗ bọn họ chừng mời trượng thì bỗng gò cương lại. Ba người trước đứng ra ba chỗ ngăn cản lối đi.

Ðỗ Ðại Cẩm nghĩ thầm:

– Thật không ngờ đã đến chân núi Võ Ðang mà còn có chuyện rắc rối xảy ra.

Y liền kề tai nói nhỏ với sử tiêu sư:

– Chú cẩn thận bảo vệ cái xe lớn.

Ðoạn y liền thúc ngựa tiến lên. Một tên phu xe của y cầm lá cờ thêu cá chép phất một cái, tỏ vẻ kính nể. Ðại Cẩm lên tiếng:

– Long môn tiêu cục đi qua quí địa, lễ phép không được chu đáo, mong các bạn thứ lỗi cho.

Ðại Cẩm thấy trong sáu người cản đường, hai người ăn mặc lối đạo sĩ, bốn người ăn mặc cách tục gia, lưng đều đeo đao kiếm, trông thật anh dũng. Ðại Cẩm nghĩ thầm:

– Có lẽ sáu người này là lục hiệp trong bọn Võ Ðang thất hiệp chăng?

Y bèn đến gần chắp tay vái chào và nói:

– Tại hạ là Long Môn Tổng tiêu đầu Ðỗ Ðại Cẩm xin hỏi lục vị huynh trưởng quí tính đại danh là gì?

Người cao lớn nhất trong bọn, má bên trái có một nốt ruồi lớn với ba sợi lông dài, nhìn Ðại Cẩm lạnh lùng đáp:

– Ðỗ huynh tới núi Võ Ðang này làm gì thế?

Ðại Cẩm đáp:

– Có người ủy thác tệ cục đưa một vị bị thương tới quí sơn, muốn được gặp chưởng môn của quí phái là Trương Chân Nhân.

Người nọ hỏi tiếp:

– Ðưa một người bị thương ? Vậy người đó hiện giờ ở đâu và là ai thế?

Ðại Cẩm đáp:

– Chúng tôi được một vị khách họ Hân nhờ hộ tống một vị đại gia bị thương lên núi Võ Ðang. Vị đại gia đó là ai, tại sao lại bị thương, những điều đó chúng tôi đều không được biết. Phận sự tiêu cục chúng tôi quí hồ làm cho tròn theo khách hàng dặn bảo. Còn các việc tư của khách hàng thì xưa nay chúng tôi không hỏi tới.

Ðại Cẩm lăn lộn trên giang hồ mấy chục năm, chuyên sống bằng nghề bảo tiêu tất nhiên lời lẽ của y khôn khéo vô cùng. Y nói vậy, mục đích cho thấy y không có trách nhiệm gì đối với việc khách hàng bị thương, thì dù Ðại Nham là bạn hay là kẻ thù của phái Võ Ðang cũng không liên can gì đến y.

Người mặt có nốt ruồi đưa mắt nhìn ba người đồng bọn rồi lại hỏi Ðại Cẩm:

– Người họ Hân ấy hình dáng như thế nào?

Ðại Cẩm đáp:

– Khách quan ấy tuổi trẻ, đẹp trai và tuấn nhã lắm, ném ám khí rất tài.

– Thế bạn đã ra tay đối với y chưa?

Ðại Cẩm vội đáp:

– Chưa Khách quan ấy tự…

Y chưa nói dứt câu thì người đứng giữa bọn người kia đã cướp lời:

– Con đao Ðồ Long đâu? Hiện giờ ở trong tay ai?

Ðại Cẩm ngạc nhên hỏi lại:

– Con đao Ðồ Long nào? Có phải con đao mà người ta vẫn đồn “Võ Lâm Chí Tôn Bảo Ðao Ðồ Long” đó không?

Người đứng giữa tính rất nóng, không muốn nói nhiều, đột nhiên nhảy xuống dưới đất, tiến tới trước xe, mở màn ra nhìn vào bên trong.

Ðại Cẩm thấy thân pháp của người nọ nhanh nhẹn và đẹp mắt vô cùng, lòng càng hoài nghi, lại hỏi:

– Chẳng hay quí vị có phải là Võ Ðang thất hiệp lừng danh giang hồ đấy không? Chẳng hay vị nào là Tống Ðại Hiệp? Tiểu đệ nghe đại danh đã lâụ lòng lúc nào cũng hâm mộ.

Người mặt có nốt ruồi đáp:

– Cái hư danh ấy, Ðỗ huynh hà tất phải nhắc tới làm gì, thật Ðỗ huynh khiêm tốn quá.

Người xuống ngựa xem Ðại Nham quay về chỗ cũ và nhảy lên ngựa nói:

– Y bị thương rất nặng, không thể chậm trễ giây phút nào nữa cả. Chúng ta phải đem y về nhà ngay.

Người mặt có nốt ruồi đen chắp tay vái chào Ðại Cẩm và nói:

– Ðỗ huynh đi xa như vậy, chắc mệt nhọc lắm? Tiểu đệ cám ơn vô cùng.

Ðại Cẩm cũng chắp tay đáp lễ:

– Có gì đâu mà quí vị phải cảm ơn!

Người đó lại tiếp:

– Vị đại gia này bị thương rất nặng, không thể chậm trễ được, chúng tôi phải đem lên núi trước.

Ðại Cẩm chỉ mong thoát trách nhiệm, nên vội đáp:

– Vâng, như vậy chúng tôi kể như đã giao người ấy cho phái Võ Ðang tại đây rồi.

Người nọ liền đáp:

– Ðỗ huynh yên trí! Cứ trao cho tiểu đệ phụ trách là được rồi. Chẳng hay tiền bảo tiêu đã trả cả cho Ðỗ huynh chưa?

Ðại Cẩm trả lời:

– Chúng tôi đã nhận đủ.

Người nọ liền móc túi lấy một thoi vàng, ước chừng trăm lạng và nói:

– Ðây gọi là chút tiền uống nước, mong Ðỗ huynh thưởng cho các anh em hộ.

Ðại Cẩm từ chối:

– Chúng tôi đã nhận hai ngàn lạng vàng rồi, thế là đủ. Ðại Cẩm này không phải người tham lam như giếng không đáy đâu.

Người nọ liền hỏi:

– Hả? Ðã trả cho Tổng tiêu đầu hai ngàn lạng vàng rồi à?

Hai người đi bên cạnh người đó phóng ngựa tiến lên, rồi một người nhảy lên chỗ phu xe ngồi, tiếp lấy dây cương quất ngựa cho xe đi, còn các người khác thì hộ tống ở phía sau xe.

Người mặt có nốt ruồi đen giơ tay lên khẽ ném thoi vàng đến trước mặt Ðại Cẩm vừa cười vừa nói:

– Ðỗ huynh không nên khách sáo, xin trở về Lâm An đi.

Ðại Cẩm thấy thoi vàng ném tới trước mặt, đành phải giơ tay ra bắt, định ném trả lại thì người nọ đã phóng ngựa đi rồi. Năm người hộ tống chiếc xe lớn, quay sang eo núi đi mất dạng. Ðại Cẩm xem lại nén vàng thấy có mười vết ngón tay in vào. Vàng tuy mềm hơn đồng và sắt, nhưng chỉ lực của người đó mạnh như vậy, quả thật đáng sợ.

Ðại Cẩm ngẩn người nghĩ thầm:

– Ðại danh của Võ Ðang thất hiệp không phải do sự may mắn mà có. Trong phái Thiếu Lâm chúng ta, có lẽ chỉ mình Viên Âm và Viên Tâm hai vị sư thúc, luyện tập Kim Cương mới có công lực mạnh như thế này.

Trúc tiêu sư thấy Ðại Cẩm cầm thoi vàng, trợn mắt nhìn mấy vết ngón tay và nói:

– Thật đệ tử của phái Võ Ðang không biết lễ phép gì cả! Gặp mặt mà cũng không thông báo tên họ. Chúng ta hàng nghìn dặm xa xôi tới đây, đã đến chân núi Võ Ðang, mà cũng không mời chúng ta lên núi nghỉ ngơi và ăn uống. Chúng ta với họ cùng một nguồn gốc võ lâm mà ra, họ đối xử nh thế thật kém xã giao quá.

Ðại Cẩm trong lòng đã bất mãn, nhưng không tiện nói ra thôi, nên chỉ cười nhạt một tiếng rồi đáp:

– Như vậy chúng ta lại đỡ phải đi thêm vài bước nữa, chẳng hơn hay sao? Chúng ta là đệ tử phái Thiếu Lâm mà đi vào đạo quang của phái Võ Ðang kể ra cũng khó coi thật. Chúng ta quay ngựa trở về ngay đi.

Lần này đi bảo tiêu, tuy không xảy ra việc gì, nhưng Ðại Cẩm nhận thấy không được hiểu biết gì cả lại còn bị người ta coi rẻ. Ngay như anh em phái Võ Ðang đây chẳng hạn, cả tên họ chúng cũng không thèm thông báo, hiển nhiên là chúng không coi chúng ta ra gì cả. Y càng nghĩ càng bực mình vô cùng, vừa đi vừa suy tính xem có cách gì trả được mối căm hờn này không.

Bọn nguời ngựa của Ðại Cẩm theo đường …

—– thiếu một đoạn —–

… danh hiệu, mà ai nấy cũng khen là người có võ công lợi hại vô cùng, không ngờ lại là một người nho nhã, lịch sự và yếu đuối như vậy.

Ðại Cẩm bán tín bán nghi liền thúc ngựa tiến mấy bước lên tiếng nói:

– Tại hạ là Ðỗ Ðại Cẩm, chẳng hay các hạ có phải là Trương ngũ hiệp mà người giang hồ vẫn gọi là Ngân Thiết Cân Hoạch đó không?

Thiếu niên nọ mặt hơi đỏ bừng, liền đáp:

– Ðỗ Tổng tiêu đầu quá khen đó thôi, chớ tôi đâu xứng đáng với uy hiệu ấy. Các vị tới núi Võ Ðang này, tại sao qua cửa lại không vào? ngày hôm nay là ngày chúc thọ của gia sư, nếu quí vị không bận gì, xin mời lên trên núi uống chén rượu lạt với chúng tôi chẳng hay quí vị có nhận lời không?

Ðỗ Ðại Cẩm nghe thiếu niên nọ nói một cách thành khẩn như vậy, liền nghĩ thầm:

– Sao nhân phẩm của phái Võ Ðang lại khác nhau như thế? Sáu người kia ngạo mạn vô lễ đến thế mà Trương ngũ hiệp lại khiêm hòa khả ái như thế được.

Nghĩ đoạn y liền nhảy xuống ngựa, lên tiếng nói:

– Chúng tôi ở Lâm An tới Tương Dương, nguyên ý là muốn bái kiến Tôn sư Trương Chân Nhân, nhưng… nhưng… chúng tôi chưa sửa soạn lễ vật chúc thọ nên không dám đường đột lên quấy nhiễu như vậy.

Trương Thúy Sơn mỉm cười đáp:

– Chúng ta cùng là người trong võ lâm với nhau, Ðỗ Tổng tiêu đầu hà tất phải câu nệ làm gì.

Gia sư vẫn thường nói: “Võ công của phái Võ Ðang chúng tôi, xuất xứ từ phái Thiếu Lâm” và có dặn anh em chúng tôi hễ lúc nào thấy anh em ở phái Thiếu Lâm thì phải nên cung kính lắm mới được. Nếu gia sư sớm biết Tổng tiêu đầu đi qua dưới núi này thì đã sai anh em chúng tôi xuống cả đây nghinh đón.

Ðại Cẩm nghe Thúy Sơn nói vậy, trong lòng tức giận vô cùng và nghĩ thầm:

– Ta tưởng ngươi là một khiêm khiêm quân tử, không ngờ ngươi lại giảo hoạt hơn mấy tên kia nữa. Thật là sau cái cười có giấu con dao sắt, nếu sư phụ ngươi quả thật có nói như vậy thì tại sao sáu người vừa rồi thấy ta lại vô lễ như thế? Nay người đối xử với ta như vậy thì ta cũng báo đáp lại bằng sự giả dối chớ sao.

Nghĩ đoạn y vừa cười vừa đáp:

– Tuy võ công phái Võ Ðang nguồn gốc ở phái Thiếu Lâm thật, nhưng màu xanh xuất xứ ở màu lam. Cũng như Trương thiếu hiệp tuổi trẻ mà thiên hạ ai cũng ngưỡng mộ. Còn như bọn lão đây tuổi tuy hơn người, nhưng có khác gì thân trâu ngựa đâu.

Trương Thúy Sơn liền đáp:

– Ðỗ Tổng tiêu đầu khiêm tốn quá, cái cờ con cá chép nhảy long môn này vươn ra thì ai mà chẳng giơ ngón tay cái ra để khen ngợi. Ngoài ra môn Giáng Ma Chưởng và ám khí Liên Châu của Tổng tiêu đầu, ai nghe tới cũng phải khiếp đảm. Còn mấy vị đại ca này nữa, quí tính đại danh là gì, mong Tổng tiêu đầu giới thiệu luôn.

Hồi thứ 8
Lục Hiệp Tầm Thù

Thấy chàng nói vậy, Ðại Cẩm liền giới thiệu Trúc,Sử tiêu đầu với chàng.

Trương Thuý Sơn lại nói:

– Ngày nay tiểu đệ mới được quen biết Trúc tiêu đầu,năm xưa với một thanh Kim đao đã đánh bại Dịch Dương ngũ hùng trên đường Tín An,và Sử tiêu đầu nổi tiếng về mười tám đường Tam Nghĩa côn

Trương Thuý Sơn rất được sư phụ Trương Tam Phong thương và cưng ngày thường chàng được nghe sư phụ kể những chuyện trong võ lâm cho nghe.Chàng rất thông minh và trí nhớ rất dai,bất cứ việc to nhỏ gì,chàng chỉ nghe một lần là nhớ mãi không quên.

Trương Tam Phong tuổi đã chín mươi,giao du khắp thiên hạ nên việc gì trong võ lâm cũng biết.

Trương Thuý Sơn còn ít tuổi,nhưng chuyện của các môn phái trong thiên hạ chàng đều biết.Lúc này chàng nghe Ðại Cẩm giới thiệu với tên họ của Trúc,Sử hai tiêu đầu,chàng liền nhắc lại ngay hai việc đắc ý nhất của hai người.

Ðại Cẩm là người có tên tuổi,những chuyện kiệt tác của y ai ai cũng hay biết,có nhắc lại không lấy gì làm lạ.Riêng Trúc,Sử hai tiêu đầu chỉ là những kẻ hảo thủ hạng tư,hạng năm trong võ lâm mà Thuý Sơn cũng nhớ được cả hành động của họ là quý hoá.Trúc,Sử hai người khoái trá vô cùng.

Sử tiêu đầu liền lên tiếng:

– Thưa Tổng tiêu đầu,Trương chân nhân phái Võ Ðang là Thái Sơn Bắc Ðẩu của đương kim võ lâm,ngày nay nhân ngày ăn mừng đại thọ của chân nhân,chúng ta nên lên núi vái chào,mừng tuổi thọ một phen mới phải.

Thuý Sơn vội xen vào:

-Sư phụ chúng tôi đâu dám nhận đại lễ của quí vị như vậy? Quí vị đến đây,bổn phận chúng tôi là địa chủ,lẽ tất nhiên phải thủ tiếp quí vị mới phải.Mấy sư huynh đệ của tiểu đệ rất hiếu khách,mời quí vị hãy tạm lên núi ở lại đó một đêm.

Ðại Cẩm thấy Thuý Sơn ăn nói lanh lợi như vậy ,nghi ngờ vô cùng,liền nghĩ:

– “Sao cả lai lịch và võ công của Trúc, Sử y cũng rõ hết? Thật kỳ lạ quá! Chẳng lẽ vì sáu người vừa rồi thất lễ với chúng ta,bị sư trưởng của chúng khiển trách,nên mới sai y xuống đây mời lên núi xin lỗi cũng nên?”

Nghĩ đoạn,y khoái trí vô cùng,vừa cười vừa đáp:

– Nếu mấy vị sư huynh của Trương đại hiệp cũng hiếu khách như đại hiệp thế này thì anh em chúng tôi sớm lên núi Võ Ðang rồi.

Thuý Sơn ngạc nhiên hỏi:

-Sao vậy? Tổng tiêu đầu đã gặp mấy vị sư huynh đệ chúng tôi rồi hay sao? Chẳng hay Tổng tiêu đầu gặp những vị nào thế?

Ðại Cẩm nghĩ thầm:

– “Tên này khéo diễn kịch thật ? Tới giờ phút này mà y còn bộ giả ngẩn ngơ như vậy ?”

Nghĩ xong , y liền đáp:

– Ngày hôm nay tại hạ thật hên quá,được gặp đủ mặt Võ Ðang thất hiệp.

Thuý Sơn càng ngạc nhiên hơn nữa,thất thanh kêu “ủa” một tiếng,ngẩn người ra giây lát rồi mới hỏi tiếp:

– Tổng tiêu đầu đã gặp Dư tam sư huynh của tiểu đệ rồi đấy à?

Ðại Cẩm đáp:

– Dư Ðại Nham,Dư tam hiệp phải không? Họ không thèm thông tên họ với chúng tôi,nên chúng tôi không biết vị nào là Dư tam hiệp cả.Chỉ thấy sáu vị cùng đi với nhau,chắc thế nào cũng có Dư tam hiệp trong đó?.

Thuý Sơn lại hỏi:

– Sáu người nào? Thế thì lạ thật? Sáu nguời như thế nào?

Ðại Cẩm tỏ vẻ không vui,đáp:

– Mấy vị sư huynh của đại hiệp ,không chịu nói rõ tên họ,thì tôi làm sao biết được là ai? Các hạ là Trương ngũ hiệp,như vậy sáu vị kia tất là Tống đại hiệp cho tới Mạc thất hiệp chớ còn ai vào đó nữa?

Hễ nói tới chũ “hiệp”, y đều kéo dài giọng và hơi ngừng trong giây lát,hình như có vẻ nhạo báng vậy.Nhưng Thuý Sơn đang thắc mắc nên không để ý tới,chỉ hỏi lại rằng:

– Quả thật Tổng tiêu đầu đã gặp sáu vị sư huynh của tiểu đệ đấy à?

Ðại Cẩm lại đáp:

– Không những tôi đã thấy,mà cả bọn anh em tiêu cuộc chúng tôi,mấy chục đôi mắt đều mục kích cả.

Thuý Sơn lắc đầu tiếp:

– Không có lẽ,từ sáng tới giờ,mấy vị sư ca chúng tôi đều ở cả trong Ngọc Hư cung trên núi hầu hạ sư phụ chúng tôi,chưa hề xuống núi một bước.Sư phụ và Tống sư huynh thấy quá giờ ngọ mà vẫn chưa thấy Dư tam ca về mới sai tiểu đệ xuống dưới nầy đợi chờ.Như vậy làm sao Tổng tiêu đầu gặp được mấy vị sư ca của chúng tôi?

Ðại Cẩm liền hỏi:

– Chẳng hay người trên mặt có một nốt ruồi đen và trên nốt ruồi ấy có mọc một cái lông dài,là Tống đại hiệp hay là Dư tam hiệp?

Thuý Sơn ngẩn người rồi trả lời:

– Trong sáu sư huynh đệ của tiểu đệ không có ai có nốt ruồi mọc lông ở trên mặt như vậy cả.

Thấy Thuý Sơn trả lời như vậy,Ðại Cẩm toát mồ hôi lạnh,vội nói tiếp:

– Sáu người ấy tự nhận là Võ Ðang lục hiệp,và chúng tôi lại thấy họ xuất hiện dưới chân núi Võ Ðang,trong bọn lại có hai người mặc áo đạo sĩ mũ vàng,nên chúng tôi tin tưởng.

Thuý Sơn mỉm cười rồi đáp:

-Sư phụ chúng tôi là đạo nhân,nhưng anh em chúng tôi đều là đệ tử tục gia cả.Sáu người ấy tự nhận là Võ Ðang lục hiệp phải không?

Ðại Cẩm hổi tưởng lại tình cảnh vừa qua , y liền nói:

– “Chúng ta vừa lên trên núi,thấy sáu người nọ cứ tưởng là Võ Ðang lục hiệp,nhưng đối phương có nói câu tự bày tỏ chân tương đâu? Họ chỉ không nhận sự hiểu lầm của chúng ta thôi”.

Nghĩ tới đó,y liền nhìn hai tiêu đầu Sử,Trú,ngẩn người một hổi,giây lát sau y mới lên tiếng nói:

– Theo như lời của Trương ngũ hiệp thì sáu người nọ không phải là những người chính đáng đâu,chúng ta may đuổi theo ngay đi.

Nói xong,y liền lên ngựa quay đầu lại,tiến thẳng về phía núi Võ Ðang,định đuổi theo sáu người kia.

Thuý Sơn cũng nhảy lên con Thanh Thông phóng ngang hàng với Ðại Cẩm và lên tiếng nói:

– Sáu người nọ mạo danh chúng tôi,Ðỗ huynh hà tất phải đuổi theo làm gì.

Ðại Cẩm thở hồng hộc đáp:

– Nhưng,còn người nọ cơ mà.Có người nhờ mỗ hộ tống người nọ lên núi Võ Ðang này trao cho Trương chân nhân.Sáu người đã mạo nhận tên họ của quí vị,nhận luôn người nọ đem đi,tôi chỉ e đại sự nguy tai lắm!..

Thuý Sơn lại hỏi:

– Ðỗ huynh tống tiễn ai tới đây để trao cho sư phụ tôi? Sáu người nọ nhận ai thế?

Ðại Cẩm thúc ngựa cắm đầu chạy ,và vừa đi vừa kể lại câu chuyện của y.

Thuý Sơn ngạc nhiên vô cùng liền hỏi tiếp:

– Người bị thương tên là gì,bao nhiêu tuổi,mặt mũi như thế nào?

Ðại Cẩm đáp:

– Tôi cũng không biết tên là gì cả,vì chàng ta bị thương nặng nên không nói lên lời nào,chỉ có thở thôi,tuổi thì trạc độ ba mươi.

Rồi y kể lại tướng mạo của Ðại Nham cho Trương Thuý Sơn nghe.

Thuý Sơn thất thanh la lớn:

– Người đó là. . .Dư tam ca chúng tôi.

Tuy trong lòng chàng vô cùng kinh hãi nhưng ngoài mặt cố trấn tĩnh,giơ tay trái nắm luôn cương ngựa Ðại Cẩm lại.Con ngựa đang đà chạy nhanh bị Thuý Sơn nắm khẽ một cái,đứng dừng ngay lại,mồm rỉ máu tươi,có vẻ không chịu nổi,cất vó kêu hí luôn mồm.

Ðại Cẩm liền xuống ngựa rút đơn đao ra,trong lòng cũng phải kinh hãi thầm và nghĩ:

– “Không ngờ người này trông gầy gò ốm yếu như vậy,mà y chỉ khẽ nắm một cái con ngựa của ta phải dừng lại ngay”.

Thuý Sơn liền nói:

– Ðỗ đại ca chớ hiểu lầm,đại ca từ ngàn dặm xa xôi,hộ tống Dư tam ca tôi tới đây,tiểu đệ cảm ơn vô cùng,chớ không có ý gì khác cả.

Ðại Cẩm nghe Thuý Sơn nói vậy mới đẩy con dao vào trong bao,nhưng vẫn còn cầm cán.

Thuý Sơn lại hỏi tiếp:

– Tại sao Dư tam ca tôi bị thương và bị thương ở đâu? Kẻ thù là ai? Ai nhờ đại ca đưa tam ca tôi tới đây?

Ba câu hỏi đó khiến Ðại Cẩm không biết trả lời ra sao. Thuý Sơn cau mày lại hỏi tiếp:

– Sáu người vừa tiếp nhận Dư tam ca tôi hình dáng như thế nào?

Sử tiêu đầu nhanh nhẩu cướp lời nói trước.Y kể lại hình dáng sáu người kia cho Thuý Sơn nghe. Thuý Sơn liền nói:

– Ðể tiểu đệ đi trước một bước.

Nói xong chàng cất vó phóng thẳng.

Võ Ðang thất hiệp đồng môn học nghệ cùng hạ sơn hành hiệp,coi nhau như tình ruột thịt.

Thuý Sơn nghe Dư tam ca bị thương nặng và bị bọn người lạ mặt đem đi,lòng nóng như thiêu,cứ thúc ngựa chạy nhanh.

Lúc ấy dù con ngựa quí của chàng có chạy quá nhanh mà lăn đùng ra chết chàng cũng mặc.Chàng chạy một hồi tới thảo điếm,nơi đây là ngã ba đường,một con đường đi núi Võ Ðang,còn một con đường nữa đi theo phía Ðông Bắc tới Văn Dương tỉnh Hồ Bắc.

Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Nếu sáu người nọ có lòng tốt đưa Tam ca về núi thì ta đã gặp.

Nghĩ đoạn chàng liền quay ngựa chạy về phía Ðông Bắc.

Chàng phóng ngựa đi được nửa tiếng đồng hồ,con ngựa của chàng tuy khỏe mạnh thật, nhưng cũng không sao chịu nổi,càng chạy càng chậm dần.Lúc ấy trời cũng đang chập tối.

Con đường đó là đường núi,ít người đi lại nên chàng không sao hỏi thăm ai được. Chàng vừa đi vừa nghĩ:

– “Võ công của Dư tam ca ta rất cao siêu,sao anh ấy bị người ta đánh một cách dễ dàng như thế.Xem sắc mặt và dáng điệu của Ðại Cẩm thì y không phải là người nói dối đâu.

Chàng vừa nghĩ tới đó thì đã tới Trấn Thập Yêt.Con ngựa Thanh Thông bỗng hí một hồi dài rồi rời khỏi đường cái và rẽ vào con đường trong bãi tha ma mà đi. Thuý Sơn biết thế nào cũng có điều gì kỳ lạ đây.

Quả nhiên,khi chàng ngước mắt nhìn thấy có một cái xe lớn đổ nghiêng trong bụi cỏ lau.Chàng tiến lên mấy bước nữa,thấy con lừa kéo xe đó đầu vỡ tan,óc lòi ra bên ngoài nằm chết dưới đất.

Chàng tiến lên mấy bước,mở màn xe ra xem thấy không có người.Chàng vội quay lại kiếm,thấy có một người nằm phục trong đống cỏ lau không cử động chút nào,chắc đã chết từ lâu.

Trống ngực chàng đập mạnh,liền rảo bước đến xem,trông hình bóng phía sau rất giống Ðại Nham.

Chàng vội ẵm người đó lên,trong bóng chiều tối,chàng thấy người nọ hai mắt nhắm nghiền,mặt như gà bị cắt tiết.

Chàng vừa đau lòng vừa kinh hãi,khẽ dí má mình xuống má người nọ,thấy hãy còn hơi thở ấm.Chàng cả mừng,rờ tay vào ngực kẻ đó,thấy tim lúc ngừng lúc đập,liền ứa nước mắt ra nói:

-Tam ca,anh . . .làm sao thế này . . . em là ngũ đệ. . .ngũ đệ đây mà.

Chàng xốc nách để cho Ðại Nhâm đứng thử,thì thấy thân hình Ðại Nham mềm nhũn, lúc ấy chàng mới hay chân của Tam sư huynh đã bị người ta đánh gãy,ngón tay,cổ tay,cẳng tay và đùi,chỗ nào cũng có máu rỉ ra cả.Hiển nhiên bị kẻ địch hạ thủ không bao lâu,thủ đoạn của địch độc ác vô cùng và thảm trạng đó khiến chàng không nỡ nhìn.

Thuý Sơn tức giận vô cùng,mắt như đổ lửa,biết kẻ địch mới rời khỏi nơi đây không lâu, định phóng ngựa đuổi theo nhưng chàng nghĩ lại:

-“Tam ca bị thương nặng như thế này,ta cần phải cứu anh ấy thoát chết đã,quân tử trả thù mười năm sau cũng không muôn.”

Nghĩ đoạn chàng móc túi định lấy thuốc ra cứu chữa cho Ðại Nhâm,nhưng vì định xuống núi giây lát,chàng không đem khí giới và túi thuốc theo.

Chàng thấy Tam sư ca bị thương nặng như vậy,nếu để lên mình ngựa sẽ bị chấn động và bị xóc,càng đau đớn hơn. Chàng liền ẵm Ðại Nham lên,chạy thẳng lên núi.Con ngựa Thanh Thông cũng chạy theo sau,thấy chủ không cưỡi lên nó chắc nó cũng lấy làm lạ lắm.

Hôm đó đúng là ngày chúc thọ chín mươi của Trương Tam Phong,tổ sư đã sáng lập ra phái Võ Ðang.Trời vừa tảng sáng,không khí Ngọc Hư cung vô cùng vui vẻ.Sáu người đệ tử lần lượt chúc thọ sư phụ.

Ðáng lẽ là bảy người,nhưng vắng mặt Dư Ðại Nham.Tam Phong và các đồ đệ kia vẫn biết Ðại Nham là người xưa này rất trọng tín nghĩa.Hiện giờ chàng ta đi về phía Nam diệt một tên giặc không lợi hại lắm thì thế nào cũng kịp về đến nơi.Nhưng chờ mãi đến chính ngọ, vẫn chưa thấy hình bóng của chàng đâu cả,ai nấy thảy đều nóng lòng,sốt ruột vô cùng. Thuý Sơn liền xin phép sư phụ:

-Xin sư phụ cho phép đệ tử hạ sơn đón Dư tam ca.

Ngờ đâu chàng đi rồi cũng biệt tăm.Mọi người suy tính,chàng cưỡi con ngựa Thanh Thông đó đi rất nhanh,dầu có đến Lão Hà Khẩu thì giờ này cũng đã về.

Không ngờ mọi người chờ đến giờ dậu mà vẫn chưa thấy Thuý Sơn trở về núi.Trên đại sảnh,tiệc chúc thọ đã bay,hai cây nến đỏ thật lớn cũng đã cháy quá nửa rồi.Ai nấy cũng đều tỏ vẻ không yên.Lục đệ tử Hân Lợi Hanh và Thất đệ tử Mạc Thanh Cốc cứ đi ra đi và trước cửa Ngọc Hư cung ngóng đợi,không biết đã bao nhiêu lượt rồi.

Trương Tam Phong biết rõ tánh nết và nhân cách của hai đệ tử mình.

Ðại Nham là người đáng tin cậy,có thể làm việc lớn.Còn Thuý Sơn là người thông minh và khôn ngoan,làm việc gì cũng nhanh chóng.Nhưng chờ mãi đến giờ này mà vẫn chưa thấy hai môn đệ về tới.Tam Phong liền đoán là thế nào cũng đã xảy ra việc gì rồi.

Tống Viễn Kiều nhìn đôi nến đỏ vừa cười vừa nói:

– Thưa sư phụ,chắc Dư tam đệ và Trương ngũ đệ gặp một việc gì bất bình,rồi ra tay cũng nên.Xưa nay,sư phụ vẫn dạy bảo chúng con phải tích đức tùng thiện.Ngày hôm nay là ngày ăn mừng đại thọ của sư phụ,hai sư đệ làm một việc nghĩa còn hơn là đem một phần lễ vật đến chúc thọ.

Tam Phong vừa vuốt râu vừa cười đáp:

– Năm ta ăn thọ tám mươi,con đã cứu một người quả phụ đâm đầu xuống giếng,vậy mới phải là một người hành hiệp.Nhưng mười năm mới làm được một việc thiện thì người thiên hạ chờ đến khô héo cả tim gan mất.

Năm người đệ tử đều bật cười.Thì ra Trương Tam Phong là Ðại tôn sư của một môn phái, nhưng tính rất khôi hài,nên giữa tình thầy trò vẫn thường hay nói bông đùa.

Tứ đệ Trương Tòng Khê nói:

– Sư phụ thế nào cũng sống tới hai trăm tuổi là ít,như vậy mỗi mười năm chúng con sẽ làm một việc thiện,tới lúc ấy,tính cộng lại,cũng không ít đâu.

Thất đệ tử Mạc Thanh Cốc vừa cười vừa nói:

– Hà hà,chỉ sợ chúng con không sống được như thế thôi. . .

Chàng chưa nói dứt,đại đệ tử Tống Viễn Kiều và nhị đệ tử Dư Liên Châu đều chạy cả ra ngoài hiên ,lớn tiếng hỏi:

– Có phải Tam đệ đấy không?

Chỉ nghe Thuý Sơn trả lời:

– Em đây.

Giọng nói của chàng có vẻ đau đớn vô cùng,mọi người thấy chàng đang ẵm một người trên tay bước vào,mặt dính đầy máu và mồ hôi,tiến tới trước mặt Tam Phong,khóc nức nở và nói:

– Sư phụ.Dư. . .Dư tam ca bị người ta ám hại. . .

Mọi người nghe nói đều kinh hãi.

Chỉ thấy Trương Thuý Sơn loạng choạng một cái đã ngã về phía sau.Bởi chàng chạy một quãng đường khá xa,trong lòng lại mang nhiều đau thương không sao chịu đựng nổi, nhưng vẫn cố gắng chịu đựng,tới khi chàng thấy sư phụ và các đồng môn liền ngã lăn ra chết giấc.

Tống Viễn Kiều và Dư Liên Châu đều là người rất có kiến thức,trước đại biến không bao giờ bị loạn tâm trí. Hai người biết Thuý Sơn vì quá khích động mới lăn ra chết giấc như vậy.

Còn Tam sư đệ Dư Ðại Nham không biết sống chết ra sao nên hai người cùng giơ tay ẵm Ðại Nham lên.Thấy chàng hô hấp rất yếu ớt,gần như sắp tắt thở.

Trương Tam Phong thấy đệ tử cưng của mình sắp chết đến nơi,trong lòng bị chấn động mạnh,không kịp hỏi han,đã vội vào trong nội đường lấy lọ thuốc Bạch Hổ Ðoạt Mệnh Ðơn ra.Lọ thuốc đó dùng sáp trắng trát trên miệng.Lúc này Tam Phong cũng không kịp bóc sáp đó,chỉ dùng hai ngón tay bóp cổ lọ một cái,lọ thuốc vỡ tan,rồi lấy ba viên thuốc trắng ra cho Ðại Nham uống liền.

Lúc bầy giờ Ðại Nham đã mất hết tri giác thì làm sao mà nuốt ba viên thuốc đó được ?

Trương Tam Phong dùng hai ngón tay cái và trỏ,điểm vào yếu huyệt ở sau tai Ðại Nham, rồi vận dụng nội lực đưa đẩy vài cái.Cách cứu chữa của Trương Tam Phong,dù đối với một người vừa mới tắt thở cũng có thể cứu sống lại được.

Nhưng Tam Phong điểm tới hai mươi lần mà Ðại Nhâm vẫn nằm im không hể cử động chút nào.Tam Phong thở nhẹ một tiếng rồi hai tay nắm thanh kiếm quyết dùng chưởng tâm đẩy vào yếu huyệt dưới hàm của Ðại Nham,hai tay liên tiếp thay đổi một âm một dương.Gián tiếp như vậy liên tiếp mười hai lần.Lúc ấy Ðại Nham mới há mồm để cho ba viên thuốc chạy vào trong cổ.

Hân Lợi Hanh với Mạc Thanh Cốc tính thần đang gay cấn,thấy vậy bỗng thất thanh la lớn một tiếng.

Những bắp thịt ở yết hầu của Ðại Nham đã cứng ngắt,cho nên thuốc chỉ vào được tới cổ rồi dừng lại ở đó.

Tứ đệ tử Trương Tòng Khê vội xoa bóp bắp thịt cổ cho Ðại Nham và điểm hai yếu huyệt trên vai cho chàng,để lúc chàng thức tỉnh không đến nỗi vì sự đau đớn của tứ chi mà chết giấc thêm một lần nữa.

Tống Viễn Kiều và Dư Liên Châu từ khi thọ giáo với tôn sư tới giờ,thấy sư phụ dù có bất cứ đại sự gì,dù nguy hiểm đến đâu vẫn cứ ung dung như thường,nhưng lần này hai người lại thấy sư phụ hơi run,mắt lộ vẻ kinh hoảng.Cả hai đều biết vết thương của Tam sư đệ rất nghiêm trọng.

Một lát sau,Thuý Sơn đã từ từ tỉnh dậy,cất tiếng hỏi:

– Thưa sư phụ,chẳng hay Dư tam ca có thể cứu được không?

Tam Phong không trả lời ngay câu đó,chỉ nói:

– Thuý Sơn,con thử nghĩ xem,trên đời này ai mà chẳng phải chết một lần.

Ðang lúc ấy bỗng có một tiểu đồng chạy vào báo:

-Thưa Tổ sư,bên ngoài có một bọn tiêu khách xin vào yết kiến.Họ bảo họ là Tổng tiêu đầu của Long môn tiêu cục ở phủ Lâm An,họ Ðỗ ,tên Cẩm.

Thuý Sơn nghe nói,đứng phắt dậy tỏ vẻ giận dữ quát to:

– Chính là tên ấy đấy.

Nói đoạn chàng tung mình nhảy ra,đoạn chỉ nghe bên ngoài có mấy tiếng xoảng khí giới rơi xuống đất.Hân Lợi Hanh với Mạc Thanh Cốc cũng xông ra giúp sư huynh.Giây phút sau Thuý Sơn đã túm lưng một tên đại hán xách vào,vứt xuống đất và giận dữ nói:

– Chỉ tại tên này làm hư mất đại sự.

Lợi Hanh là người nóng tính nhất trong Võ Ðang thất hiệp,nghe Thuý Sơn nói người nọ làm hại Tam sư ca,liền giơ chân ra đá vào mình Ðại Cẩm.Tống Viễn Kiều thấy vậy vội ngăn và quát:

– Lục đệ hãy khoan đã.

Lúc ấy ngoài cửa có người la lớn:

– Các người Võ Ðang sao vô lý đến thế? Chúng tôi có hảo ý đến cầu kiến,sao lại bắt nạt như vậy?

Tống Viễn Kiều cau mày lại giơ tay vỗ vào gáy và lưng Ðại Cẩm mấy cái,giải huyệt của Thuý Sơn đã điểm y rồi nói:

– Khách bên ngoài chớ có ồn ào như thế vội,hãy đợi chờ giây lát,sẽ phân biệt ai phải ai trái.

Lời của chàng rất oai nghiêm,nội lực lai sung túc,Trúc,Sử,nhị vị tiêu đầu đều sợ hãi và im lặng ngay.Chúng tưởng là Trương Tam Phong quát bảo,nên chúng không dám lôi thôi nữa.

Viễn Kiều lại hỏi tiếp:

– Ngũ đệ,tại sao tam đệ bị thương như vậy? Chú hãy thong thả nói ra đừng có nóng nảy như vậy.

Thuý Sơn hậm hực đưa mắt nhìn Ðỗ Ðại Cẩm rồi mới kể lại có người nhờ Long Môn tiêu cục hộ tống Ðại Nham lên núi Võ Ðang,nhưng bị sáu tên giặc mạo danh đón Ðại Nham, kể hết cho mọi người nghe.Viễn Kiều thấy võ công của Ðại Cẩm tầm thường,tất nhiên không thể nào hại nổi Ðại Nham được, huống hồ y đã lên tận trên núi cầu kiến thì phải tình ngay mới dám.Chàng nghe thấy Thuý Sơn nói,vẻ mặt ôn tồn,hỏi lại Ðại Cẩm tình hình từ hôm bắt đầu cho đến khi gặp Thuý Sơn,trong mười ngày đó ra sao? Ðại Cẩm theo đúng sự thật kể lại cho Viễn Kiều nghe,sau cùng y dịu nét mặt lại tiếp:

– Chúng tôi làm việc không được chu đáo,để luỵ đến Dư đại hiệp bị tai hoạ như vậy,thật tội đáng chết lắm.Còn gia quyến của chúng tôi,hiện đang ở trong tiêu cuộc tại phủ Lâm An không biết sống chết ra sao.

Trương Tam Phong vẫn cứ dùng gan bàn tay đè vào hai yếu huyệt của Ðại Nham vận dụng nội lực dồn hơi nóng sang thân thể cho người đồ đệ đó.Khi Tam Phong nghe Ðại Cẩm nói như thế,bỗng lên tiếng nói:

– Liên Châu,con cùng Thanh Cốc đi ngay Lâm An bảo vệ gia quyến của Long Môn tiêu cuộc đi.

Liên Châu ngẩn người,nhưng chàng hiểu ngay lòng từ bi và nghĩa hiệp của sư phụ mình. Vì người khách họ Hân nói,nếu giữa đường việc đó có sơ xuất chút nào y sẽ giết hết bảy mươi mốt mạng già trẻ lớn bé trong Long Môn tiêu cuộc.

Ðó tuy là lời doạ nạt,nhưng Ðại Cẩm với tất cả hảo thủ đều đi bảo tiêu cả,nếu trong tiêu cuộc quả có sự gì nguy hiểm thì không ai có thể che chở cho họ.

Thuý Sơn liền thưa:

– Thưa sư phụ,tên họ Ðỗ này quả thật hồ đồ,Tam sư ca đã bị y hại đến mức này rồi,dù có cho y ta không phải hữu ý,chúng ta không lôi thôi với y,như vậy cũng đã đại lượng lắm rồi.Tại sao còn đi bảo vệ gia quyến của y làm gì?

Tam Phong lắc đầu không đáp.Viễn Kiều liền trả lời thay:

– Ngũ đệ,sao chú hẹp hòi đến thế.Ðỗ Tổng tiêu đầu đi hàng ngàn dặm xa xôi là vì ai thế?

Thuý Sơn cười nhạt đáp:

– Y vì hai ngàn lạng vàng tiền bảo tiêu,chớ vì ai nữa.

Ðại Cẩm nghe Thuý Sơn nói vậy,xấu hổ đến mặt đỏ bừng lên. Quả thật y nhận bảo vệ món tiêu này cũng vì số bạc kếch xù đó.

Viễn Kiều quát lớn:

– Ngũ đệ không được vô lễ với khách.Chú đã vất vả nửa ngày rồi,mau vào trong nghỉ ngơi đi.

Trong phái Võ Ðang,quyền của sư huynh rất lớn,về võ công tuổi tác đức trọng của Viễn Kiều đều hơn sáu người kia,nên từ Liên Châu trở xuống,ai nấy đều tôn kính chàng vô cùng.

Thuý Sơn nghe Ðại sư ca quát,không dám lên tiếng cãi lại,nhưng chàng vẫn quan tâm đến vết thương của Ðại Nham,nên không thể đi nghỉ.

Viễn Kiều lại nói:

– Cứu binh cũng như cứu hoả,sư phụ đã có lịnh thì chú cùng thất đệ lên đường ngay,đừng lỡ việc thì phiền lắm.

Liên Châu và Thanh Cốc nhận lời ngay,liền về phòng riêng thu thập hành lý.

Ðại Cẩm thấy Dư ,Mạc sửa soạn đi Lâm An để bảo vệ gia quyến mình,trong lòng cảm động vô cùng,liền chắp tay vái chào Trương Tam Phong và nói:

– Kính thưa Trương chân nhân,việc riêng của hậu bối,không dám làm phiền đến Dư,Mạc nhị hiệp.Xin chân nhân cho phép hậu bối cáo từ trở về ngay.

Viễn Kiều liền đáp:

– Ðêm nay quí vị hãy ở lại đây nghỉ ngơi,chúng tôi còn có một chút việc thỉnh giáo.

Tiếng nói của Viễn Kiều rất bình thường,nhưng có vẻ oai nghiêm,khiến cho người nghe không sao chối cãi được.

Ðại Cẩm lẳng lặng không nói gì,ngồi xuống một bên.Y thấy Liên Châu và Thanh Cốc trước khi đi cứ nhìn Ðại Nham hoài,có vẻ luyến tiếc vô cùng,rồi mới từ biệt xuống núi.Y biết hai người này cách biệt sư huynh đó là sinh ly hay là tử biệt? Và không biết sau này làm nhiệm vụ xong trở về núi còn gặp được mặt Ðại Nham hay không?

Lúc ấy,đại sảnh yên lặnh như tờ,mọi người chỉ nghe thấy tiếng hô hấp nặng nề của Trương Tam Phong,và thấy trên đầu của vị sư đó có hơi bốc lên.

Nửa tiếng đồng hồ sau,mọi người bỗng nghe Ðại Nham kêu “ối cha” một tiếng thật lớn,làm chấn động cả mái nhà.

Ðại Cẩm giật bắn mình,nhảy bắn người lên,y liếc mắt nhìn trộm Tam Phong,không thấy mặt Trương chân nhân lộ vẻ vui mừng hay buồn rầu gì cả,nên y không sao đoán được là kiết hay là hung, nay y lại thấy Ðại Nham kêu la lớn như vậy,càng không hiểu dữ lành ra sao.

Lúc này Trương Tam Phong mới từ từ nói:

-Tùng Khê,Lợi Hanh,hai con hãy khiêng Tam ca vào trong phòng ngủ đi.

Trương Tòng Khê và Hân Lợi Hanh liền khiêng Ðại Nham vào trong phòng, rồi quay trở ra.

Vừa ra tới sảnh,Lợi Hanh không nhịn được,liền hỏi sư phụ:

– Thưa sư phụ,chẳng hay Dư Tam ca có toàn bộ phục hồi được không?

Tam Phong thở dài một tiếng lặng thinh hồi lâu rồi mới chậm rãi đáp:

– Tính mạng của y có bảo hồi được hay không thì phải đợi đến tháng sau mới rõ.Nhưng xương chân và xương tay của y đã gãy,không sao nối lại được nữa. ở đời này. . .

Nói chưa dứt lời,Trương chân nhân đã tỏ ra buồn khổ,lắc đầu.Lợi Hanh đột nhiên ôm mặt “oà” lên khóc thét.Võ công của chàng lúc này đã luyện đến mức cao thủ hạng nhất,nhưng chàng vẫn nhẹ lòng như xưa,hơi xúc động một chút là khóc liền.

Thuý Sơn đột nhiên tung mình nhảy lên,tát luôn Ðại Cẩm một bạt tai kêu bốp một tiếng.Cái tát của chàng nhanh như điện chớp,nên Ðại Cẩm có giơ tay lên chống đỡ cũng không kịp.Thuý Sơn vẫn chưa hết giận,co tay lại,định dùng khuỷu tay trái thích vào lưng Ðại Cẩm nữa.Thế công đó cũng rất nhanh nhưng Tùng Khê đã giơ chưởng đẩy vào vai Thuý Sơn một cái,tay đó bị đánh tạt ra ngoài,và Ðại Cẩm nhảy lùi về phía sau.Bỗng có tiếng keng trong người y rơi ra một nén vàng,Thuý Sơn dùng chân trái khẽ móc một cái thoi vàng bắn tung lên,chàng giơ tay ra bắt luôn rồi cười nhạt nói:

– Quân tham tài vô nghĩa,người ta thưởng cho mi một thoi vàng này,mi liền trao Dư tam ca của chúng ta để. . .

Chàng chưa nói dứt,đột nhiên kêu “ủa” một tiếng,thì ra chàng đã thấy thoi vàng đó có mười vết ngón tay,bèn tiếp:

– Ðại Sư ca,đây . . .đây là Kim Cương Chỉ của phái Thiếu Lâm.

Viễn Kiều cầm lấy thoi vàng xem xét một lát rồi trao Trương Tam Phong. Cầm thoi vàng đó,Tam Phong xem đi xem lại mấy lượt,lại liếc nhìn Viễn Kiều,nhưng cả hai thầy trò không nói năng gì cả.

Thuý Sơn lớn tiếng hỏi:

– Sư phụ,môn Kim Cương Chỉ này chỉ có phái Thiếu Lâm,chớ phái khác không sao biết sử dụng,có phải như thế không sư phụ?Có phải không sư phụ?

Trong giây phút Trương Tam Phong đã hồi nhớ lại lúc còn nhỏ,lúc theo hầu Giác Viễn thiền sư trong Tàng Kinh Các trong chùa,Thiếu Lâm đánh bại Côn Luân Tam Thánh Hà Túc Ðạo như thế nào,sau bị tăng chúng chùa Thiếu Lâm đuổi bắt rồi chạy lên núi Võ Ðang nầy sao. . .Việc mấy chục năm xa đều hiện ra trước mắt chân nhân.Tam Phong lại nhìn

những dấu ngón tay trên thoi vàng,quả thật là Kim Cương Chỉ pháp của Thiếu Lâm.

Nhưng nếu bây giờ Trương chân nhân nói ra sự thật đó thì các đệ tử quyết không tha cho phái Thiếu Lâm,như vậy hai môn phái lãnh tụ Võ Lâm sẽ gây nên một trận phong ba rất lớn.

Thuý Sơn thông minh vô cùng,thấy sư phụ trầm ngâm,biết rằng lời ước đoán của mình là không sai,lại hỏi tiếp:

– Thưa sư phụ,trong Thiếu Lâm có kỳ nhân,dị sĩ nào luyện được Kim Cương chỉ lực này không?

Tam Phong lắc đầu,từ từ đáp:

– Môn Kim Cương Chỉ này của phái Thiếu Lâm đã có ngàn năm kinh nghiệm, truyền thống đời đời,chớ không phải một thời gian ngắn mà phát minh ra được.Cho nên dù người nào thông minh đến đâu cũng không sao tự sáng chế nổi.

Nói đến đây,Tam Phong dừng lại giây lát,lại tiếp:

– Năm xưa,sư phụ đã ở trong chùa Thiếu Lâm một thời gian,nhưng không được truyền dạy môn võ công đó,cho tới lúc này sư phụ cũng không hiểu sao xác định tầm thường của chúng ta tại sao lại luyện tới mức cứng rắn như thế được?

Viễn Kiều bỗng hai mắt sáng hẳn lên và lên tiếng:

– Có lẽ tay chân của Tam Ðệ bị người có Kim Cương chưởng lực bóp gẫy chăng?

Lợi Hanh kêu ủa một tiếng,nước mắt tuôn ra như mưa,nức nở khóc liền.

Ðại Cẩm nghe người đã làm tàn phế Ðại Nham là người của phái Thiếu Lâm,càng kinh hoảng trợn mắt há mồm một hồi lâu mới nói:

– Không. . .quyết không phải đâu.Tôi ở trong chùa Thiếu Lâm học võ nghệ mười mấy năm chưa hề thấy mặt người đó bao giờ.

Viễn Kiều ngắm nhìn Ðại Cẩm một hồi rồi quay lại nói với Lợi Hanh:

– Lục đệ,hãy đưa Tổng tiêu đầu vào hậu viện nghỉ ngơi,dặn lão Vương phải tiếp đãi khách xa cho chu đáo nhé.

Lợi Hanh liền nhận lời,dẫn bọn Ðại Cẩm vào hậu viện.Ðại Cẩm còn muốn biện bạch vài lời,nhưng gặp tình cảnh này y không sao nói thêm được.

Lợi Hanh thu xếp chỗ cho các tiêu sư nghỉ ngơi,rồi quay trở ra phòng Ðại Nham thăm nom.Chàng chỉ thấy Ðại Nham trợn trừng mắt nhìn,tựa như mất hết hồn vía,vẻ anh hùng xưa kia đã biến đâu mất.

Thấy tình cảnh đau thương ấy,Lợi Hanh không sao chịu được liền kêu lên đầy đau thương:

– Tam ca!

Rồi chàng ôm mặt chạy ra ngoài đại sảnh thì thấy bọn Viễn Kiều đang ngồi trước mặt sư phụ.

Trương Tam Phong đang đưa mắt nhìn ra chỗ cây hoè ngoài sân,ngẩn người giây lát rồi nói:

-Việc khó khăn lắm,Tùng Khê này,con bảo có phải không?

Trong Võ Ðang thất hiệp chỉ có Tùng Khê là người đa mưu túc kế nhất.

Xưa nay ít nói,nhưng bất cứ việc gì bảo chàng ước đoán,thế nào cũng trúng. Lần này từ khi Thuý Sơn ẵm Ðại Nham lên núi tới giờ,tuy trong lòng chàng rất đau đớn,nhưng chàng vẫn nghĩ ngợi mà chưa đoán ra đầu đuôi.Lúc ấy nghe sư phụ hỏi tới chàng liền đáp:

– Theo sự suy đoán của đệ tử thì hung thủ không phải là người của Thiếu Lâm mà nguyên nhân là con đao Ðồ Long.

Thuý Sơn và Lợi Hanh đều kêu lên một tiếng ngạc nhiên.Viễn Kiều lại tiếp:

– Tứ đệ,việc này chắc chú đã đoán được phần nào,vậy chú hãy nói ra cho sư phụ quyết định.

Tùng Khê liền đáp:

– Dư tam ca hành sự rất thận trọng,đối với bạn rất hoà khí,nên không bao giờ kết thù kết oán với ai cả.Lần này Tam ca đi về phía Nam giết tên đạo tặc nọ, tên đó là một tên giặc vô sỉ đã bị các giới võ lâm khinh miệt,tất nhiên các phái võ lâm không vì tên đó mà hãm hại Dư tam ca đâu.

Tam Phong gật đầu cho là phải,Tùng Khê lại tiếp:

– Chân tay xương cốt của Tam ca bị gãy đều là ngoại thương,nhưng khi ở Lâm An phủ,tỉnh Chiết Giang,Tam ca đã trúng phải chất độc cực mạnh. Theo ý kiến của đệ tử thì chúng ta tới phủ Lâm An điều tra trước,xem tại sao Dư tam ca trúng phải chất độc? Và hung thủ là ai?

Tam Phong gật đầu rồi nói:

– Chất độc của Ðại Nham trúng phải đặc biệt lắm.Tới giờ phút này sư phụ vẫn chưa biết được đó là chất độc gì?Gan bàn tay của Ðại Nham có bảy cái lỗ nho nhỏ,lưng và đùi cũng có vài lỗ như bị kim châm.Trên giang hồ chưa có ta hảo thủ nào sử dụng những ám khí bé nhỏ và có chất độc mạnh đến thế?

Viễn Kiều lại đỡ lời:

– Việc này thật lạ quá.Cứ theo lý thuyết thường mà suy đoán thì kẻ ném ám khi nho nhỏ ấy phải là một tay cao thủ hạng nhất mới làm cho tam đệ không sao tránh né được.Nhưng những cao thủ hạng nhất trong giang hồ nầy,có khi nào sử dụng những ám khí có chất độc như thế đâu?

Mọi người đều im lặng nghĩ ngợi xem nhân vật của môn phái nào lại sử dụng thứ ám khi có chất độc ấy?

Một lát sau,năm người chỉ nhìn nhau,chớ không ai nghĩ được kẻ đó là ai. Tùng Khê lại nói:

– Người trên mặt có nốt ruồi đen kia,tại sao lại bóp gẫy hết chân tay của Tam sư ca vậy?Nếu y quả có mối thù với Tam sư ca thì chỉ một chưởng cũng đủ đánh chết rồi.Nếu y muốn Tam sư ca đau khổ thêm,tại sao y không đánh gẫy xương sống hay xương sườn của Tam sư ca?Lý do rất rõ rệt,y bóp như thế là muốn hỏi khẩu cung Tam ca.Y muốn lấy gì? Theo sự nhận xét của đệ tử thì y muốn lấy con đao Ðồ Long.Theo lời nói của Ðại Cẩm thì một trong sáu tên ấy đã hỏi:

– Con đao Ðồ Long còn trong đó không?

Viễn Kiều tiếp lời:

– Võ Lâm Chí Tôn,bảo đao Ðồ Long, ỷ Thiên bất xuất,thuỳ dự tranh phong.

Bốn câu ấy đã truyền tụng trong mấy trăm năm rồi.Chẳng nhẽ bây giờ quả thật Ðồ Long đao mới xuất hiện sao?

Tam Phong đáp:

– Có phải mấy trăm năm đâu? Nhiều lắm là bảy tám mươi năm là cùng.Lúc ấy sư phụ hãy còn trẻ,không nghe ai nói bốn câu ấy cả.

Thuý Sơn bỗng đứng dậy nói:

– Tứ sư ca nói rất phải.Hung thủ đã giết hại Tam sư ca,thế nào cũng ở trong vùng Giang Nam thôi,chúng ta đi kiếm ngay mới được.Còn tên ác tặc của phái Thiếu Lâm tàn ác,chúng ta không thể nào buông tha y được.

Tam Phong liền bảo Viễn Kiều:

– Viễn Kiều,con thử nghĩ xem,bây giờ nên làm gì trước?

Những năm gần đây,tất cả các việc nhỏ lớn của phái Võ Ðang.Tam Phong đều trao cho Viễn Kiều xử lý.Chàng làm việc gì cũng chu đáo,nên Tam Phong không phải bận tâm tới chút nào.

Viễn Kiều thấy sư phụ nói vậy,liền đứng lên cung kính đáp:

– Thưa sư phụ không riêng gì các con phải trả thù cho Tam sư đệ mà sự kiện này có liên quan đến môn phái nữa.Nếu chúng ta đối phó không khéo,chỉ e sẽ gây nên một trận tương sát tương tàn trong võ lâm.Cho nên thế nào sư phụ cũng phải ra chỉ thị mới được.

Tam Phong liền nói:

-Thôi được,con với Tùng Khê và Lợi Hanh cầm thư của sư phụ lên chùa Thiếu Lâm trên Tung Sơn bái kiến phương trượng Hồng Pháp thiền sư,báo cho thiền sư hay chuyện này rồi thỉnh thị thiền sư xem vị chủ trì ấy định đoạt ra sao? Việc này chúng ta không nên nhúng tay vào.Phái Thiếu Lâm môn hộ rất nghiêm cẩn,Hồng Pháp lão phương trượng là người đức cao vọng trọng trong võ lâm,tất nhiên có cách xử lý hoàn hảo.

Viễn Kiều,Tùng Khê và Lợi Hanh đều nghiêm nghị đứng lên nhận lời.Tùng Khê nghĩ thầm:

– “Nếu chỉ đem một phong thơ đi thì nội lục đệ cũng được rồi,sư phụ hà tất phải sai Ðại sư ca thân chinh như vậy?Ngoài ra còn bảo cả ta đi nữa?Chắc bên trong thế nào cũng có thâm ý gì đây.Hay là sư phụ e phái Thiếu Lâm hay binh người nhà,không chịu nhận lỗi,nên mới bảo Ðại sư ca và ta đi để tuỳ cơ ứng biến?”

Chàng vừa nghĩ tới đó,quả nhiên Tam Phong lại lên tiếng:

– Giữa bổn phái với Thiếu Lâm,có sự liên quan rất đặc biệt.Sư phụ là môn đồ của phái ấy,sau bỏ chạy,tức là đảo đồ của họ.Nhưng bấy nhiều năm nay có lẽ họ thấy sư phụ đã tuổi tác mà không lên núi Võ Ðang này tróc nã ta.Tuy vậy, giữa hai phái vẫn có sự mâu thuẫn bên trong.

Nói tới đây Tam Phong tủm tỉm cười và tiếp:

– Các con lên chùa Thiếu Lâm đối với Hồng Pháp lão chủ trì tất nhiên phải cung kính rồi,nhưng các con cũng không nên làm mất thanh vọng của môn phái mình nghe.

Hồi thứ 9
Long Môn Tiêu Cuộc

Tam Phong lại quay đầu nói với Thúy Sơn:

– Thúy Sơn,ngày mai con đi ngay Giang Nam điều tra việc này,nhưng con phải nghe lời dặn bảo của Nhị sư huynh,nghe chưa?

Thúy Sơn buông xuôi hai tay xuống,vâng lời liền.

Tam Phong lại nói:

– Bữa tiệc chúc thọ đêm nay hãy dẹp đi,không ăn uống linh đình nữa.Một tháng sau,các con đều quay trở lại đây tụ họp.Nếu Ðại Nham có điều gì bất trắc,không sao chữa khỏi được,thì tất cả các con phải gặp mặt y lần chót.

Nói tới đó,lão Chân nhân vẻ mặt rầu rĩ và nghĩ thầm:

– Không ngờ ta oai trấn võ lâm mấy chục năm trời,tới lúc tuổi đã chín mươi này,mà tên đệ tử cưng của ta lại bị tai ách như vậy! .

Lợi Hanh lấy tay áo chùi nước mắt và nức nở khóc liền,Tam Phong thấy vậy,vội phất tay áo một cái và nói:

– Các con đi ngủ đi!

Viễn Kiều khuyên:

– Thưa sư phụ,suốt đời Tam sư đệ chỉ hành hiệp trượng nghĩa tích đức rất nhiều.Cổ nhân đã dạy “ở hiền gặp lành” thế nào trời phật chẳng phù hộ cho Tam sư đệ.Con chắc sư đệ …không khi nào lại . . .chết yểu đâu!

Chàng nói tới đây nước mắt chảy dài ra hai má.

Mấy anh em của phái Võ Ðang ngày thường tung hoành trong giang hồ,hào khí rất cao,bất cứ gặp việc gì nguy nan tới đâu,cũng không bao giờ phải cau mày.Nhưng lúc này người nào cũng phẫn uất vô cùng và không sao cầm lệ được.

Viễn Kiều biết có khuyên thêm nữa cũng chỉ làm cho sư phụ đau lòng thêm thôi,nên chàng cùng các sư đệ trở về phòng nghỉ luôn.Nhưng người nào cũng tâm sự ngổn ngang thì sao ngủ yên được.

Trong các sư huynh đệ Thúy Sơn giao hảo với Ðại Nham và Lợi Hanh thân mật nhất,nên chàng không biết lấy gì để phát tiết những nỗi đau khổ ấy,sực nghĩ tới bọn Ðại Cẩm,chàng liền lén dậy đi kiếm bọn tiêu sư ấy đánh cho một mẻ để bớt giận.Nhưng chàng sợ Ðại và Tứ sư huynh biết ngăn cản, không dám đi nặng bước.Vừa ra tới đại sảnh,chàng đã thấy một người đang đi đi lại lại.

Chàng định thần nhìn kỹ mới hay đó là sư phụ,liền núp ở cây cột lớn,không dám đi và cũng không dám trở về phòng vì chàng biết hơi cử động một tý là sư phụ phát giác ngay.Chàng thấy Tam Phong đi lại một hồi,rồi ngừng bước nhìn lên trần,giơ tay lên viết vào khoảng không,theo những nét viết của sư phụ,chàng thấy Chân nhân viết “tán loạn” hai chữ,viết mấy lần như vậy rồi lại viết chữ “đồ đạc”.Chàng hiểu ngay sư phụ đang viết theo Tán Loạn thiếp của Vương Hy Chi Lục,chàng tập viết cũng phỏng theo cách này.

Vương Hy Chi là người thời Ðông Tấn.Lúc bấy giờ đất Trung nguyên đã bị dị tộc xâm lấn.Vương từ chức trở về miền Nam tỵ nạn.Về tới quê hương, chàng thấy mồ mả của tổ tiên bị bọn phản loạn tàn phá trong khi loạn lạc, phẫn uất vô cùng,mới viết là Tán Loạn Thiếp để ký thác những nỗi lòng phẫn uất.

Tam Phong viết luôn mấy lần,thở dài mấy tiếng,bước tới giữa cảnh trầm ngâm giây lát,lại giơ tay lên viết nữa.Nhưng lần này Chân nhân viết theo thể chữ khác,chữ đầu tiên là chữ “Võ ” ,chữ thứ hai “lâm” và viết luôn hai mươi bốn chữ như sau ” Võ Lâm chí tôn,bảo đao Ðồ Long,hiệu lệnh thiên hạ, mặc cảm bất tòng,ỷ Thiên bất xuất,thuỳ dự tranh phong”.

Thúy Sơn chắc sư phụ đang nghiền ngẫm ý nghĩa sâu sắc của hai mươi bốn chữ ấy và suy tính xem tại sao đại Nham lại bị thương.

Thúy Sơn lại thấy sư phụ cứ viết đi viết lại hai mươi bốn chữ ấy mãi,nhưng càng viết chàng càng thấy rõ chân nhân có xen cả quyền cước vào trong. Chàng định thần nhìn kỹ,trong lòng vừa kinh hãi vừa cả mừng.Thì ra lúc này chân nhân đang biểu diễn một môn võ công rất kỳ ảo và cao siêu khôn lường.Mỗi chữ có mấy biến hoá,dù nét nhiều hay ít cũng vậy,nét nào cũng biến hoá kỳ ảo. Thúy Sơn cố nhớ những thế võ ấy.Chàng nhớ được hết nhưng mệt óc vô cùng.Trước kia,lúc võ công của chàng còn non,tuy thấy sư phụ múa quyền kiếm,nhưng chàng không sao lãnh hội được những chỗ tinh thâm huyên bát.Mấy năm gần đây,võ công chàng tiến bộ nhiều,mới nhận xét ra được.Nhứt là đêm nay ,hai thấy trò tâm ý tương thông,tình chí hợp nhất,vì gặp sự tán loạn và đồ độc mà bị phẫn uất.Tâm tình thúc đẩy,Tam Phong ngẫu nhiên đem hai mươi bốn chữ nọ biến hoá ra một pho võ công.Ngay lúc mới bắt đầu viết,chân nhân không có ý định như vậy,mà Thúy Sơn núp sau cột trụ được học hỏi võ công này cũng là một sự ngẫu nhiên.Hai thầy trò tâm thần đều say sưa trầm ngâm trong sự kết hợp của thủ pháp và võ công,rồi cùng đi tới chốn “vật và ta lưỡi vong” một cảnh giới cao siêu không thể tưởng tượng được.

Trương Tam Phong biểu diễn đi biểu diễn lại pho quyền đó suốt hai tiếng đồng hồ liền,chờ tới khi mặt trăng lên cao tới đỉnh đầu,Chân nhân mới thở dài một tiếng ,thâu quyền lại.Rồi ngửng mặt nhìn phía xa và nói:

– Thúy Sơn,con thấy thủ pháp của sư phụ ra sao?

Thúy Sơn giật mình kinh hãi,vì sư phụ không quay đầu lại mà cũng biết mình núp.Chàng đành phải tiến gần Tam Phong và trả lời:

– Thưa sư phụ,hôm nay đệ tử được xem lóm võ nghệ của sư phụ,quả thật là may mắn cho con vô cùng,xin phép sư phụ cho con đi mời các vị sư ca ra đây để chiêm ngưỡng pho quyền mới này nhé?

Tam Phong lắc đầu đáp:

– Sư phụ đã hết hứng rồi,dù có viết nữa cũng chưa chắc đã viết đẹp được như thế.Viễn Kiều và Tùng Khê không biết thủ pháp,dù có bảo chúng xem cũng không lãnh hội được như con đâu.

Nói xong Trương chân nhân phất tay áo một cái đi và hậu đường liền.

Thúy Sơn không dám trở về phòng ngủ vì sợ ngủ một giấc thì quên hết những thế võ tinh diệu lúc nãy,liền ngồi xếp tròn,nhắm mắt ghi nhớ từng nét, từng thế một.

Lúc hứng lên chàng liền đứng dậy biểu diễn vài thế.Qua không biết bao nhiêu lâu chàng mới nhớ được hết hai trăm mười một nét tinh diệu của hai mươi bốn chữ đó.

Chàng luyện tập mấy lần,thấy thân hình của mình nhẹ nhàng như đi trên mây,tay chân nhanh nhẹn và biến hoá không sao tưởng tượng được.Chàng mừng rõ vô cùng,ngẩng đầu lên thì đã thấy mặt trời mọc qua khỏi tường rồi.

Chàng tưởng là xem lầm,liền giơ tay lên dụi mắt vài cái,định thần nhìn kỹ mới hay lúc này đã quá giờ ngọ.Thì ra chàng vừa ghi nhớ vừa luyện những thế võ đó mà mất hết nửa ngày trời rồi.

Thúy Sơn giơ tay áo lên lau mồ hôi tươm trên trán,rồi chạy vào phòng Ðại Nham,thấy Trương chân nhân hai tay đang đè lên ngực và bụng của Tam sư huynh để vận công cứu chữa cho chàng.Chàng liền quay ra hỏi han mọi người thì mới hay Viễn Kiều,Tùng Khê và Lợi Hanh đã lên đường đi từ sáng sớm,cả bọ Tiêu Sư Long Môn tiêu cục cũng đã xuống

núi.

Thì ra sáng hôm đó,mọi người thức dậy ra khỏi đại sảnh thấy chàng đang ngồi yên trầm tư mặc tưởng,biết chàng đang luyện võ công,nên không ai muốn quấy nhiễu.Lúc này quần áo của chàng đã ướt đẫm mồ hôi,nhưng vì vội trả thù cho sư huynh,chàng không kịp đi tắm rửa và thay đổi,liền đi lấy khí giới và mấy chục lạng bạc,rồi quay vào phòng Ðại Nham xin phép sư phụ.

– Thưa sư phụ,đệ tử xin đi ngay.

Tam Phong gật đầu mỉm cười,tỏ vẻ cổ võ.Chàng đi tới cạnh giường thấy mặt Ðại Nham đầy hắc khí,hai gò má rất cao,hai bên má hõm lại,ngoài sự hô hấp ra,Ðại Nham không khác gì người đã chết.Chàng mủi lòng,nghẹn ngào nói:

– Tam sư ca,dù có tan xương nát thịt,đệ cũng phải báo thù cho sư ca.

Nói xong chàng quì xuống lạy sư phụ hai lạy rồi cắm đầu chạy thẳng ra ngoài.

Thúy Sơn cưỡi con Thanh Long mã,bốn chân thật dài,phóng thẳng xuống núi. Lúc ấy trời đã sắp tối,chàng đi được năm mươi dặm thì trời đã tối hẳn.Chàng liền vào trọ trong một khách điếm.

Bỗng nhiên có một đám mây đen thật lớn kéo đến,rồi sau một hồi sấm sét, mưa đổ như trút nước.Mưa càng lúc càng lớn,mãi đến sáng hôm sau vẫn chưa ngớt.Chàng liền nhờ phổ kỵ mua hộ nón và áo tơi để tiếp tục lên đường.Con ngựa Thanh Thông quả thật là thần mã,mưa to,mặt đường lầy lội mà nó vẫn lướt đi nhẹ nhàng.

Thúy Sơn qua Hà Khẩu,Hán Thuỷ lúc tới Tương Phàm thì nghe người đi đường đồn đại “ở miền Hạ du vỡ đê có rất nhiều người bị thương”.

Ngay hôm đó chàng tới Nghi Thành,thấy những nạn nhân thuỷ tại bồng con dắt vợ chạy đầy đường,mà mưa vẫn chưa ngớt.Người nào người nấy đều ướt như chuột.

Thúy Sơn bỗng thấy phía trước mặt có một bọn người đang đi,cờ tiêu cuộc bay phất phới,đó là bọn Long Môn tiêu cuộc.

Chàng liền thúc ngựa tiến lên,qua mặt bọn họ rồi quay lại,đứng giữa đường ngăn cản.

Ðại Cẩm thấy Thúy Sơn đuổi theo,lạnh lùng hỏi:

– Chẳng hay Trương ngũ hiệp có việc gì dạy bảo?

Thúy Sơn đáp:

– Chắc Ðỗ tổng tiêu đầu đã thấy những nạn nhân thuỷ tai kia rồi?

Ðại Cẩm không ngờ chàng lại hỏi như vậy,ngẩn người ra giây lát rồi hỏi lại:

– Nhưng,để làm gì?

Thúy Sơn lạnh lùng giây lát rồi nhếch mép cười và nói:

– Tôi muốn xin Thiện Chương nhân ông đem chút vàng ra,cứu tế những nạn nhân này.

Ðại Cẩm biến sắc đáp:

– Chúng tôi đã sống về nghề bảo tiêu này,ra vào trong lưỡi giáo mũi tên,xả thân thí mạng mới kiếm được chút tiền bảo tiêu,thì lấy đâu ra tiền để cứu tế?

Thúy Sơn trầm giọng nói:

– Bạn lấy hai nghìn lạng vàng trong túi ra đưa cả cho tôi.

Ðại Cẩm tay cầm cán đao,trả lời:

– Trương ngũ hiệp,hôm nay nhất định làm phiền họ Tống này phải không?

Thúy Sơn đáp:

– Phải,tôi đã nói là bạn phải làm theo mới được.

Trúc,Sử nhị tiêu đầu cũng rút khí giới ra,tiến lên đứng cạnh Ðại Cẩm, Thúy Sơn vẫn tay không,cười nhạt mấy tiếng rồi tiếp:

– Đỗ Tổng tiêu đầu đã nhận tiền của người mà làm xong việc cho người đâu ? Hai nghìn lạng vàng đã dám nhận bỏ vào túi như vậy, thật là mặt dày mày dạn quá.

Đại Cẩm mặt đỏ bừng, vội đáp :

– Dư Tam Hiệp chẳng tới núi Võ Đang là gì ? Khi người lạ mặt giao Tam hiệp vào tay chúng tôi thì Tam hiệp đã mang trọng thương. Và lúc nầy Tam hiệp cũng có chết đâu ?

Thúy Sơn cả giận quát lớn :

– Bạn còn cãi phải không ? Lúc lên đường ở Lâm An, Dư Tam ca tôi có bị gãy tay như thế không ?

Đại Cẩm không sao trả lời được. Sử tiêu đầu liền xen vào đáp :

– Trương Ngũ gia muốn nói gì thì hãy nói toạc ra cho chúng tôi rõ.

– Tôi muốn chân tay các người cũng gãy từng tấc một như Dư Tam tôi.

Chàng nói xong, bỗng nhảy về phía trước. Sữ tiêu đầu giơ côn định đánh. Chàng liền giở võ công mới học được, giơ tay trái lên phẩy và lướt một cại đó là một phẩy trong bí quyết chữ Thiên, gậy của Sư tiêu đầu đã thoát khỏi tay và người y ngã xuống ngựa. Trúc tiêu đầu là người thân trọng hơn, đang định lui bước, nhưng đã muộn.

Thúy Sơn thuận tay sử dụng luôn nét ngang trong bí quyết chữ Thiên, ngón tay của chàng quét tới ngang lưng đối thủ, tức thì Trúc tiêu đầu lẫn yên ngựa đều bắn ra ngoài xa hơn trượng.

Thì ra Trúc tiêu đầu hai chân đang móc chặt vào yên nên bị sức Thúy Sơn đánh quá mạnh, vì y vướng cái yên ngựa ngã xuống không sao bò dậy được.

Đại Cẩm thấy Thúy Sơn ra tay nhanh nhẹn và mạnh như vậy, kinh hãi vô cùng, liền thúc ngựa tiến lên, Thúy Sơn vội dùng tả quyền đấm luôn. Đó là nét thẳng của bí quyết chữ Hạ. Đại Cẩm đã bị chàng đấm trúng sau lưng, loạng choạng. Võ công của y cao hơn Trúc, Sử nên không bị đánh ngã xuống ngựa. Y tức giận vô cùng, đang định xuống ngựa đối địch nhưng đột nhiên thấy cổ họng hơi mặn, liền khạc một cái, phun ra một búng máu tươi.

Thì ra cái đấm của Thúy Sơn rất lợi hại vô cùng, dù y đã luyện nội công ngoại kình để bảo vệ lấy thân mà cũng không nổi. Y loạng choạng mấy cái, hít luôn một hơi cảm thấy trước ngực có máu nóng dồn lên. Y cố gượng, nhưng không sao chịu đựng được nữa, nên ngã ngồi xuống đất.

Ba tên tiêu sư trẻ tuổi với các tay thủ hạ khác, thấy vậy sợ đến mắt trợn trừng, mồm há hốc, đứng tần ngần như tượng gỗ, không dám tiến lên đỡ ba tên đại hán nọ.

Lúc đầu Thúy Sơn tức khí đùng đùng, chỉ muốn đánh cho bọn Đại Cầm gãy hết chân tay mới hả dạ, nhưng khi chàng thấy chỉ thuận tay đánh một quyền một chưởng là ba tên tiêu đầu đã thua một cách tơi bời, nhứt là Đại Cẩm bị thương nặng hơn hết, thì chàng không khỏi kinhn ngạc và nghĩ thầm : ” Quả thật, lúc đầu ta không ngờ hai mươi bốn chữ Ỷ Thiên Đồ Long Công lại có oai lực mạnh đến thế.”

Do đó, chàng nguôi giận không muốn hạ độc thủ nữa bèn lên tiếng nói :

– Họ Đỗ kia, hôm nay ta nể tình mà tha chết cho các ngươi, chỉ đánh các ngươi bị thương như thế nầy là đủ rồi. Ngươi hãy đưa hai nghìn lạng vàng ra để cứu tế những người bị thủy tai. Ta ở cạnh ngầm giám thị, nếu ngươi còn giữ một đôi lạng, ta sẽ đến tận Long Môn tiêu cuộc giết sạch bảy mươi hai mạng người, cả gà chó cũng không tha.

Đại Cẩm từ từ đưng dậy, thấy sau lưng đau như dao đâm, hơi cử động một chút là khạc ra máu. Sử tiêu đầu bị thương nhẹ hơn, tự biết mình không phải là địch thủ của Thúy Sơn, nên không dám nói cứng như trước nữa :

– Trương Ngũ hiệp nên biết, chúng tôi nhận tiền bảo tiêu của người ta, nhưng đã xảy ra một câu chuyện không may, thì chúng tôi phải trả lại người ta số vàng đó. Hơn nữa, số vàng ấy để ở trong tiêu cuộc, tại phủ Lâm An, chúng tôi đang ở đất khách quê người thì lấy đâu ra tiền mà cứu tế các nạn nhân ?

Thúy Sơn cươi nhạt đáp :

– Có phải các ngươi khinh ta là một thằng nhãi con phải không ? Long Môn tiêu cuộc của các ngươi đã xuất động tất cả nhân lực, vậy nhà ở Lâm An phủ có ai canh gác đâu, tất nhiên các ngươi phải đem theo số vàng đó chớ.

Nói đoạn, chàng liếc nhìn bọn người của tiêu cuộc mấy lượt, rồi đi tới cạnh cái xe lớn, giơ chưởng lên đánh “lộp bộp” mấy cái, thân xe tan nát có mười mấy thoi vàng rơi xuống.

Các tiêu sư mặt mày tái mét, sợ hãi nhìn nhau.Chúng không hiểu tại sao Thúy Sơn lại biết chỗ giấu vàng như vậy?Nhưng chúng có biết đâu tuy tuổi Thúy Sơn còn trẻ,nhưng đã theo các sư huynh hành hiệp khắp nơi,nên có rất nhiều kinh nghiệm giang hồ.Chàng thấy Ðại Cẩm trả lời như vậy,liền đưa mắt nhìn khắp nơi,xét coi bọn tiêu sư giấu vàng ở đâu.

Chàng thấy xe lớn bánh ngập xuống bùn rất sâu mà khi nãy ba thanh niên tiêu sư thấy Ðại Cẩm bị đánh ngã lại không chạy đến cứu giúp,trái lại chúng lại chạy đến chiếc xe lớn,đứng canh gác thì đủ biết trong xe có chứa nhiều vật quý.

Thúy Sơn thấy vàng thoi rơi đầy ra mặt đất,cười nhạt mấy tiếng,bèn lượm số vàng đó rồi nhảy lên mình ngựa ung dung đi luôn.

Thúy Sơn vừa đi vừa nghĩ lại những thế võ biến hoá trong hai bốn chữ Ðồ Long,quả thật thần diệu.Tối hôm đó,chàng bắt chước sư phu luyện tập có ngờ đâu lúc sử dụng lại dữ dội đến thế,nên chàng vô cùng sung sướng còn hơn được báu vật trên đời.

Trời mưa tầm tã,chàng đi liền mấy ngày đường không nghỉ ngơi.Con ngựa Thanh Thông mạnh mẽ thật cũng không sao chịu nổi,nên khi tới biên giới Giang tây,con ngựa của chàng đã sùi bọt mép,mình nóng như thiêu.Chàng thương con ngựa,đành phải cho nó đi từng bước một cốt cho nó nghỉ ngơi chút đỉnh,vì vậy cuộc hành trình càng chậm hơn.Khi chàng tới Lâm Sơn phủ là chiều ba mươi tháng tư rồi.

Thúy Sơn vào trọ khách điếm,rồi nghĩ ngợi:

– Ta đi chậm như vậy,không biết bọn Ðại Cẩm đã đi tới tiêu cuộc chưa?Nhị ca và Thất đệ không biết ở trọ nơi nào,chi bằng tối nay ta tới Long Môn tiêu cuộc dò xét xem sao?

Cơm tối xong,chàng hỏi thăm điếm tiểu nhị mới hay Long Môn tiêu cuộc ở bờ Tây hồ,chàng liền lên phố mua khăn áo và một cây quạt giấy Hàng Châu rất trứ danh.Rồi chàng tắm rửa,mặc vào bộ quần áo nho sĩ,soi gương ngắm xem,thấy mình không khác gì một tục thế gia công tử chớ không giống hiệp sĩ như trước nữa.Sau đó chàng mượn bút viết một bài thơ lên quạt giấy.Ngờ đâu vô tình chàng đề luôn hai mươi bốn chữ “Võ lâm chí tôn …”Viết xong chàng cầm quạt lên xem,nghĩ thầm:

– Không ngờ sau khi học hết quyền pháp của sư phụ bút pháp ta tiến bộ hơn trước nhiều.

Lúc ấy,đời nhà Tống đã luân vong,phủ Lâm An đã lọt vào tay người Nguyên.Người Mông Cổ thấy phủ Lâm An là do thành của chúa cũ nên đồn trú rất nhiều binh lính ở nơi này để dễ bề trấn áp.Muốn thị oai,quân Mông Cổ bạo tàn hơn ở nơi khác,cho nên dân chúng Lâm An chịu biết bao thống khổ,gấp mấy chỗ khác.Vì mười nhà trong thành có đến chín bỏ trống,đa số dân chúng di cư đến nơi khác.Những cảnh tượng phồn hoa xưa kia đã biến đâu mất. Thúy Sơn vừa đi vừa thấy hai bên đường phố,nhà cửa tan nát,cảnh vật điêu tàn,toà danh thành nổi tiếng nhất Giang Nam thời bấy giờ đã thành chợ hoang.Trời chưa tối hẳn,thế mà nhà nào nhà đấy đóng cửa im lìm,phố xá vắng tanh.Chỉ thấy kỵ binh Mông Cổ tung hoành khắp nơi đi lại tuần tiễu.

Thúy Sơn không muốn gây hấn với chúng,hễ nghe tiếng võ ngựa tới là chàng nép mình vào vách tường hay lẩn trốn vào các ngõ hẻm.

Xưa kia,cứ tối lại là trên mặt hồ Tây đầy những đèn đóm,nhưng lần này Thúy Sơn đi tới đê trắng mà cảnh vật vẫn tối đen như mực,không một bóng du khách.Chàng than thở thầm rồi theo lời chỉ của điếm tiểu nhị lần theo đến Long Môn tiêu cuộc.

Long Môn tiêu cuộc là một toà nhà lớn năm căn,cửa hướng về phía Tây hồ, trước cửa có một đôi sư tử bằng ngọc thạch ngồi chồm hỗm hai bên khí thế rất oai võ. Thúy Sơn khỏi cần hỏi thăm ai cả,xa xa trông thấy đã nhận được ngay.Chàng đi tới gần,bỗng ngạc nhiên ngẩn người,vì trước cửa tiêu cuộc ở dưới hồ có một du thuyền đậu.Chiếc thuyền có thắp hai cây đèn lồng,dưới ánh sáng đèn,chàng thấy một người ngồi trước bàn uống rượu nhâm nhi.

Chàng nghĩ thầm:

– Sao lúc này người nọ nhàn nhã như vậy?

Chàng lại nhìn cây đèn lồng treo ở cửa tiêu cuộc,không có nến,mà hai cánh cửa lớn cũng đóng kín,chắc người trong tiêu cuộc đã ngủ hết.Chàng đi tới trước cửa,lòng vẫn nghĩ thầm:

– Một tháng trước đây có người đưa Tam ca đi thẳng vào cửa lớn này,nhưng không biết là ai?

Nghĩ tới đó,chàng mủi lòng vô cùng,bỗng nghe phía sau có tiếng thở dài rất ai oán. Thúy Sơn quay người lại thì không thấy có ai cả.Chàng đưa mắt nhìn chung quanh,chỉ thấy có du khách ngồi uống rượu trên thuyền.Chàng kinh hãi vô cùng liếc nhìn du khách,thấy người đó ăn mặc theo lối nho sĩ như mình.Vì ánh đèn lờ mờ,chàng không thấy rõ nét mặt người đó,chỉ thấy sắc mặt của y nhợt nhạt trông không giống những người bình thường.Chàng định thần nhìn kỹ thì thấy người nọ lẳng lặng ngồi yên,ngoài gió thổi tà áo phấp phới,không cử động chút nào.

Thúy Sơn đưa mắt nhìn người ngồi trên thuyền đó mấy cái,lòng hoài nghi vô cùng.Chàng định đi tới chỗ bóng tối và không có người,vượt tường vào trong Long Môn tiêu cuộc nhưng chàng nghĩ đêm khuya vượt tường như vậy là không quang minh chính đại chút nào.Chàng liền đi tới trước cửa lớn,cầm vòng đồng gõ mạnh vào cửa mấy tiếng.Ðợi một lát,chàng vẫn không nghe thấy có tiếng trả lời,lại gõ thêm ba tiếng nữa rồi lắng tai nghe,ngạc nhiên vô cùng.Chàng bèn đẩy mạnh cánh cửa một cái,cánh cửa mở toang ra.Thì ra bên trong không có gài then.Chàng liền bước thẳng vào bên trong lớn tiếng hỏi:

– Ðỗ tổng tiêu đầu có nhà không?

Chàng vừa nói vừa đi vào trong đại sảnh tối đen.Ngay lúc ấy chàng bỗng nghe “bình” một tiếng,thì ra hình như bị gió thổi cánh cửa tự động khép lại.

Thúy Sơn liền nhảy luôn ra đại sảnh nhìn kỹ hai cánh cửa lớn,thì ra cánh cửa đã đóng chặt còn gài cả then ngang.Như vậy trong nhà hiển nhiên đã có người,chàng cười nhạt mấy tiếng rồi nghĩ tiếp:

– Ðịnh giở trò khỉ gì đây?

Nhưng,chàng ỷ có tài cao,nên không sợ hãi gì cả,liền quay vào bên trong sảnh.Chàng vừa bước vào đã thấy trước sau tả hữu có gió lạnh hắt tới,biết ngay có bốn người xông tơi đánh mình.Chàng né khỏi nhưng thế tập kích của địch và trong bóng tối,chàng thấy có ánh bạch quang thấp thoáng,mới hay bốn người đó đều cầm khí giới.Chàng liền giở môn quyền bí quyết chữ Bất , hữu chưởng từ phía trái quét ngang sang bên phải một cái,đánh trúng ngay thái dương huyệt của một người,người đó chết giấc liền.Tiếp theo đó,chàng lại sử dụng tay trái từ phía phải đánh tréo xuống góc bên trái,trúng ngang hông của một người khác,rồi chàng giơ tay trái lên móc thẳng,tay phải đấm một quyền,như điểm chót của chữ “Bất” .Viết xong bốn nét,chàng đánh té luôn cả bốn kẻ địch.

Vì không biết những người vây đánh thuộc hạng người nào,chàng ra tay không mạnh lắm,thế đánh nào cũng chỉ dùng ba thành công lực.Người thứ tư bị chàng đấm phải,lùi về phía sau mấy bước,chỉ nghe “lạch cạch” người đó đã đè gẫy một cái ghế trong đại sảnh rồi quát lớn:

– Ngươi ác độc thật nên mới ra tay nặng đến thế.Nếu ngươi là nam nhi đại trượng phu thì hãy cho biết dánh tánh.

Thúy Sơn vừa cười vừa đáp:

– Nếu ta ra tay ác độc thì các ngươi làm gì sống sót!Tại hạ là Võ Ðang Trương Thúy Sơn đây.

Người nọ thất thanh kêu lên một tiếng kinh di,rồi hỏi lại:

– Ngài là Trương Ngũ . . .Trương ngũ của phái Võ Ðang thật à? Có phải là Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn đấy không?Hay là giả mạo?

Thúy Sơn mỉm cười,lấy ngay khí giới rồi tay trái cầm Hổ Ðầu Câu bằng bạc, tay phải cầm thiết Phán Quan Bút,để hai món khí giới tréo ngang lên cọ mạnh vào nhau nghe xoẹt đom đóm lửa bắn lên tung toé.

Nhờ có anh sáng toé lửa đỏ,chàng đã nhìn thấy rõ bốn người bị đánh ngã đều là bốn hoà thượng mặc áo cà sa màu vàng cả.Có hai hoà thượng mặt dính đầy máu,mặt lộ vẻ u oán vô cùng.Chàng ngạc nhiên vội hỏi:

– Chẳng hay bốn vị đại sư là ai thế?

Chỉ thấy một hoà thượng lớn tiếng nói:

– Mối huyết hải thâm thù này,hôm nay chưa trả được ngay đâu.Chúng ta đi thôi.

Nói xong bốn người tung mình nhảy lên thẳng ra bên ngoài.Một hoà thượng chân tập tễnh,được vài bước liền té.Chắc y bị Thúy Sơn đánh mạnh tay quá. Hai tăng nhân đi trước vội quay trở lại đỡ hoà thượng đó dậy,rồi chạy thẳng ra ngoài đại sảnh. Thúy Sơn vội gọi theo:

– Bốn vị hãy khoan đã . . .Có gì huyết hải . ..

Chàng chưa dứt lời,bốn hoà thượng đó đã vượt tường nhảy ra bên ngoài.

Thấy câu chuyện hôm nay kỳ lạ quá,chàng hoài nghi vô cùng,đi đi lại lại trong đại sảnh trầm tư nhưng không hiểu tại sao tiêu cuộc này lại có bốn hoà thượng mai phục?Mà chàng vừa tới cửa chúng đã tập kích ngay?Chúng lại nói cái gì huyết hải thâm thù.Chàng bèn nghĩ thầm:

– Việc này phải hỏi người trong tiêu cuộc mới rõ.

Ðoạn chàng cất tiếng gọi:

– Ðỗ Tổng tiêu đầu có nhà không?Ðỗ tổng tiêu đầu có nhà không?

Ðại sảnh khá lớn,nên tiếng nói của chàng văng vẳng có tiếng vọng lại, nhưng chàng hỏi liền mấy tiếng mà không có ai đáp,chàng lại nghĩ:

– Chẳng lẽ họ sợ ta mà ẩn núp cả?Hay là tất cả già trẻ lớn bé trong tiêu cuộc này đều đi nơi khác để tỵ nạn chăng?

Chàng liền móc túi lấy đá lửa ra đánh thấy trên bàn có một cây nến,chàng lại gần châm sáng cây nến đó lên,rồi cầm cây nến đi vào trong nhà.Mới đi được mấy bước chàng đã thấy một người đàn bà nằm phục dưới đất không hề cử động.Chàng liền gọi:

– Chị ơi,làm sao thế?

Vẫn không thấy người đó cử động,chàng liền đỡ vai người đó lên,và rọi nến xem mặt, chàng thất kinh la lớn một tiếng.Thì ra nàng nọ mặt vẫn tươi cười, nhưng đã chết cứng.Sở dĩ chàng thất kinh là vì chưa bao giờ thấy người chết lại tươi cười như vậy.Chàng đứng dậy,đi lại phía trưc,sau một cột trụ,lại có một cái xác nữa.Chàng lại gần đó xem thấy là một lão bộc,cũng tươi cười như người đàn bà kia.

Thúy Sơn ngạc nhiên vô cùng,vội rút Hổ Ðầu Câu ra tay trái làm khí giới,tay phải cầm ngọn nến,rồi đi quan sát bốn bên thì thấy phía Ðông một người,phía Tây một người,trong ngoài có tất cả mấy chục cái xác ngổn ngang dưới đất. Long Môn tiêu cuộc lớn như vậy mà không một người nào sống sót.Chàng hành hiệp giang hồ bấy lâu nay,bình thường thấy rất nhiều chuyện thảm khốc,nhưng chàng chưa bao giờ gặp cảnh tượng cả nhà bị chết như thế,nên trống ngực chàng cũng phải đập mạnh,chàng thấy cái bóng của mình chiếu lên tường cứ rung động luôn luôn.Thì ra,bởi tay run,ngọn nến cũng run theo, chàng bèn đứng yên giây lát,bỗng sực nghĩ hai thứ:

– Nếu dọc đường có điều gì sơ suất,ta sẽ giết hết người trong Long Môn tiêu cuộc của ngươi,già trẻ lớn bé bảy mươi hai mạng ,cả gà chó cũng không tha .

Hiện giờ người trong tiêu cuộc chết hết,chắc bởi lão Ðại Cẩm tống tiễn Dư Ðại Nham không được chu đáo.Chàng bèn nghĩ:

– Người đó hạ độc thủ đều do Tam sư ca của ta.Cứ theo lẽ xét đoán,thì y thế nào cũng là người rất thân của Tam sư ca.Như vậy đủ thấy bản lĩnh người này cao siêu hơn Ðại Cẩm nhiều,và y còn biết trước dọc đường thể nào cũng gặp hung hiểm.Nhưng tại y không thân chinh tống tiễn lấy?Tam ca của ta là người nhân hiệp chánh trực,coi kẻ gian ác như người thù của mình,có khi nào Tam sư ca lại làm bạn với những người lòng độc ác như rắn ấy?

Chàng càng nghĩ càng thắc mắc.Chàng bước ra khỏi tây sảnh,dưới ánh sáng nên đột nhiên chàng thấy hai hoà thượng áo vàng ,đứng sát vào tường đang trợn mắt nhìn mình,nhe răng ra cười.Chàng vội lùi lại hai bước,giơ nến lên quát hỏi:

– Chẳng hay hai vị đứng đây làm gì?

Hai hoà thượng đó không cử động chút nào.Lúc ấy chàng mới biết hai tăng nhân đó đã chết từ lâu.

Chàng tới gần xem ,mới hay thân hình của hoà thượng nọ đã ngập sâu vào trong tường chừng mấy tấc.Hiển nhiên hai tăng nhân bị địch dùng thủ pháp nặng đánh mạnh nên lún vào trong tường.Chàng khám xét hai hoà thượng, không thấy có vết thương nào cả,chỉ chỗ yếu huyệt ở bên hông có vết màu hồng nho nhỏ.Chàng gật đầu và nghĩ:

– Những người này trong khi chết vẫn tươi cười như vậy vì bị kẻ địch điểm vào Yếu huyệt.

Nghĩ tới đó,chàng đột nhiên cảm thấy lạnh buốt xương và la lớn:

– Ối chà nguy tai,huyết hải thâm thù . . .

Thì ra,chàng sực nhớ tới bốn vị hoà thượng gặp lúc đầu đã nói:

– Ngươi ác độc thật nên mới ra tay nặng đến thế.Nếu ngươi là nam nhi đại trượng phu thì nên để lại tên họ đi. . . Mối huyết hải thâm thù này,hôm nay chưa trả được ngay đâu.Chúng ta đi thôi .

Tới lúc này chàng mới biết món nợ máu mấy chục nhân mạng trong Long Môn tiêu cuộc đã bị bốn tên hoà thượng đổ cả cho chàng.

Chàng không hay biết,lại báo danh họ cho chúng hay,nhưng chàng vẫn chưa hiểu lai lịch của bốn tăng nhân áo vàng đó.Vừa rồi vì chàng ra tay quá nhanh mới xử dụng bí quyết chữ “bất” mà đánh ngã bốn tăng nhân,nên chàng chưa kịp nhận thấy võ công của chúng thuộc môn phái nào.Nhưng lúc bốn hoà thượng xông đến tấn công,sức lực cương mãnh,hiển nhiên là võ công ngoại gia của Thiếu Lâm chớ không sao.Ðỗ đại Cẩm là đệ tử của Thiếu Lâm như vậy bọn hoà thượng Thiếu Lâm tới đây là để cứu viện cho y,nhưng không biết Dư nhị ca và Mạc thất đệ hiện giờ ở đâu?Sư phụ bảo hai người đến bảo vệ gia quyến của Long Môn tiêu cuộc mà.Chàng nghĩ:

– Tài ba của nhị sư ca cao siêu như vậy mà còn để cho kẻ địch hạ độc thủ như thế này sao?

Suy tính giây lát,Thúy Sơn mới tìm được câu giải đáp của những nghi vấn đó,chàng nghĩ thầm:

– Bốn vị hoà thượng Thiếu Lâm đi rồi thế nào phái Thiếu Lâm cũng cho ta đã hạ độc thủ.Nhưng một ngày kía họ cũng sẽ biết rõ hung thủ chính là ai. Thiếu Lâm và Võ Ðang cùng ra tay thì thế nào cũng điều tra ra vụ này. Những xác ở đây ta đừng di động vội,trước hết ta hãy kiếm nhị ca và thất đệ trước đã.

Ðoạn chàng liền thổi tắt nến,vượt qua tường ra bên ngoài.

Chàng vừa xuống tới đất,đã nghe một tiếng vù thật lớn,thì ra có một thứ khí giới nặng đang nằm lưng chàng đánh tới.Ðồng thời kẻ địch quát lớn:

– Thúy Sơn,nằm xuống đi.

Thúy Sơn đang lơ lửng trên không,không sao tránh né được mà thế tấn công của địch mạnh và ác độc vô cùng.Trong lúc nguy cấp chàng vội giơ bàn tay trái ra đè lên khí giới của địch,mượn sức nhún mạnh một cái đã nhẹ nhàng nhảy lên đầu tường rồi.Thế võ là chữ “Qua” ở cạnh yếu huyệt chữ “võ”,trong lúc nguy hiểm giở thế đó sẽ được bình yên.Bất đắc

dĩ chàng mới mạo hiểm xử dụng thế đó,không ngờ lại thoát khỏi nguy hiểm một cách dễ dàng.

Chân trái của Thúy Sơn vừa dẫm lên đầu tường,chàng đã rút Phán quan bút ra.Tuy chưa thấy rõ thế công của kẻ địch ra sao,nhưng cái đánh vừa rồi mạnh và ác độc quá,chàng đã đoán chắc kẻ địch là một tay cao thủ không thể khinh thường.Kẻ địch thấy Thúy Sơn tránh khỏi thế công của y một cách dễ dàng,cũng ngạc nhiên vô cùng,nên y kêu thất

thanh một tiếng rồi quát lớn:

– Tiểu tử khá thật,quả thật bất hư truyền.

Tay trái Thúy Sơn cầm cân,tay phải cầm bút,trút xuống phía dưới,theo luật lệ của võ lâm là cung kính chờ đối phương chỉ bảo.

Mặc dầu kẻ địch đánh lén,chàng tuy tức giận,nhưng vẫn làm theo lời thầy dậy là làm đúng lễ phép của võ lâm để khỏi thất lễ.

Trong bóng tối,chàng thấy bên dưới có hai tăng nhân mặc áo cà sa đại hồng kim tuyến,tên nào cũng cầm một cây thuyền trượng lớn màu vàng chóe. Chàng kinh hãi nghĩ thầm:

– Hai tăng nhân mặc áo cà sa đại hồng kim tuyến kia phải chăng là nhân vật trong Thiếu Lâm thập bát La Hán,tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ.

Chỉ thấy hoà thượng phía bên trái,gõ cây thuyền trượng xuống đất một cái rồi nói:

– Trương Thúy Sơn,ngươi là Võ Ðang thất hiệp,cũng có thể gọi là nhân vật có tên tuổi ở giang hồ,sao lại hành động ác độc đến thế?

Trương Thúy Sơn nghe đối phưng gọi tên tộc của mình,chứ không gọi mình bằng Trương ngũ gia,trong lòng đã hơi giận,liền lạnh lùng đáp:

– Ðại sư chưa hỏi rõ nguyên nhân và cũng không biết chuyện xảy ra thế nào lại lén lút núp dưới chân tường đánh trộm tôi như vậy,cũng gọi là anh hùng hảo hán sao?Xưa nay tôi vẫn nghe nói võ công của phái Thiếu Lâm nổi danh thiên hạ,không ngờ thủ đoạn đánh lén đánh trộm này cũng đặc biệt hơn các phái khác.

Tăng nhân nọ liền nổi giận,múa thiền trượng nhảy lên đầu tường,người chưa tới mà võ khí đã giơ lên tấn công trước. Thúy Sơn chỉ thấy một luồng gió mạnh điểm tới trước ngực,liền dùng Hổ Ðầu Câu phong chặt lấy thế công của cây thiền trượng đó.Ðồng thời chàng múa Phán Quan bút điểm mạnh vào thân cây thiền trượng.Chỉ nghe “koong” một tiếng,tăng nhân nọ cảm thấy cánh tay tê tái,không sao đứng vững được trên đầu tường,phải nhảy xuống đất.

Thúy Sơn cũng cảm thấy cánh tay tê đi,trong lòng kinh hãi thầm,lúc này chàng mới hay sức lực đối phương mạnh lạ thường.Chàng liền nghĩ:

– Nếu tăng nhân kia,công lực cũng ngang tăng nhân này mà chúng liên thủ tấn công mình,có lẽ ta chống đỡ không xuể.

Nghĩ đoạn chàng liền lớn tiếng nói:

– Chẳng hay hai vị đại sư là ai?Xin cho biết pháp hiệu.

Người sư đúng bên phải dõng dạc nói:

– Bần tăng là Viên Âm,còn đây là sư đệ Viên Nghiệp.

Thúy Sơn liền chắp tay chào và nói:

– Thế ra nhị vị đại sư trong Thập bát La Hán đã tới,hậu sinh ngưỡng mộ thanh danh đã lâu,chẳng hay hai vị có việc gì chỉ giáo?

Viên Âm với giọng hình như có hơi mà không có sức,thở hổn hển đáp:

– Việc này là một việc rất lớn,có liên quan đến Võ Ðang và Thiếu Lâm.Sư huynh đệ bần tăng là mạc học hậu tiến của phái Thiếu Lâm,không có quyền nói gì cả,nhưng hôm nay anh em bần tăng đã gặp được việc này,xin hỏi Trương ngũ hiệp có phải mấy chục tánh mạng của Long Môn tiêu cuộc và hai tên sư điệt của bần tăng đều chết trong tay Trương ngũ hiệp chăng?Cổ nhân thường nói:”Nhân mệnh quan thiên”,chẳng hay Trương ngũ hiệp định ra sao,xin cho anh em bần tăng được biết.

Giọng Viên Âm tuy rất khiêm tốn,nhưng có đôi chút ngạo mạn. Thúy Sơn đáp lại:

– Chính hậu sinh cũng lấy làm lạ đại sư nhất định buộc cho hậu sinh hạ độc thủ những người trong Long Môn tiêu cuộc,có phải đại sư đã chính mắt trông thấy hậu sinh giết họ không?

Viên Âm la lớn:

– Tuệ Phong,con lại đây đối chất với Trương ngũ hiệp.

Trong bụi cây có bốn tăng nhân áo vàng lù lù bước ra, Thúy Sơn thấy hình dáng của chúng y như những hoà thượng đã gặp ở đại sảnh trong tiêu cuộc. Rồi người sư pháp danh Tuệ Phong cúi chào Viên Âm và nói:

– Thưa sư bá,mấy chục tính mạng của Long Môn tiêu cuộc và cả Tuệ Thông, Tuệ Quang hai sư đệ nữa,đều . . .do ác tặc họ Trương này hạ độc thủ.

Viên Âm lại hỏi:

– Có phải chính mắt các con thấy không?

Tuệ Phong đáp:

– Chính mắt chúng con thấy.Nếu chúng con không chạy nhanh,có lẽ bị tên ác tặc này giết rồi.

Viên Âm tiếp:

– Ðệ tử của Phật không được nói dối trá,vả lại việc này liên can tới hai đại môn phái Thiếu Lâm và Võ Ðang,các con chớ nói bậy nói bạ nghe chưa?

Tuệ Phong quỳ luôn xuống đất,chắp tay vái và đáp:

– Phật tổ chứng chiếu những lời đệ tử Tuệ Phong vừa rồi,quả thật không dám dối sư bá.

Viên Âm lại nói:

– Con thử đem những cái gì mà chính mắt con đã thấy kể lại cho ta nghe?

Nghe đệ tử của phái Thiếu Lâm nói như vậy, Thúy Sơn liền nhảy ngay xuống mặt đất.

Viên Nghiệp tưởng lầm Thúy Sơn định ra tay giết hại Tuệ Phong,vội múa thiền trượng nhắm cổ Thúy Sơn quét tới.

Thúy Sơn chỉ cúi đầu tránh né và thoáng cái đã lẻn tới phía sau lưng Tuệ Phong,nếu đánh tiếp thế trượng nữa, Tuệ Phong thế nào cũng bị trúng đầu,nên đành phải thâu ngay thuyền trượng lại và quát lớn:

– Ngươi định làm trò gì thế?

Hồi thứ 10
Thiếu Nữ Trẻ Tuổi

Thúy Sơn đáp:

– Tôi muốn nghe cho thật rõ,coi y đã thấy tôi giết những người trong tiêu cuộc như thế nào?

Tuệ Phong thấy Thúy Sơn đã tới đứng phía sau,chỉ cách mình hai thước,tuy có hai vị sư bá đứng trước mặt nhưng muốn cứu cũng không kịp được,y tức giận vô cùng nhưng vẫn làm ra vẻ nghêng ngang không hãi sợ và nói:

– Viên Tâm sư thúc ở Bắc Giang nhận được thư cầu cứu của Ðỗ Ðại Cẩm, liền phái hai vị sư huynh Tuệ Phong và Tuệ Quang cấp tốc tới đây,sau lại truyền hiệu lệnh sai đệ tử cùng ba sư đệ mau tới Long Môn tiêu cuộc để tiếp viện. Chúng cháu vừa vào cửa tiêu cuộc đã nghe Tuệ Quang sư huynh nói đêm nay thế nào cũng có kẻ địch đến,liền sai đệ tử và ba đệ tử núp dưới chân tường phía Ðông để ứng địch và còn dặn bọn đệ tử phải cẩn thận,chớ có mắc phải mưu kế điệu hổ ly sơn của kẻ địch,không nên chạy đi chạy lại,cứ phải núp yên một chỗ.

Viên Âm lại hỏi:

– Sau rồi thế nào nữa?Con nói tiếp đi.

Tuệ Phong lại tiếp:

– Trời tối không lâu,chúng con đã nghe thấy Tuệ Phong sư huynh hò hét trong khi đấu với địch trong hậu sảnh,tiếp theo chúng con nghe Tuệ Phong kêu la thảm khốc,hình như anh ấy đã bị thương nặng.

Con vội chạy vào trong hậu sảnh xem sao,chỉ thấy tên ác tặc họ Trương. . .

Nói tới đó Tuệ Phong bỗng đứng ngay dậy,quay trở lại,chỉ thẳng vào mặt Thúy Sơn và tiếp:

– Chúng ta đã thấy mi đánh Tuệ Phong sư huynh một chưởng đẩy hắn vào phía tường,nên anh ấy chết liền.Ta tự biết thế cô không địch nổi mi,nên đành nằm phục ở cửa sổ.Sau lại thấy mi chạy vào nhà trong giết người.Tiếp theo đó có tám người tiêu cuộc ở bên trong chạy ra,mi đuổi theo họ và giơ tay ra điểm chết những người đó.Mi giết toàn gia của tiêu cuộc rồi mi nhảy qua bờ tường chạy mất.

Thúy Sơn vẫn đứng yên nghe,tha hồ cho Tuệ Phong nói đến nước miếng bắn tung toé vào cả mặt mũi chàng mà chàng vẫn không tránh né hay ra tay đánh lại,chỉ lạnh lùng nói:

– Sau rồi sao nữa?

Tuệ Phong phẫn uất tiếp:

– Sau rồi sao ?Sau rồi ta quay trở về chỗ chân tường phía Ðông,bàn tán với ba vị sư đệ.Ai nấy đều nhận thấy võ công của mi cao siêu quá,chúng ta không địch nổi,đành ở lại tiêu cuộc để đợi chờ Tam sư bá tới,thỉnh ý xem sư bá liệu ra sao?Ngờ đâu,chúng ta đợi chờ được một lát thì mi lại phá cửa quay trở vào.Lần này mi lại kêu danh Ðỗ Tổng tiêu đầu.Bốn anh em chúng ta biết là đấu với mi thế nào cũng chết,nhưng vẫn phải xông lại vây đánh.Ta liền can đảm hỏi tên họ mi thì mi báo danh cái gì Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn phải không?Lúc đầu ta cũng không tin,chỉ tưởng mi mạo danh Võ Ðang thất hiệp,tới khi mi rút khí giới ra ta mới tin là thật.

Thúy Sơn liền hỏi:

– Tôi tự báo danh họ,lộ khí giới ra,không sai chút nào,và bốn vị cũng bị tôi ra tay đánh ngã thật.Còn vụ án giết mấy chục nhân mạng của tiêu cuộc này mà bạn bảo chính mắt trông thấy ,vậy bạn thử nói lại lần nữa xem?

Viên Âm bỗng đẩy tay một cái,nâng luôn Tuệ Phong ra xa mấy thước,sầm nét mặt lại nói:

– Con cứ nói lại lần nữa đi,để xem Trương ngũ hiệp lừng danh thiên hạ đây chối cãi như thế nào?

Sở dĩ Viên Âm đẩy lui Tuệ Phong là để cho người tránh khỏi chốn nguy hiểm trước,sợ Thúy Sơn nổi giận đánh chết y ,thì lấy ai mà đối chứng.

Tuệ Phong bèn lên tiếng:

– Ðược,để ta nói lại lần nữa.Chính mắt ta thấy ngươi ra tay đánh chết Tuệ Thông và Tuệ Quang,và còn thấy mi giơ tay ra điểm huyệt chết của tám người tiêu cuộc nữa.

Thúy Sơn liền hỏi:

– Chẳng hay bạn có thấy rõ mặt mũi của ta không?Ta ăn mặc quần áo gì?

Nói xong chàng bật đá lửa lên để xoi rõ bộ của mặt mình.Tuệ Phong trợn trừng hai mắt,nhìn thẳng vào mặt chàng và đáp:

– Chính mi mặc áo dài trắng,đôi khăn vuông.Phải rồi,lúc ấy tay trái mi cầm cây quạt giấy,đúng cái quạt mà mi đang cắm trên cổ kia.

Thúy Sơn tức giận không tả,chàng không hiểu tại sao y lại cứ vu khống mình như vậy,liền giơ cao ngọn lửa,tiến lên ba bước quát lớn:

– Ngươi có gan dám nói lại lần nữa rằng kẻ giết người chính là Trương Thúy Sơn chớ không phải là ai khác không?

Tuệ Phong hau mắt đột nhiên phát thần sắc kỳ dị,chỉ vào mặt Thúy Sơn và nói:

– Mi . . . mi . . .

Vừa nói tới đó,y đã bị Thúy Sơn đánh ngã ngửa ra phía sau,nằm lăn ra đất. Viên Âm và Viên Nghiệp kinh hãi vô cùng vội chạy lại đỡ Tuệ Phong dậy xem sao,ngờ đâu hai người chỉ thấy Tuệ Phong hai mắt trợn to,mặt lộ vẻ kinh hoảng và đã tắt thở.

Viên Âm la lớn:

– Ngươi . . . ngươi đánh chết y?

Việc ấy xảy ra đột ngột quá,Viên Âm và Viên Nghiệp đều kinh hãi và tức giận vô cùng.Thúy Sơn cũng ngạc nhiên không kém,vội quay đầu trở lại thì thấy bụi cây hơi rung động,chàng liền quát to:

– Hãy khoan!

Rồi chàng tung mình nhảy xổ tới.Tuy chàng đã biết trong bụi cây có người mai phục,nhảy vào trong đó nguy hiểm vô cùng,nhưng tình thế bắt buộc chàng phải mạo hiểm.Nếu chàng không bắt được hung thủ bắn tên ngầm giết Tuệ Phong thì chàng không sao trốn khỏi tránh nhiệm.Ngờ đâu lúc chàng vừa nhảy lên cao đã nghe phía sau có tiếng gió “vù vù”,hai cây thiền trượng ở hai bên tả hữu đã tấn công tới tấp.Cây thiền trượng bên phái trái của Viên Âm đánh ra mạnh hơn cây bên phải của Viên Nghiệp nhiều.Ðồng thời chàng còn nghe hai tăng nhân nói lớn:

– Ác tặc chớ đào tẩu.

Chàng vội giở bút và móc đánh lướt xuống,tay trái sử dụng luôn thế võ bí quyết chữ “Ðao”.

Cái móc thì móc lấy đầu gậy của Viên Nghiệp còn cây bút thì điểm vào đầu gậy của Viên Âm,rồi mợn sức địch nhảy thẳng lên đầu tường,nhìn vào bụi cây thì chỉ thấy cành cây rung động còn người ẩn núp đó đã chạy đi xa mất tích rồi.

Viên Nghiệp còn quát tháo lia lịa,đang định nhảy lên tường để đấu với chàng,nhưng Thúy Sơn đã la lớn:

– Hai vị chớ có ngăn cản tôi.Chúng ta cần phải đuổi bắt hung thủ đã.

Viên Âm thở hổn hển và nói:

– -Ngươi. . . người giết người trước mặt ta,còn muốn chối cãi gì nữa?

Thúy Sơn không trả lời,huy động chiếc hổ đầu câu mượn sức đánh sức,đẩy Viên Nghiệp không sao lên nổi bờ tường.

Viên Âm lại nói:

– Trương ngũ hiệp,ngày hôm nay chúng tôi cũng không bắt ngũ hiệp phải đền mạng mà chỉ mong ngũ hiệp theo chúng tôi lên chùa Thiếu Lâm một phen.

Thúy Sơn cả giận đáp:

– Hai vị cứ làm vướng chân vướng cẳng tại hạ để cho hung thủ tẩu thoát,còn nói lôi thôi mãi.Tại hạ theo hai vị lên chùa Thiếu Lâm làm gì?

Viên Âm tiếp:

– Mời ngũ hiệp lên chùa Thiếu Lâm để tuỳ theo Phương Trượng định đoạt. Ngũ hiệp đã giết hại ban nhân mạng của bổn phái như vậy,chúng tôi không có quyền giải quyết nổi việc này.

Thúy Sơn cười nhạt và đáp:

– Thật đại sư uổng là một trong Thập Bát La Hán của Thiếu Lâm.Hung thủ tẩu thoát ngay trước mặt mà đại sư không hay biết gì cả.

Viên Âm tiếp lời:

– Ðược lắm,được lắm.Ngũ hiệp đã giết hại người của chúng tôi,như vậy chúng tôi quyết không cho ngũ hiệp đi khỏi nơi này.

Thấy Viên Âm cứ đổ diệt cho mình là hung thủ, Thúy Sơn lại càng tức giận, vừa đấu khẩu với hai hoà thượng vừa ra tay chống đỡ thế công của Viên Nghiệp.Chàng thấy Viên Nghiệp ra tay đánh hẳn,liền cười nhạt nói:

– Hai vị đại sư có bản lãnh cứ việc bắt tôi đi.

Viên Nghiệp chống thiền trượng một cái,mượn sức nhảy luôn lên bờ tường, Thúy Sơn cũng tung mình nhảy theo,khinh công của chàng cao siêu hơn Viên Nghiệp nhiều,rồi từ trên cao đánh xuống,nhanh như gió,Viên Nghiệp vội giơ gậy lên đỡ.

Thúy Sơn liền quay luôn Hổ Ðầu Câu lại,chỉ nghe “soẹt” một tiếng,vai của Viên Nghiệp đã bị đánh trúng,máu tươi chảy ròng ròng.Ðau đớn chịu không nổi,y la lớn một tiếng,ngã ngay xuống đất.

Cũng may Thúy Sơn còn nể nang,không hạ sát,bằng không chàng chỉ xoay tréo đầu cái móc là móc trúng yết hầu của Viên Nghiệp,y chết ngay.

Viên Âm la lớn:

– Nghiệp sư đệ,vết thương đó có nặng không?

Viên Nghiệp giận dữ đáp:

– Không sao cả,sư huynh sao không ra tay đánh với y đi,còn đứng đấy nói lải nhải như đàn bà làm gì?

Hô một tiếng,Viên Âm liền múa thiền trượng xông lên tấn công.Tánh của Viên Nghiệp rất hung hăng,bị thương như thế,y cũng không chịu băng bó, vẫn múa thiền trượng tiến lên vây đánh Thúy Sơn.

Thấy hai hoà thợng ấy sức vóc rất mạnh lại thêm hai cây thiền trượng đều là khí giới nặng, Thúy Sơn sợ để chúng lên được tới bờ tường thì một địch với hai e lòng khó thắng nổi nên chàng nhất địch không cho tăng nhân nào lên được trên bờ tường cả và cứ ở trên mà đánh bổ xuống.

Sư huynh đệ Viên Nghiệp không sao lên nổi bờ tường,còn ba tăng nhân thuộc vai vế chữ Tuệ võ công rất kém,thấy hai sư bá không sao thắng nổi đối phương,muốn xông lên trợ giúp nhưng không sao kiếm ra được chỗ tấn công.

Thúy Sơn vừa cầm cự vừa nghĩ:

– Bây giờ ta phải đi kiếm hung thủ trước,chớ ở lại đây cầm cự với chúng thế này vô ích quá!

Nghĩ đoạn chàng giao ngang bút và câu phong bế thế công của địch rồi hét lớn một tiếng,định tung mình nhảy lên bỗng nghe trong nhà phía sau bờ tường có người quát lớn,tiếng kêu như sấm động.Chàng lại thấy dưới chân lung lay,thì ra bờ tường chỗ chàng đang đứng bị một tăng nhân vạm vỡ đẩy đổ đồng thời tăng nhân đó đã leo qua chỗ tường đổ đó để nhảy ra bên ngoài, không đợi Thúy Sơn hạ chân xuống đất,đã chìa tay ra định cướp khí giới của chàng.

Trong bóng tối, Thúy Sơn không thấy rõ tăng nhân đó ra sao,chỉ thấy mười ngón tay của y như mười cái móc,cứ nhằm khí giới của chàng mà cướp đoạt. Ðại chính là môn Hổ Chảo Công rất lợi hại của phái Thiếu Lâm.

Viên Nghiệp la lớn:

– Tâm sư huynh ,chớ có để tên ác tẩu thoát.

Từ khi học thành nghề hạ sơn tới giờ Thúy Sơn chưa hề gặp địch thủ.Nửa tháng trước đây chàng lại học thêm được ỷ Thiên Ðồ Long công,võ nghệ nhờ đó mà cao siêu hơn trước nhiều.

Lúc này chàng thấy nhà sư Thiếu Lâm vừa tấn công oai mãnh vô cùng, chàng nổi nóng muốn thắng kẻ địch,bèn cắm luôn cái móc và cây bút vào trong lưng,la lớn:

– Bây giờ dầu tất cả mười tám La Hán có mặt ở đây,ta cũng không sợ.

Chàng vừa dứt lời,đã thấy tay trái Viên Tâm cào tới,bèn vội giơ hữu chưởng ra quay một cái,đã xé rách một mảnh tay áo của đối phương.

Ðồng thời tay phải của Viên Tâm sắp vồ tới vai chàng,chàng vội giơ chân lên đã trúng đầu gối tăng nhân ấy.

Ngờ đâu hai chân của của Viên Tâm rất vững,y bị đá một cái mạnh như vậy mà chỉ loạng choạng mấy bước thôi chớ không ngã.

Y thét lên một tiếng như hổ gầm,tay phải đã chộp tới liền.Cùng lúc ấy gậy của Viên Âm nhằm ngay hông chàng đánh tới và gậy của Viên Nghiệp thì đánh vào đầu gối chàng,cả ba tăng nhân cũng tấn công một lượt.

Giọng nói của Viên Tâm kèm theo hơi thở hổn hển,hình như y đang bị bịnh nặng.Sự thực trong ba hoà thượng đó,võ công của y cao siêu hơn hết.Mới gặp địch thủ tương đương, Thúy Sơn bèn nghĩ thầm:

– Phái Võ Ðang của chúng ta cũng nổi tiếng ngang với Thiếu Lâm,còn ai hơn ai kém thì chưa hề so tài qua bao giờ.Hôm nay là dịp may để ta được thử tài ba của các cao tăng Thiếu Lâm đây!.

Chàng chỉ dùng hai bàn tay thịt đối phó với hai chiếc gậy cùng mười cái vuốt hổ,mà vẫn tung hoành như thường.Càng đấu chàng càng thấy thắng thế hơn là khác.Tuy một địch ba,chàng vẫn ung dung đấu như thường.

Quí vị độc giả nên biết võ công của Võ Ðang và Thiếu Lâm đồng cân đồng sức.Nhưng lúc này Thúy Sơn đã là tay cao thủ nhất phái Võ Ðang,còn ba sư huynh đệ Viên Âm tuy là hảo thủ trong thập bát La Hán cũng chỉ là hảo thủ hạng nhì của phái Thiếu Lâm nên càng đấu Thúy Sơn càng thắng thế hơn là vậy.

Ðang đấu,chàng bỗng giở cái móc bí quyết chữ Long ra,chộp lấy đầu gậy của Viên Nghiệp,thuận tay lôi mạnh một cái,đẩy vào gậy của Viên Âm để cho hai khí giới của địch tự va chạm vào nhau.Chỉ nghe kêu “coong” một tiếng thực lớn khiến ai nấy đều chát tai nhức óc.Anh em Viên Âm ra sức đã mạnh,lại thêm sức của Thúy Sơn dồn vào,nên hổ khẩu tay của Viên Âm và Viên Nghiệp đều bắn máu tươi,bốn cánh tay đau nhức khôn tả,hai cây thiền trượng cong cả lại.

Viên Tâm thấy vậy kinh hãi vô cùng,vội nhảy xổ lại cứu, Thúy Sơn liền đưa chân ra móc,và vỗ chưởng vào giữa lưng tăng nhân ấy một cái,thế võ này chàng cũng mượn sức đả sức rồi nhân thế nhảy xổ lại chỗ Viên Tâm,chàng lại mượn sức khẽ đưa một cái,hoà thượng ấy ngã lăn xuống đất.

Thúy Sơn đánh bại ba tăng nhân xong cười nhạt nói:

– Muốn bắt ta đem lên núi Thiếu Lâm thì phải học thêm hai năm võ công nữa mới được.

Nói xong chàng quay mình đi luôn.Viên Tâm tung mình nhảy lên và kêu gọi:

– Hung đồ đừng mong chạy thoát.

Viên Âm và Viên Nghiệp đuổi theo liền.Thấy vậy Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Ba tên hoà thượng này cứ quấy rầy ta mãi.Chẳng lẽ ta lại giết hết chúng hay sao?.

Chàng tuy nghĩ vậy,nhưng hai chân vẫn giở khinh công ra phi tẩu.Viên Âm và Viên tiếp tục đuổi theo vừa la lớn.Khinh công của chúng làm sao bằng Thúy Sơn nên chúng chỉ chạy sau kêu la om sòm:

– Bắt lấy hung thủ giết người.ác tăng chớ có đào tẩu.

Chúng cứ chạy theo bờ Tây Hồ mà đuổi Thúy Sơn.

Thúy Sơn vừa cười thầm và lẩm bẩm:

– Thử xem các người có đuổi kịp ta không?

Bỗng chàng nghe Viên Âm và Viên Nghiệp đang đuổi theo ở phía sau, la lớn: “ối chà” rồi Viên Tâm kêu “Hự” một tiếng hình như cả ba tăng nhân đó đều đau vô cùng.

Chàng quay đầu lại nhìn,thì thấy ba tăng nhân đang giơ tay lên ôm mắt,hình như chúng bị ám khí ném trúng.

Quả nhiên Viên Nghiệp đã lớn tiếng mắng chửi:

– Họ Trương kia,mi có giỏi ném mù nốt mắt này của ta đi.

Thúy Sơn ngạc nhiên vô cùng,chàng nghĩ:

– Chẳng lẽ mắt của y bị người ta ném mù thật.Chẳng hay ai núp trong bóng tối ra tay trợ giúp ta thế?

Chàng vừa nghĩ vừa lớn tiếng kêu gọi:

– Thất đệ,thất đệ chú ở đâu thế?

Trong bảy anh em Võ Ðang,chỉ người thứ bảy là Mạc Thanh Cốc,ném ám khí rất tinh xảo,bất cứ phi tiêu,tụ tiễn thiết đinh,kim tiến đinh,phi hoàng thạch . . . Vì thế Thúy Sơn mới đoán là Mạc Thanh Cốc giúp mình.

Thúy Sơn gọi luôn mấy tiếng nhưng không nghe trả lời,bèn bước nhanh vòng quanh mấy cây liễu ở trên bờ hồ cũng không thấy bóng người nào.

Còn Viên Nghiệp bị bắn mù mất một mắt,tức giận kêu la om sòm,không quản ngại sống chết cứ xông lên liều mạng với Thúy Sơn.

Nhưng Viên Âm tự biết dù còn đủ hai mắt và cả ba anh em hợp sức lại cũng khỗng là đối thủ cuả Thúy Sơn,huống hồ bây giờ người nào cũng đau và ngứa ngáy khó chịu.

Y cũng đoán ra phi tiêu đó có chất độc,nên vội kéo Viên Nghiệp lại gần và nói:

– Nghiệp sư đệ,hà tất phải nóng lòng trả thù.Rồi đây thế nào lão Phương Trượng và hai vị sư bá cũng không để yên cho nó đâu.

Thúy Sơn thấy ba tăng nhân không đuổi theo nữa,lòng hồ nghi và nghĩ thầm:

– Ta tự thị khinh công rất lợi hại,nhưng người ẩn núp trong bóng tối lại cao siêu hơn ta nhiều,xem ra người đó không có ác ý gì đối với ta cả,nhưng không biết người đó là vị cao nhân nào thế?

Ðoạn chàng liền rảo bước quay về khách điếm,nhưng đi được mấy chục trượng đã thấy bụi lau ở bờ hồ rung động,mà lúc bấy giờ trên mặt hồ không có gió,hiển nhiên trong bụi lau có người ẩn núp.

Chàng lẳng lặng đi tới gần,định lên tiếng quát hỏi,thì từ trong bụi lau một người nhảy xổ ra múa đao nhằm đầu chàng chém tới,miệng thì la lớn:

– Không phải mi chết thì ta chết.

Thúy Sơn tránh né,phi chân phải đá vào cổ tay kẻ địch,con đao của người nọ bị bắn rơi xuống hồ.Chàng định thần nhìn kỹ té ra người đó là một vị hoà thượng Thiếu Lâm.Chàng quát lớn:

– Nhà ngươi tới đây làm gì?

Chợt thấy,trong bụi lau còn ba người nằm thẳng cẳng,không biết chết hay bị thương.Chàng thấy hoà thượng nọ võ công tầm thường nên không coi vào đâu,tiến lên mấy bước cúi mình xuống xem.

Ba ngời nằm trong bụi lau đó chính là Ðổ Tổng tiêu đầu và Trúc,Sử tiêu đầu trưởng môn của Long Môn tiêu cuộc.

Chàng kinh ngạc la lớn:

– Ðỗ Tổng tiêu đầu,tại sao?

Chàng chưa dứt,Ðỗ Ðại Cẩm đã nhảy phắt lên,hai tay nắm chặt lấy tay áo chàng,rồi nghiến răng mím môi nói:

– Ác tặc giỏi thật,ta chỉ giữ lại có ba trăm lạng vàng mà mi hạ độc thủ như thế này?

Thúy Sơn liền hỏi:

– Bạn làm gì thế?

Chàng định giở cầm nã thủ chống cự,nhưng chàng đã thấy đuôi mắt và hai bên mép của Ðại Cẩm đều dính máu tươi.

Lúc ấy tuy là ban đêm nhưng chàng với Ðại Cẩm chỉ cách nhau có nửa thước nên trông rõ nhau,chàng kinh hãi hỏi:

– Tổng tiêu đầu bị nội thương phải không?

Ðại Cẩm liền bảo hoà thượng Thiếu Lâm kia:

– Sư đệ đã nhận thấy rõ chưa?Người này là Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn.Chính là . . .chính y là hung thủ giết người,sư đệ chạy mau lên, đừng để cho y đuổi kịp.

Ðột nhiên y nắm chặt ngựa rồi húc mạnh trán vào đầu của Thúy Sơn.Sở dĩ Ðại Cẩm liều lĩnh như vậy là vì y muốn cùng Thúy Sơn chết một lúc.

Thúy Sơn vội xoay tay đẩy mạnh cánh tay trái Ðại Cẩm,chỉ nghe “soạt” một tiếng,Ðại Cẩm đã bị ngã bắn ra xa,còn vạt áo trước ngực của Thúy Sơn đã bị xé một mảnh.

Bình sinh Thúy Sơn không biết sợ hãi là gì,nhưng tối hôm nay Thúy Sơn không hiểu sao khi thấy tình cảnh của Ðại Cẩm trống ngực của chàng lại đập mạnh.

Chàng cúi đầu xuống xem đã thấy Ðại Cẩm trợn ngược hai mắt và tắt thở.

Tất nhiên Ðại Cẩm bị thương rất nặng,nên y vừa ngã xuống là chết liền,chớ không phải do Thúy Sơn đẩy ngã mà thiệt mạng.

Nhà sư Thiếu Lâm thấy vậy thất thanh kinh hãi la lớn:

– Mi . . .lại giết Ðỗ sư huynh.

Nói xong nhà sư quay người chạy thẳng,vì quá sợ nên chạy được mấy bước y đã vấp ngã.

Thúy Sơn thấy vậy chỉ lắc đầu, xem lại Sử,Trúc đang ngâm mình dưới nước và đã chết từ lâu.

Thúy Sơn nhìn ba cái xác,lòng rầu rĩ vô cùng.Tuy chàng với Ðại Cẩm không có giao tình với nhau mà khi Ðại Cẩm hộ tống Ðại Nham không làm tròn được nhiệm vụ cũng đã khiến chàng tức lắm rồi,nhưng bây giờ chàng thấy Ðại Cẩm chết một cách không minh bạch như vậy cũng phải thương tiếc.

Chàng đứng trên bờ hồ,lẳng lặng giây lát rồi nghĩ:

– Ðỗ Ðại Cẩm nói y chỉ giữ có ba trăm lạng vàng mà ta đã hạ độc thủ như vậy.Có lẽ khi ta bảo y đem hai nghìn lạng vàng chuẩn tế nạn nhân y lại tiếc của ngấm ngầm giữ lại ba trăm lạng.Sự thật ta không hay biết gì cả mà nếu có biết thì ta cũng chỉ cười chứ khi nào vì chuyện ấy mà đang tâm hạ độc thủ như vậy?

Nghĩ tới đó chàng nhắc thử cái túi của Ðại Cẩm quả thấy nặng chình chịch. Chàng liền mở cái túi ra xem ,thấy có mấy thoi vàng rơi và lăn tới trước mặt Ðại Cẩm.Chàng bỗng thấy chua chát: “có nhiều người sống trên đời xả thân thí mạng cũng chỉ vì chút hoàng kim.Như bọn Ðại Cẩm đây chẳng hạn, hoàng kim lăn tới cạnh y mà y không sao hưởng được.”

Chàng lại nghĩ:

– Vừa rồi ta đại chiến Thiếu Lâm tam tăng và toàn thắng,thật anh hùng, thật vẻ vang.Nhưng trăm năm sau ta có khác gì Ðại Cẩm đâu?

Nghĩ tới đó chàng thở dài một tiếng,bỗng nghe có tiếng đờn từ bờ hồ vọng lên.Chàng liền ngẩng đầu nhìn.

Thiếu niên văn sĩ mà chàng thấy ngồi mũi thuyền đậu trước tiêu cuộc đang ung dung gẩy đờn và hát.Giọng của người đó thanh thoát vô cùng,rõ ràng là giọng của một thiếu nữ.Chàng hơi kinh ngạc và nghĩ thầm:

– Bài ca của người nọ rõ ràng là tâm sự của ta.

Chàng nhìn xuống ba cái xác ở dưới chân và nghĩ tiếp:

– Nếu người kia chèo thuyền tới đây thấy ba cái xác này,nhỡ y kêu la kinh động đến tuần binh của Mông Cổ thì lôi thôi phiền phức lắm.

Chàng đang định bỏ đi,bỗng văn sĩ nọ khẽ gảy ba tiếng đàn rồi ngửng đầu lên và nói:

– Ðại huynh đã có nhã hứng đi chơi trong đêm khuya sao không lên trên thuyền này với đệ.

Nói xong,văn sĩ đó phẩy tay một cái,người lái đó đang nằm phục dưới thuyền liền ngồi dậy,cầm mái chèo bơi mấy cái,chiếc thuyền nhỏ đã lướt vào.

Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Người này từ lúc nãy tới giờ cứ ngồi trên thuyền,chắc y được mục kích hết mọi chuyện ở đây.Chi bằng ta cứ thử hỏi dò ý xem sao?

Ðoạn chàng liền đi đến dưới một gốc cây lớn,đợi chiếc thuyền nhỏ tới gần, khẽ nhẩy một cái đã đứng trên mũi thuyền kia.

Thư sinh đứng dậy mỉm cười,chắp tay vái chào,tay trái chỉ chỗ mời khách.

Dưới ánh đèn lồng, Thúy Sơn thấy thanh niên đó tay trắng hơn tuyết.Chàng lại nhìn mặt chàng kia,thấy mặt hơi gầy,lông mày cong,mũi dọc dừa,lúc cười hai má có đồng tiền,xa xa trông y như một phong lưu công tử.

Nhưng,lúc này ngồi gần nhìn nhau,chàng đoán chắc đó là một trang nữ tuyệt giả dạng nam trang.

Tuy là một phong lưu mã thượng, Thúy Sơn lúc nào cũng giữ đúng phép tắc của sư môn,bao giờ cũng giữ đúng câu “Nam nữ thọ thọ bất thân” .Võ Ðang thất hiệp hành đạo giang hồ lúc nào cũng tránh phạm nữ sắc.

Khi nhân định đối phương là một thiếu nữ,mặt chàng đỏ bừng,có vẻ ngượng nghịu,bèn đứng dậy nhảy vào bờ,chắp tay vái chào và nói:

– Tại hạ không biết cô nương cải nam trang nên mới đường đột như vậy.

Thư sinh mỹ lệ kia không trả lời,lại ngồi xuống gẩy đàn và cất tiếng hát.Lời ca của nàng ngụ ý mời chàng xuống thuyền.

Chàng liền nghĩ:

– Sao đêm nay ta gặp lắm chuyện rắc rối thế?Biết đâu cô nương này chẳng giúp ta giải oan tiết hận?

Chàng định phi thân nhảy xuống dưới thuyền,lại sực nghĩ:

– Xưa nay ta không hề quen biết cô nương này,cô ta lại đẹp tuyệt trần,đêm khuya ta cùng nàng tương kiến e luỵ đến thanh danh nàng chăng?

Chàng đang nghĩ ngợi phân vân,bỗng nghe tiếng mái chèo khua động,con thuyền nhỏ từ từ trôi ra giữa hồ,chàng lại nghe cô nương nọ gẩy đàn và hát tiếp:

– Ðêm nay đã tận hứng ,đêm sau còn dài,dưới tháp Lục Hoè một chiếc thuyền đậu dưới một nhành liễu.Quân tử kia ơi,nên tới du ngoạn một phen.Chiếc thuyền càng lúc càng đi xa,tiếng ca cũng theo thuyền dần nhỏ hẳn. Không bao lâu thuyền đã khuất hẳn.

Thúy Sơn đứng ngẩn người giây lát rồi mới quay lại khách điếm.

Sáng hôm sau,vụ án lớn ở Long Môn tiêu cuộc với mấy chục nhân mạng bị ám sát,đã đồn khắp thành Lâm An.Cũng may bề ngoài của Thúy Sơn nho nhã như một thư sinh,nên không ai có thể nghi ngờ chàng cả.

Chàng đi du ngoạn các thắng cảnh suốt ngày hôm đó,mục đích để tìm ra tung tích của nhị sư huynh và thất đệ.Không những không thấy tung tích của hai người mà cũng không tìm ra dấu vết gì để liên lạc.Ðến giờ thân chàng sực nhớ tới lời ca của thiếu nữ hôm trước liền nghĩ thầm:

– Ta cứ giữ đủ lễ nghi thì gặp nàng cũng không sao.Nếu lúc này có nhị sư ca và thất sư đệ thì tiện biết bao.Nhưng ngoài nàng ra,có lẽ không còn người thứ hai để ta dò hỏi sự thực về vụ án Long Môn tiêu cuộc.

Cơm chiều xong, chàng liền thủng thẳng đi tới Lục Hoà tháp ở cạnh sông Tiền Ðường.

Lúc ấy,trời đã sắp tối,chàng thấy dưới ba cây liễu lớn ở phía Ðông có một chiếc thuyền nhỏ buộc ở đấy.Chiếc thuyền này cũng có treo một cái đèn lồng giống như chiếc thuyền của thiếu nữ hôm trước.

Chàng đi tới gần đã thấy thiếu nữ nọ ngồi một mình trước mũi thuyền,hôm nay mặc áo màu xanh lợt và đã cải trang lại nữ giới hẳn hoi.

Thúy Sơn định gặp nàng là hỏi ngay chuyện tối hôm trước,nhng lúc này chàng thấy nàng nọ đã bỏ cải trang nam giới thì lại ngần ngại không dám lên tiếng.Bỗng thiếu nữ nọ ngẩng mặt lên trời lẩm bẩm nói:

– Ngồi ở đầu thuyền,muốn gặp quí khách,bỗng thấy gió mạnh thổi động làn sóng mới biết đã có người tới.

Thúy Sơn liền lớn tiếng nói:

– Tại hạ là Trương Thúy Sơn có việc muốn thỉnh giáo,nên mới đường đột như thế này.

Thiếu nữ nọ liền trả lời:

– Mời quí khách xuống thuyền.

Thúy Sơn khẽ nhảy xuống mũi thuyền.

Thiếu nữ nọ liền nói:

– Ðêm hôm qua mây đen phủ kín,trời không có ánh trăng ,đêm hôm nay trời trong và đẹp hơn hôm qua nhiều.

Tiếng nói của nàng rất thanh thoát và nũng nịu vô cùng nhưng lúc nói nàng lại ngẩng mắt lên nhìn trời,chớ không hề nhìn mặt chàng.

Thúy Sơn liền lên tiếng nói:

– Dám hỏi quí danh cô nương là gì?

Thiếu nữ nọ đột nhiên quay mặt lại,hai mắt sáng quắc nhìn mặt Thúy Sơn hai ba lần,nhưng không trả lời câu hỏi của chàng.Thấy mặt nàng đẹp vô cùng,chàng không dám hỏi nữa,bỗng quay mình lên bờ rồi ù té chạy.

Thúy Sơn chạy được mấy chục trượng liền dừng bước lại nghĩ thầm:

– Thúy Sơn ơi! Thúy Sơn người là nam nhi đại trơựng phu đường đường bảy thước vây,mời mấy tung hoàng giang hồ không hề sợ hãi,tại sao hôm nay thấy cô nương trẻ này lại sợ hãi đến thế? . . .

Chàng quay đầu lại nhìn,thấy chiếc thuyền thiếu nữ nọ đang thuận dòng nước từ từ trôi dọc theo sông Tiền Ðường.

Chàng vẫn chưa định đoạt ra sao,đi từng bước một ở bờ sông.

Còn thiếu nữ nọ vẫn ôm đầu gối ngồi ở đầu mũi thuyền,ngước mắt lên nhìn trăng.

Ði được một lát, Thúy Sơn cũng bắt chước nàng nọ ngẩng đầu lên nhìn trăng,bỗng thấy phía Ðông Bắc có một đám mây đen kéo đến rất nhanh, không bao lâu đã che kín vầng nguyệt rồi một cơn gió thoảng qua,mưa bắt đầu rơi.

Trên bờ không có nhà để trú, Thúy Sơn phân vân vô cùng.Chàng không ngờ mưa nhanh như vậy.Mưa lên thêm chút nữa thì người chàng sẽ ướt đầm. Chàng liếc thấy thiếu nữ kia vẫn ngồi ở đầu thuyền,mặc trời mưa.Chàng đột nhiên lớn tiếng gọi:

– Cô nương vào trong thuyền mà tránh mưa đi.

Thiếu nữ nọ mới tỉnh ngộ rồi đứng dậy ngẩn người nhìn chàng,hỏi:

– Chẳng lẽ tiên sinh sợ ướt hay sao?

Nói xong nàng đi vào trong khoang ,giây lát sau lại bước ra với một cái dù, rồi khẽ tung lên bờ.

Thúy Sơn giơ tay ra bắt lấy và giương lên.

Chàng thấy trên dù có vẽ sơn thuỷ và mấy cây dương,liễu với một câu thơ “Tà phong tế vũ bất tu quy”(gió xéo mưa nhỏ khỏi cần về).Những dù của Hàng Châu phần nhiều có vẽ sơn thuỷ và viết chữ,điều đó không có gì lạ.

Nhưng bức hoạ và chữ viết trên dù này khác hẳn những dù kia vì nét vẽ nhỏ như ở các đồ sứ và rất đẹp,lại mềm mại như do một bàn tay thiếu nữ viết.

Chàng ngửng đầu lên thưởng thức bức hoạ,chân vẫn tiếp tục đi.Nhưng chàng không ngờ trước mặt có một cái rãnh nên chân trái chàng bước hụt.Nếu là người khác thì thế nào cũng té nhào nhưng chàng là người có võ công cao siêu vừa bước hụt liền đá chân phải về phía trước để lấy đà cho thân mình tung lên rồi nhanh nhẹn nhảy sang bờ rãnh bên kia.

Thiếu nữ ngồi trên mũi thuyền vội khen:

– Giỏi lắm.

Thúy Sơn liền quay đầu lại nhìn,thấy nàng nọ trên đầu độc một cái mũ,gió thổi tà áo phất phơ,trông không khác gì một thiếu nữ đang bay trên sóng nước.

Thiếu nữ lên tiếng:

– Chữ và bức họa cá làm bẩn mắt tiên sinh không?

Thúy Sơn đáp:

– Không những bức hoạ đã đẹp mắt mà nét bút đề thơ của cô nương đẹp không thể tả.

Thiếu nữ thấy chàng nhận ra nét bút của mình,trong lòng mừng rỡ liền nói:

– Trong bảy chữ đó có chữ “bất” là xấu nhất.

– Không,chữ đó viết tự nhiên lắm,không giống hai chữ cuối,dự vận bất tận, khiến càng xem càng quên mỏi mệt.

– Ðúng thế,tôi chỉ cảm thấy chữ đó không vừa ý,nhưng không sao nghĩ ra được nét nào khiến chữ đó không được công chính,nay tiên sinh nói ra tôi mới lĩnh hội được.

Lúc ấy thuyền của nàng vẫn cứ thuận dòng mà trôi,còn Thúy Sơn thì đi trên bờ,theo sát hai người nói tới thủ pháp một vấn một đáp,không ngờ đã đi được mấy dặm mà cả hai đều không hay.Lúc ấy,trời càng tối,cả hai không còn thấy rõ mặt nhau nữa.

Thiếu nữ bỗng nói:

– Chuyện trò với tiên sinh một đêm còn hơn đọc mười năm sách.Ða tạ tiên sinh đã chỉ giáo,bây giờ xin tạm biệt.

Chỉ thấy nàng giơ tay lên,người lái đò ở phía sau bắt đầu giương buồm, thuyền đi nhanh hơn trưc nhiều.

Thúy Sơn thấy chiếc thuyền càng đi xa, lòng băn khoăn vô cùng,nghe thiếu nữ ở phía sau nói vọng lại:

– Tôi họ Hân . . .Ngày khác được nhàn rỗi,thế nào cũng xin thỉnh giáo lại tiên sinh.

Thúy Sơn nghe thiếu nữ tự xưng họ Hân,giật mình sực nghĩ:

– Ðỗ Ðại Cẩm đã nói người nhờ y hộ tống Dư tam ca diện mạo rất đẹp cũng tự nhận là họ Hân,có lẽ người này chăng?

Chàng không còn nghĩ tới vấn đề nam nữ thọ thọ bất thân nữa,vội nhanh chân đuổi theo.Chiếc thuyền chạy rất mau ,nhưng nhanh sao được bằng khinh công chàng,nên chẳng bao lâu chàng đã đuổi kịp,và lớn tiếng hỏi:

– Hân cô nương,cô có biết Dư tam hiệp sư huynh tôi là Dư Ðại Nham không?

Thiếu nữ nọ quay đầu lại,tuy không chắc nhưng chàng hình như có nghe nàng “ủa” một tiếng.

Chàng lại nói:

– Tôi đang có rất nhiều vấn đề nan giải mong cô nương giải thích hộ.

Thiếu nữ đáp:

– Hà tất phải hỏi tôi.

– Có phải Hân cô nương đã nhờ Long Môn tiêu cuộc hộ tống Dư tam ca tôi về núi Võ Ðang không? Ơn đức này thế nào chúng tôi cũng phải báo đáp.

Thiếu nữ nọ liền đáp:

– Ân ân,oán oán lúc này khó nói lắm.

Thúy Sơn lại hỏi:

– Dư tam ca tôi về núi Võ Ðang đã bị người ta hạ độc thủ,chẳng hay Hân cô nương có biết chuyện đó không?

Thiếu nữ nọ liền đáp:

– Việc đó tôi rất đau lòng và ân hận.

Hai người một hỏi một đáp.Lúc ấy gió mạnh thuyền càng đi nhanh,nhưng nội công của Thúy Sơn thật cao,trước sau vẫn song song cùng thuyền,lướt đi trong mưa gió.

Tiếng nói của thiếu nữ không được lớn lắm nhưng từng câu từng chữ đều lọt vào tai chàng.

Càng về miền hạ du sông Tiền Ðường càng rộng.Lúc ây gió mưa dần dần nổi thành cuồng phong bão vũ.

Thúy Sơn lại hỏi:

– Cả nhà Long Môn tiêu cuộc mấy mươi mạng đều bị giết trong đêm qua, vậy ai đã hạ độc thủ,chẳng hay cô nương có biết không?

– Tôi đã dặn kỹ Ðỗ Ðại Cẩm từ trước là phải cẩn thận hộ tống Dư Tam hiệp đến núi Võ Ðang nếu nửa đưng có xảy ra chuyện gì . . .

Thúy Sơn xen vào:

– Cô nương sẽ giết cả nhà y và cả gà chó cũng không tha phải không?

Thiếu nữ nọ đáp:

– Phải! Y đã không cẩn thận bảo vệ Dư Tam hiệp để xảy ra chuyện đáng tiếc, vậy là y tự mang cái chết vào thân còn oán trách ai được?

Thúy Sơn rùng mình hỏi tiếp:

– Thế ra bao nhân mạng ở trong tiêu cuộc đều do . . . đều do . . .

Thiếu nữ nọ ngắt lời:

– Ðều do tôi giết.

Thúy Sơn nghe như tiếng sấm nổ.Quả thật chàng không dám tin một thiếu nữ đẹp như hoa nở lại là một hung thủ giết người không chớp mắt.

Yên lặng giây lát chàng mới hỏi thêm:

– Vậy còn . . .còn hai tên hoà thượng của chùa Thiếu Lâm?

Thiếu nữ nọ đáp:

– Cũng do tôi giết cả! Sự thật,tôi không muốn kết oán với chùa Thiếu Lâm đâu,nhưng chúng đã đối xử vô lễ với tôi thì tha chúng sao được.

– Như vậy tại sao bọn hoà thượng đó lại vu oan cho tôi?

Thiếu nữ nọ mỉm cười đáp:

– Ðiều này do tôi bày ra đó.

Thúy Sơn tức giận vô cùng bèn lớn tiếng hỏi tiếp:

– Cô bày ra để vu cáo cho tôi phải không?

Thiếu nữ nọ đáp:

– Phải!

Thúy Sơn càng giận hỏi tiếp:

– Tôi với cô nưng không oán không thù sao cô nương làm như vậy?

Thiếu nữ phẩy tay áo một cái rồi chui ngay vào trong khoang. Thúy Sơn không thể nào không hỏi đầu đuôi câu chuyện nhưng chiếc thuyền đã đi cách xa bờ mười mấy trượng không sao nhảy tới được.

Chàng tức giận bèn múa chưởng đánh mạnh vào mặt cây thông kêu “rắc rắc”.Có hai cành cây đã bị chàng đánh gẫy.

Ðoạn chàng nhanh tay vứt một cành thông xuống dưới sông tay trái cầm một cành nữa,rồi chàng mượn cành cây làm bàn đạp nhún mạnh một cái xa được mấy trượng.

Ðồng thời,chàng vứt cành cây ở tay trái ra phía trước rồi hạ chân xuống đúng cành cây đó,lại mượn sức nhún nhảy một cái nữa,đã phi tới đầu thuyền.

Chàng lớn tiếng hỏi:

– Cô nương,tại sao cô nương lại xếp đặt như vậy?

Chàng thấy trong khoang tối đen như mực yên lặng như tờ,đang định chui vào bên trong.Như tuy trong lòng tức giận chàng vẫn giữ được lễ độ và nghĩ thầm:

– Ta tự tiện xông vào khoang thuyền của một người phụ nữ là vô lễ lắm.

Bỗng trong khoang có ánh sáng.Thì ra nàng nọ vừa thắp một ngọn nến,rồi lên tiếng:

– Mời tiên sinh vào trong khoang này ngồi chơi.

Thúy Sơn vội sửa lại áo mũ chỉnh tề,cụp chiếc ô lại,đi thẳng vào trong khoang. . .

Chàng ngẩn người ra ngạc nhiên vô cùng,vì chỉ có một thiếu niên thư sinh như mình,đầu chít khăn vuông,mặc áo dài xanh,cầm chiếc quạt giấy đang phe phẩy,thái độ trông rất nho nhã.

Thì ra thiếu nữ nọ trong nháy mắt đã cải trang thành nam tử.Mặt và thân thể nàng không khác gì Thúy Sơn.

Chàng mới vỡ lẽ vì sao,trong bóng tối sư Tuệ Phong của phái Thiếu Lâm và Ðỗ Ðại Cẩm không sao phân biệt được nên đều cho là chàng đã hạ độc thủ. Thiếu nữ chĩa quạt ra chỉ chỗ ngồi cho chàng.

– Mời Trương Ngũ Hiệp ngồi chơi.

Nàng lại rót chén nước trao cho Thúy Sơn và nói:

– Hàn dạ khách lai trà dương tửu,chỉ tiếc trong thuyền không có rượu làm mất danh hứng của Ngũ hiệp đi.

Thấy thái độ và lời ăn nói của nàng rất văn vẻ, Thúy Sơn lòng tức giận vô cùng mà không sao nổi khùng được,bèn khiêm tốn nói:

– Cám ơn!

Thiếu nữ nọ thấy quần áo của chàng ướt đẫm liền bảo:

– Trong thuyền có nhiều quần áo,Trương ngũ hiệp ra sau thuyền mà thay đổi đi.

Thúy Sơn lắc đầu đáp:

– Không cần lắm!

Ðoạn chàng vận công một làn khí trong đơn điền bốc lên toàn thân nóng hổi,chỉ trong giây lát áo quần chàng đã khô.

Thiếu nữ nọ nói:

– Nội công phái Võ Ðang đứng đầu võ lâm,tiểu muội mời Trương ngũ hiệp thay y,thật ngu muội quá.

Thúy Sơn lại hỏi:

– Chẳng hay cô nương thuộc tôn giáo nào,có thể cho tôi biết được không?

Thiếu nữ nọ thấy chàng hỏi như vậy,quay mặt nhìn ra ngoài cửa sổ,lông mày cau lại tỏ vẻ âu sầu.

Thúy Sơn thấy nàng có vẻ lo âu không tiện buộc nàng trả lời,nưng một lát sau,chàng không thể nhịn được nên lên tiếng hỏi:

– Chẳng hay Dư tam ca bị ai đả thương,cô nương có thể cho biết được không?

Thiếu nữ nọ đáp:

– Không những Ðỗ Ðại Cẩm lầm mà sự thực cả tôi đây cũng bị mắc lừa nốt, tôi đã sớm biết thất hiệp của phái Võ Ðang anh phong lẫm liệt,chớ làm gì có nhân vật nham hiểm và thô lỗ như thế được.

Hồi thứ 11
Ðộc Mai Hoa Tiên

Thúy Sơn thấy nàng nọ không hề trả lời câu hỏi của mình mà chỉ nói đến bốn chữ “anh phong lẫm liệt” hiển nhiên là nàng khen ngay phong thái của mình,trong lòng khoan khoái,mặt đỏ bừng,nhưng chàng không hiểu nàng nói mấy câu đó có ý nghĩa gì?

Thiếu nữ nọ thở dài một tiếng và đột nhiên vén tay áo lên để lộ cánh tay trái nõn nà.Chàng vội cúi đầu xuống không dám nhìn.

Thiếu nữ lại lên tiếng:

– Trương tiên sinh có nhận ra thứ ám khí này không?

Thúy Sơn thấy nàng nói đến ám khí mới ngửng đầu lên xem,thấy trên cánh tay trái của nàng có ba mũi phi tiêu nhỏ bằng gang đen cắm sâu vào da thịt trắng như tuyết của nàng. Những phi tiêu đó đen như mực,hình mai hoa. Phi tiêu dài độ tấc rưỡi mà đã cắm sâu vào thịt nàng đến một tấc.

Thúy Sơn thấy vậy kinh hãi vô cùng,vội đứng dậy la lớn:

– Ðây là Mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, tại sao lại đen đến thế?
Thiếu nữ đáp:

– Phải, đây là mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm có chất độc rất mạnh.

Dưới ánh sáng ngọn nến,ba mũi phi tiêu đen cắm trên da nõn nà trông càng diễm lệ và huyền bí.

Thúy Sơn lại hỏi:

– Thiếu Lâm là danh môn chánh phái, ám khí của họ quyết không bôi chất độc đâu,nhưng những Mai hoa tiên này chỉ có phái Thiếu Lâm mới biết xử dụng.
Thiếu nữ nọ lại nói:

– Việc này tôi cũng cảm thấy lạ lắm,cũng như tôn sư đã nói kẻ huỷ tứ chi của lệnh sư huynh cũng xử dụng Kim Cương chỉ,một môn thủ pháp tuyệt kỹ của chùa Thiếu Lâm.

Thúy Sơn nghe nàng nói vậy lấy làm lạ và nghĩ thầm:

– Sư phụ ta nói trên núi Võ đang chỉ có anh em sư đệ ta ở thôi, sao nàng lại biết rõ?.

Chàng vội hỏi:

– Chẳng hay cô nương có gặp nhị sư ca và thất đệ của tôi không?

Thiếu nữ nọ lắc đầu đáp:

– Tôi chỉ gặp hai người ấy trên núi Võ Ðang một lần, từ đó đến nay chưa gặp lại lần nào nữa.

Thúy Sơn càng lấy ngạc nhiên liền hỏi tiếp:

– Cô nương đã đến núi Võ Ðang chúng tôi ? Tại sao tôi không hay biết? Ủa, cô nương bị phi tiêu ném trúng bao lâu rồi,mau nghĩ cách giải độc đi chứ?

Nói xong chàng lộ vẻ rất quan tâm, thiếu nữ nọ trong lòng cũng cảm động nên liền đáp:

– Tôi bị trúng phải phi tiêu này đã hơn hai mươi ngày rồi,nhưng chất độc trong phi tiêu này bị thuốc độc của tôi chặn lại,nhất thời không thể lan ra được.Nhưng tôi không dám rút ba mũi phi tiêu này ra,vì nếu rút nó chất độc sẽ theo máu chạy khắp người ngay.

Thúy Sơn cũng biết muốn giữ cho chất độc khỏi lan đi khắp nơi thì phải uống linh đơn và có một nội công tinh thâm.

Nhưng thiếu nữ này mới mười tám mười chín tuổi mà nội công cao thâm như thế,chàng cũng phải phục thầm.

Ðoạn lên tiếng nói:

– Trúng phải phi tiêu độc mà đã hơn hai mươi ngày không rút ra,chỉ sợ . . .chỉ sợ . . sau này có chữa ở ngoài da sẽ có vết thẹo lớn chăng?

Sự thật chàng muốn nói,vì chất độc đọng trong người quá lâu,cánh tay phải phế đi mới khỏi bị nguy hiểm. Chàng lại tiếp:

– Cánh tay nõn nà đẹp như ngọc này mà có ba vết thẹo.

Nghe chàng nói vậy,hai mắt thiếu nữ ướt lệ,nàng đáp:

– Tôi đã hết sức,mà tối hôm qua tôi cũng đã khám xét mười mấy tên sư kia mà không tìm thấy thuốc giải. . .Cánh tay này có lẽ phải phế đi thôi.

Nói xong nàng liền buông tay áo xuống.

Thúy Sơn lại nói:

– Hân cô nương,chẳng hay cô nương có tin tôi không? Nội công của tôi tuy còn non nớt, nhưng tôi tin có thể giúp cô nương đẩy những độc khí ở cánh tay ra ngoài.

Thiếu nữ nọ mỉm cười ,hai má lúm đồng tiền. Hình như nàng rất mừng rỡ nên vội vã trả lời ngay.
– Trương ngũ hiệp, sao ngũ hiệp đa nghi như thế? Trước hết tôi phải nói với ngũ hiệp câu này để khi ngũ hiệp giúp rồi khỏi phải ân hận.

Thúy Sơn nhanh nhẩu đáp:

– Trị bịnh của người, đó là nhiệm vụ của chúng tôi, sao lại ân hận chứ?

Thiếu nữ nọ tiếp:

– Hai mươi ngày mà tôi còn chịu đựng được thì chẳng cần phải vội vã trong lúc này.Tôi hãy nói cho ngũ hiệp rõ là sau khi tôi trao Dư tam hiệp cho Long Môn tiêu cuộc rồi,tôi vẫn theo sau tiêu đội. Quả thật dọc đường có mấy bóng người muốn hại Dư tam hiệp, nhưng đều bị tôi ngấm ngầm đánh đuổi đi cả. Thật tức cười,Ðại Cẩm như nằm trong giấc mơ, chẳng hay biết gì cả.

Thúy Sơn chắp tay thi lễ nói:

– Ðại ơn đại đức của cô nương, các đệ tử phái Võ Ðang chúng tôi cảm khái vô cùng.

Thiếu nữ nọ lạnh lùng đáp:

– Tôi không cần ngũ hiệp cám ơn tôi, lát nữa đây ngũ hiệp còn oán hận tôi nữa là khác.

Thúy Sơn ngẩn người, không hiểu nàng nọ có ý gì.

Thiếu nữ lại tiếp:

– Suốt dọc đường tôi thường thay hình đổi dạng,có lúc giả làm nông phu, có khi giả làm lái buôn cứ xa xa theo bọn tiêu cuộc,ngờ đâu lúc đến chân núi Võ Ðang thì xảy ra chuyện không may đó.

Thúy Sơn nghiến răng mím môi nói:

– Cô nương có trông thấy rõ mặt mấy tên ác tăng đấy không? Ðáng hận thay Ðỗ Ðại Cẩm là người rất ngu xuẩn, nên khi chúng tôi hỏi tới y cũng không sao nói rõ được lai lịch sáu tên giặc kia như thế nào.

Thiếu nữ nọ thở dài một tiếng rồi tiếp lời:

– Không những tôi thấy chúng mà còn đấu với chúng một trận, nhưng tôi cũng ngu xuẩn như Ðại Cẩm vậy, cũng không sao rõ lai lịch của chúng được.

Nói tới đây nàng cầm chén nước lên thấm giọng rồi nói tiếp:
– Sáu người đó trên núi Võ Ðang xuống nghênh đón, bọn Ðại Cẩm lại gọi chúng là Võ Ðang lục hiệp chúng không phủ nhận gì.Tôi ở xa thấy chúng tiếp nhận cái xe Tam hiệp nằm,tôi nghĩ công việc đã xong liền lẩn sang một bên để bọn Ðại Cẩm đi qua.

Nhưng tôi thoáng trông đã nhận ra có sự giả dối bên trong,liền nghĩ:
– Sư huynh đệ đồng môn của Võ Ðang thất hiệp tình như cốt nhục. Dư tam hiệp bị thương như vậy,lẽ ra sáu người cùng đổ xô lại xem vết thương của chàng mới phải, nhưng lúc ấy chỉ có một người tới xem qua một cái, còn những ngời kia không để ý gì đến cả. Trái lại chúng còn tỏ vẻ mừng là khác và còn lớn tiếng bảo nhau cho xe chạy nhanh. Hành vi và thái độ của chúng thật là trái nhân tính thế thái.

Thúy Sơn gật đầu đáp:

– Cô nương nói rất phải.

– Tiểu muội liền lên ngựa đuổi theo và quát hỏi tên họ chúng? Sáu tên đó cũng sành lắm,vừa thoáng trông đã biết tiểu muội là con gái rồi. Tiểu muội mắng sao chúng mạo nhận là môn đồ của Võ Ðang để cướp Dư tam hiệp, lập tâm bất lương như vậy làm gì. Thế rồi nói đi nói lại vài câu, tiểu muội liền xông lên đánh. Chỉ có một người gầy gò tuổi trạc hai mươi lên đấu với tiểu muội thôi. Một tên đạo sĩ đứng cạnh đó áp trận, còn bốn tên kia tiếp tục cho xe đi.

Không ngờ tên gầy gò đấu với tiểu muội võ công khá lắm. Ðấu đến ba mươi hiệp mà tiểu muội cảm thấy cánh tay tê tái. Thì ra tay trái đã trúng ba mũi phi tiêu độc. Tên gầy gò còn thốt những lời vô lễ với tiểu muội và còn định bắt sống nữa. Sau tiểu muội ban cho y ba mũi kim châm mới thoát thân được.

Nói tới đây hai má nàng đỏ hồng. Chắc tên đó thấy nàng đẹp và cô thân nên có ý định phi lễ chăng?
Thúy Sơn ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Dùng tay trái mà ném Mai Hoa tiêu khó hơn dùng tay phải nhiều? Sao môn hạ của phái Thiếu Lâm lại có đạo sĩ? Chẳng nhẽ y cải trang?

Thiếu nữ nọ mỉm cười đáp:

– Ðạo sĩ cải trang hoà thượng thì phải cạo trọc đầu mới được, trái lại hoà thượng giả dạng đạo sĩ thì dễ lắm, chỉ cần đội cái mũ lên đầu là xong.

Thúy Sơn mỉm cười, thiếu nữ nọ lại tiếp:

– Tôi biết có việc không lành, nhưng tôi không địch nổi tên gầy gò kia và đạo sĩ đứng áp trận hình như còn lợi hại hơn, vả lại bên chúng có tất cả sáu người thì làm sao tôi địch lại?

Thúy Sơn mở mồm định nói, nhưng lại thôi. Thiếu nữ lại nói:

– Tôi đoán tiên sinh muốn nói tại sao tôi không lên núi nói rõ với quí vị phải không? Nhưng tôi không thể lên núi Võ Ðang được, nếu tôi có thể ra mặt giúp quí vị thì hà tất tôi phải nhờ Ðại Cẩm họ Tống làm gì. Tôi đang bàng hoàng vô kế khả thi, buồn bực,nên đi trên đường một mình. Bỗng gặp tiên sinh nói chuyện với bọn Ðại Cẩm. Sau tiên sinh đi kiếm Dư tam hiệp tôi liền trà trộn vào đám đông người tiêu cuộc để lên núi Võ Ðang, trong lúc quí vị đang đau lòng kinh hãi nên không ai để ý đến tôi cả, chỉ tưởng tôi là người trong tiêu cuộc mà thôi. Còn bọn Ðại Cẩm cũng tưởng tôi là người Võ Ðang.

Thúy Sơn sực nghĩ ra một việc liền hỏi:

– Hôm đó cô nương giả dạng một phu xa đội cái nón thất thập phải không?

Thiếu nữ nọ vừa cười vừa đáp:

– Mắt của ngũ hiệp lợi hại thật, nếu hôm đó ngũ hiệp không bối rối việc Tam đại hiệp chắc đã phát giác ra tôi rồi. Nhưng sau tôi cũng bị Tống đại hiệp nhận ra.

Thúy Sơn ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Ðại sư ca nhận ra cô nương sao không nói cho mọi người biết?

Thiếu nữ liền đáp:

– Tống đại ca là người rất trung hậu,nên không nói gì cả.

Thúy Sơn liền nói:

– Ðại sư ca tôi xa nay vẫn trung hậu như thế.

Thiếu nữ lại nói:

– Sau tôi theo bọn Ðại Cẩm xuống núi, thấy tiên sinh bắt chúng đưa ra hai ngàn lạng vàng ra để cứu tế nạn nhân. Hai nghìn lạng vàng đó là của tôi đấy.

Thúy Sơn vừa cười vừa đáp:

– Nếu vậy tôi thay mặt nạn nhân cám ơn cô nương.

Thiếu nữ lại tiếp:

– Nhưng, tiền vào tay bọn côn đồ, khi nào chúng chịu nói thực. Cũng may oai danh của ngũ hiệp quá lớn, nên y mới thú thực, giữ lại ba trăm lạng thôi. Khi về tới đây, tôi bảo người ta xem cái Mai Hoa tiên này thì có người nhận ra là ám khí độc của Thiếu Lâm. Nhưng phải có thuốc giải của người ném ám khí mới giải độc được. ở phủ Lâm An này chỉ có Long Môn tiêu cuộc là đệ tử của phái Thiếu Lâm nên tôi chờ đến đêm khuya mới tới Long Môn tiêu cuộc bắt chúng đưa thuốc giải, nào ngờ chúng không cho mà còn mai phục nhân mã để giết tôi.
Thúy Sơn ngẫm nghĩ giây lát rồi hỏi:

– Cô vừa bảo cô có ý sắp đặt để chúng nhận lầm tôi phải không?
Thiếu nữ tỏ vẻ bẽn lẽn và tươi cười đáp:

– Tôi thấy ngũ hiệp đi mua khăn áo, lúc ngũ hiệp mặc vào trông đẹp mắt lắm, thế rồi tôi cũng bắt chước thiếu hiệp mua một bộ để mặc.

Thúy Sơn nói:

– Thế thì đúng rồi nhưng tại sao cô nương ra tay giết mấy chục mạng người như vậy? Làm thế là quá ác độc vì người trong tiêu cuộc có thù oán gì với cô nương đâu?

Thiếu nữ sầm nét mặt lại và tiếp:

– Ngũ hiệp dạy tôi đấy à? Năm nay tôi đã mười chín tuổi đầu, chưa có ai dậy bảo tôi cả.Trương ngũ hiệp đại nhân nghĩ tôi là kẻ ác độc. Như vậy đâu có dám kết bạn với Ðại hiệp.
Thúy Sơn bị nàng nói như vậy mặt đỏ bừng đứng dậy định ra ngoài khoang nhưng sực nhớ mình đã nhận lời cứu nàng, nên liều mạng dừng bước nói:

– Cô làm ơn vén cánh tay áo lên.

Thiếu nữ cau mày nói:

– Ngũ hiệp thích mắng chửi người, tôi không cần ngũ hiệp chữa cho.
Thúy Sơn lại nói:

– Vết thương ở cánh tay cô nương đã trì hoãn lâu rồi, nếu không chữa chỉ sợ . . . .mất mạng cũng nên . . .

Thiếu nữ hậm hực đáp:

– Chết càng hay, dù sao cũng là ngũ hiệp hại tôi.

Thúy Sơn ngạc nhiên hỏi:

– Ủa,phi tiêu độc đó là do ác nhân của phái Thiếu Lâm ném, chớ tôi có liên can gì đâu?

Thiếu nữ tiếp:

– Nếu tôi không hộ tống Tam sư ca của ngũ hiệp ngàn dặm xa xôi lên núi Võ Ðang thì làm sao gặp sáu tên ác tăng đó được. Sáu người đó cướp sư ca của ngũ hiệp đi,nếu tôi khoanh tay đứng xem thì làm gì cánh tay của tôi trúng tiêu độc như vậy. Nếu ngũ hiệp đến sớm một bước giúp tôi đấu với kẻ thù thì tôi cũng không bị chúng ném phi tiêu như thế này.

Lời nói của nàng có vài câu không khỏi vô lý, còn những câu khác đều hợp lý cả. Thúy Sơn chắp tay vái chào và nói:

– Cô nương nói phải, thì bây giờ tại hạ giúp cô nương chữa vết thương đó gọi là báo đền đại đức của cô nương.

Thiếu nữ nghiêng đầu đáp:

– Ngũ hiệp đã nhận lầm rồi.

Thúy Sơn hỏi:

– Tôi nhận lầm cái gì?

Thiếu nữ đáp:

– Ngũ hiệp bảo tôi quá ác độc như vậy, ngũ hiệp đã lầm. Bọn hoà thượng Thiếu Lâm đó với tất cả người nhà cũng bọn Ðại Cẩm đều đáng ghét hết.

Thúy Sơn lắc đầu nói tiếp:

– Cánh tay của cô nương bị trúng độc nhưng còn có thể cứu chữa được,tam sư ca của tôi bị thương nặng nhưng chưa đến nỗi chết. Dù chữa không khỏi sư ca chúng tôi, chúng tôi cũng chỉ kiếm tên đầu đảng mà thanh toán thôi, chớ một lúc giết mấy chục người như thế này thì với đạo lý không hợp chút nào.

Thiếu nữ trợn ngược lông mày đáp:

– Ngũ hiệp bảo tôi giết lầm người hay sao? Chẳng phải người dùng Mai Hoa trâm ném tôi không phải là người trong phải Thiếu Lâm sáng lập ra Long Môn tiêu cuộc hay sao?

Thúy Sơn vội trả lời:

– Môn đồ của phái Thiếu Lâm đâu đâu cũng có, có thể nói là hàng nghìn hàng vạn người, cô nương chỉ bị ném ba mũi phi tiêu chẳng nhẽ cô nương muốn giết hết các đệ tử của phái Thiếu Lâm hay sao?

Thiếu nữ nọ không cãi lại chàng, bỗng giơ tay phải lên đập mạnh vào tay trái, ba mũi Hoa tiêu cắm sâu vào thịt, vết thương càng nặng thêm.

Thúy Sơn không ngờ tính nết của thiếu nữ nọ lại quái dị như vậy chỉ vì một lời không phải mà ra tay tiêu huỷ thân thể.

Ðối với bản thân mà nàng còn làm như vậy thì nàng ra tay giết người không có gì lạ. Chàng định ra tay ngăn cản nhưng đã muộn rồi bèn vội nói:

– Cô . . . cô hà tất phải làm như vậy.

Lại thấy cánh tay của nàng rỉ ra những máu đen. Thúy Sơn biết vết thương đó quá nặng, nội lực của nàng không thể ngăn cản nổi chất độc đó chạy vào người,nếu không cứu gấp thì sẽ nguy đến tính mạng ngay. Chàng liền nắm luôn tay trái nàng và xé luôn tay áo ra, bỗng sau lưng có tiếng quát:

– Cuồng đồ không được vô lễ như thế.

Và nghe có tiếng vù vù, thì ra có người đang múa đao chém xuống sau lưng chàng.

Thúy Sơn biết đó là người lái đò,nhưng việc khẩn cấp không kịp giảng giải, chàng vội đưa chân trái đá một cái người lái đò bắn ra ngoài khoang.

Thiếu nữ vội nói:

– Tôi không cần ngũ hiệp cứu cho, tôi thích chết thì chết đấy.

Nói xong nàng giơ tay đánh chàng một bạt tay kêu bốp. Nàng ra tay nhanh vô cùng, thủ pháp lại quái dị khiến Thúy Sơn không sao tránh kịp, chàng ngẩn người và buông ngay tay nàng ra. Thiếu nữ sầm nét mặt lại nói:

– Ngũ hiệp lên bờ đi,tôi không muốn thấy mặt ngũ hiệp nữa.

– Ðời tôi chưa hề thấy cô nương nào ương ngạnh và vô lễ như vậy?
Chàng vừa bước đến đầu thuyền thì nghe thiếu nữ cười nhạt nói:

– Chưa thấy phải không? Ngày hôm nay thấy cũng chưa muộn?

Thúy Sơn cầm tấm ván định vứt xuống sông để nhảy lên bờ,nhưng sực nghĩ:

– Ta bỏ đi thì thế nào nàng cũng toi mạng.

Ðoạn chàng cố nén tức giận trở vào khoang thuyền và nói:

– Cô nương đánh tôi một chưởng tôi cũng không đếm xỉa tới làm gì. Thôi vén tay áo lên, cần nhất là cứu tính mạng cô trước.

Thiếu nữ nọ hờn giận đáp:

– Tôi sống hay chết có liên quan gì đến ngũ hiệp đâu?

Thúy Sơn lại nói:

– Cô nương không quản ngàn dặm xa xôi tống tiễn Tam ca tôi nên dù sao tôi cũng phải đền ơn đó.

Thiếu nữ nọ cười nhạt đáp:

– Ðược lắm, thì ra ngũ hiệp đến đây để trả nợ cho tam ca đấy à? Nếu tôi không hộ tống Tam ca của Ngũ hiệp thì dù tôi có bị thương nặng chút nữa chắc ngũ hiệp thấ tôi chết cũng không cứu phải không?

Thúy Sơn ngẩn người ra, trả lời:

– Cô nương nói thế cũng chưa đúng.

Thiếu nữ bỗng hắt hơi mấy cái, người hơi run run, hiển nhiên là chất độc đang chạy vào trong cơ thể.

Thấy vậy Thúy Sơn vội nói:

– Mau vén tay áo lên,cô nương chớ đem tánh mạng ra làm trò đùa như thế.
Thiếu nữ nghiến răng mím môi đáp:

– Ngũ hiệp chớ có hiểu lầm, tôi không thích ngũ hiệp cứu chữa cho đâu.

Sắc mặt của nàng lúc này trở nên xanh xao, thấy càng tội nghiệp thêm.

Thúy Sơn thở dài nói:
– Thôi được, coi như tôi đã nói lầm. Việc cô nương giết người như vậy là hợp lý.

Thiếu nữ lại đáp:

– Không được, lầm tức là lầm, tại sao lại coi như với không coi như? Tại sao ngũ hiệp thở dài một tiếng rồi mới nhận lời,hiển nhiên ngũ hiệp không thành tâm tán thành gì cả.

Thúy Sơn thấy việc cứu mạng vẫn hơn hết nên không muốn cái nhau với nàng nữa, liền lên tiếng nói:

– Hoàng thiên ở trên, thần sông ở dưới, tôi Trương Thúy Sơn đấy thành tâm thành ý xin nhận lỗi với Hân . .

Nói đến đây chàng ngừng lại, thiếu nữ tiếp:

– Hân Tố Tố.

Thúy Sơn tiếp lời:

– Phải, xin nhận lỗi với Hân Tố Tố cô nương.

Hân Tố Tố thấy chàng thề như vậy trong lòng cả mừng liền tủm tỉm cười, bỗng hai chân nàng mềm nhũn ngã ngồi phịch xuống ghế.

Thúy Sơn vội móc túi lấy ra một viên Bách Thảo hộ tâm đơn cho nàng uống.

Chàng vén cánh tay áo nàng lên thấy nửa cánh tay đã biến thành màu tím đen, hơi đen bốc lên rất nhanh,

Thúy Sơn dùng tay trái nắm lấy cánh tay của nàng và hỏi:
– Cô cảm thấy thế nào?

Tố Tố đáp:

– Ngực tôi cảm thấy buồn bực khó chịu. Ai bảo ngũ hiệp không nhận lỗi sớm hơn tí nữa, nếu tôi có chết cũng tại ngũ hiệp đấy nhé.

Trước tình cảnh này Thúy Sơn chỉ biết nhẹ lời đáp:

– Không sao đâu,cô cứ yên lòng, buông thỏng chân và tay, cũng đừng dùng hơi sức, cứ coi như đang ngủ vậy.

Tố Tố lườm chàng một cái nói:

– Thì cứ coi như tôi chết vậy.

Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Tới lúc này mà cô bé vẫn còn điêu ngoa bướng bỉnh, sau này ai làm chồng nàng thì suốt đời khổ sở.

Nghĩ tới đây tim chàng bỗng đập mạnh,hai má nóng bừng, chàng sợ Tố Tố biết ý nghĩ mình nên mới ngước mặt lên nhìn mặt nàng.Thấy hai má nàng cũng đỏ bừng tỏ vẻ bẽn lẽn, chàng không biết nàng đang nghĩ gì.

Không hẹn mà nên, bốn mắt vừa chạm nhau họ đều quay đi liền.Tố Tố bỗng khẽ nói:

– Trương ngũ ca, em còn nhỏ tuổi không biết ăn nói, Ngũ ca đừng có trách nhé.

Thúy Sơn thấy nàng vẫn còn gọi mình là ngũ đại hiệp, bây giờ là ngũ ca, tim chàng lại càng đập mạnh thêm, nên vội hít hơi thật mạnh, cố ý làm tâm thần được trấn tĩnh, một luồng hơi nóng từ đan điền bốc lên lan ra hai cánh tay.

Tố Tố thấy trong mình cảm động vô cùng. Thấy chàng chăm chú chữa bịnh cho mình,nên nàng chỉ nhắm mắt không nói nửa lời, để khỏi phân tán tâm thần chàng.

Bỗng nghe kêu “bốp” một tiếng thì ra một mũi Mai Hoa tiêu ở cánh tay của nàng đã được nhổ ra tiếp theo một tia máu đen ở vết thương cũng vọt theo.

Máu đen ấy dần biến thành máu đỏ. Mũi tiêu thứ hai lại đẩy ra.
Lúc ấy bỗng trên bờ sông có tiếng hỏi:

– Hân cô nương có ở dưới đò không? Chu tước Ðàn chủ muốn gặp cô đấy.

Thúy Sơn nghe, trong lòng hơi ngạc nhiên, nhưng vì đang bận vận sức chữa bệnh cho Tố Tố nên không để ý đến.

Một lát sau người nọ lại gọi lần nữa. Sau đó chàng mới nghe người lái đò lên tiếng trả lời:

– Có cường đồ ở đây định hại Hân cô nương.Thường đàn chủ mau tới đi.

Người đứng thuyền bên kia lớn tiếng quát tháo:

– Cuồng đồ không được vô lễ, nếu mi đụng tới một sợi tóc của Hân cô nương, mi sẽ chết vì hàng vạn lát dao.

Tiếng người nọ kêu như chuông, trên sông quát tháo lại càng oai dũng.
Hân Tố Tố mở mắt ra nhìn Thúy Sơn mỉm cười,như tỏ vẻ xin lỗi sự hiểu lầm đó.

Mũi phi tiêu thứ ba vì bị Tố Tố đập mạnh quá nên cắm vào da thịt rất sâu. Thúy Sơn đã vận sức ba lần mà không đẩy được phi tiêu ra, chàng lại nghe tiếng chèo rất gấp và thuyền nọ như bay tới gần.

Thúy Sơn chỉ thấy thân thuyền rung động, biết là có người nhảy sang rồi, nhưng vì bận dùng sức, nên cũng không để ý.

Người nọ vừa nhảy sang liền chui ngay vào khoang,thấy hai tay Thúy Sơn đang nắm chặt tay Tố Tố, nhất thời người đó không nghĩ Thúy Sơn đang chữa bịnh cho Tố Tố.

Ðang giận dữ,người nọ vội múa chưởng từ sau lưng Thúy Sơn đánh tới, đồng thời quát:

– Ác tặc còn không chịu buông tay cô nương ra sao?

Thúy Sơn không còn tay đâu mà chống đỡ, chỉ nín hơi cố hết sức chịu đựng một chưởng của người nọ, chỉ nghe “bùng” một tiếng, chưởng lực đó mạnh vô cùng đã đánh trúng ngay lưng Thúy Sơn.

Thúy Sơn đã hiểu thấu tinh yếu về môn nội công của Võ Ðang, nên toàn thân không cử động đẩy sức tấn sức, dồn chưởng rất mạnh của người nọ xuống gan bàn tay mình để đẩy phi tiêu thứ ba.

Chỉ nghe “bốp” một tiếng, mũi phi tiêu ở cánh tay cũng được lấy ra để ở ván thuyền.

Người nọ vừa đánh xong chưởng thứ nhất liền đánh tiếp chưởng thứ hai nhưng y đã thoạt thấy sự thật liền thu chưởng lại và hỏi:

– Hân cô nương,cô cũng bị thương đấy chứ?

Nhưng y đã thấy vết thương ở tay Tố Tố phun ra máu độc.Người đó cũng là một tay lão luyền giang hồ,nên đã biết mình đánh nhầm người,đồng thời y lại suy tính:

– Chưởng lực của ta có thể đánh tan một tảng bia đá,như vậy nội tạng của chàng kia có lẽ bị thương nặng rồi, đến tính mạng của y cũng không bảo tồn được nốt.
Nghĩ đoạn y vội móc túi lấy thuốc cứu thương đưa cho Thúy Sơn uống nhưng Thúy Sơn lắc đầu.
Thúy Sơn thấy vết thương của Tố Tố đã có máu tươi liền buông ra, quay đầu lại vừa cười vừa nói với người nọ:

– Chưởng lực của bạn mạnh lắm.

Người nọ cả kinh nghĩ thầm:

– Bàn tay của ta đánh chết không biết bao nhiêu cao thủ võ lâm tên tuổi, tại sao thiếu niên này không tránh né gì cả và chịu được một chưởng mà không việc gì cả?

Ðoạn y liền đáp:

– Bạn . . .bạn . . .

Y vừa nói vừa nhìn sắc mặt của Thúy Sơn lại còn đưa ngón tay bắt mạch Thúy Sơn thử xem.

Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Ðã vậy ta đùa y một phen thử chơi.

Chàng liền vận nội công làm cho tim ngừng đập,người nọ bắt mạch đã huyệt càng kinh hãi hơn nữa.

Thúy Sơn vừa cười vừa nói:

– Hân cô nương vị này là bạn của cô nương phải không? Sao cô nương không giới thiệu cho chúng tôi quen nhau.

Chàng vừa nói vừa đưa cái khăn của Tố Tố để băng vết thương cho nàng.

Người nọ thấy Thúy Sơn nói và cử động như thường nhưng tim thì ngừng đập, y liền đưa tay để lên ngực chàng thử một lần nữa vẫn thấy tim ngừng đập như thường.Y kinh ngạc đến nỗi không rút tay lại được.

Tố Tố sầm nét mặt lại nói:

– Thường Ðàn chủ không được vô lễ như vậy. Mau chào Trương ngũ hiệp của phái Võ Ðang đi.
Người nọ rút tay lại,lùi về một bên và chắp tay vái chào:

– Thì ra Trương ngũ hiệp trong Võ Ðang thất hiệp! Thảo nào nội công thâm hậu như vậy.Tiểu nhân Thường Kim Bàng vừa rồi đã thất lễ, xin ngũ hiệp tha thứ.
Người nọ tuổi độ năm mươi mặt dài như mặt ngựa, hai bàn tay rất to tựa như hai cái nan quạt, những bắp thịt và tay nổi vồng lên, chứng tỏ y có ngoại môn công phu rất cao.

Nếu nội công mà Thúy Sơn luyện được không phải là khắc tinh của môn ngạch công của chàng nọ thì Thúy Sơn đã mất mạng vì chưởng rồi.

Thường Kim Bàng chào Thúy Sơn xong lại cung kính chào Tố Tố.

Thái độ của Tố Tố rất kiêu ngạo,nàng chỉ gật đầu một cái đáp lễ thôi.

Thúy Sơn ngạc nhiên vô cùng, vì chàng thấy người nọ võ công cao siêu như thế, tại sao Tố Tố đối với y lại có vẻ vô lễ như vậy.

Nhưng người nọ vẫn như thường và cung kính nói với Tố Tố:

– Quyền Võ Ðài, Bạch Ðàn chủ đã hẹn với phái Hải Sa, Bang Cự Kình và nhân vật của Thần Quyền Môn tỉnh Phúc Kiến sáng sớm ngày mai gặp nhau ở Vương Bàn Sơn đảo đại giang khẩu tìm đường để Dương đao lập oai. Nếu Hân cô nương thấy khó chịu để tiểu nhân hộ tống cô nương về Lâm An phủ trước còn việc trên Vương Bàn Sơn đảo chắc một mình Ðàn chủ cũng đủ đối phó.

Tố Tố dùng giọng mũi hừ một tiếng rồi đáp:

– Phái Hải Sa,Bang Cự Kình,Thần Quyền Môn,.. .Quá Tam Quyền, người chưởng môn của Thần Quyền Môn có tới không?

Kim Bàng liền đáp:

– Nghe nói chính y dẫn mười hai người đệ tử có tiếng của Thần Quyền Môn tới Vương Bàn Sơn phó hội.

Tố Tố cười nhạt:

– Tên tuổi của Thần Quyền Môn tuy lớn thật nhưng y không chịu nổi một cái đánh của Bạch đàn chủ. Còn có tay hảo thủ nào nữa không?

Thường Kim Bàng nghĩ ngợi giây lát rồi nói:

– Thưa cô nương,nghe nói có hai kiếm khách trẻ tuổi của phái Côn Luân cũng tới đây phó hội. Nghe nói họ muốn kiếm thức đồ . . .đồ . . .

Nói tới đây y liếc nhìn Thúy Sơn ,không dám nói tiếp. Tố Tố lạnh lùng đáp:

– Bọn chúng muốn xem Ðồ Long Ðao phải không? Chỉ sợ bọn chúng thấy lại nổi lòng . . .

Nghe ba chữ Ðồ Long Ðao, Thúy Sơn hơi rùng mình. Chàng lại nghe Tố Tố tiếp:

– Ừ, trong mấy năm nay trên võ lâm xuất hiện rất nhiều tài năng. Nhân vật của phái Côn Luân cũng lợi hại lắm, ta không thể coi thường được. Vết thương nhẹ ở cánh tay ta không sao cả, như vậy chúng ta ra tay giúp sức cho Bạch Ðàn chăng?

Tới đây nàng quay đầu lại nói với Thúy Sơn:

– Trương ngũ hiệp, chúng ta từ biệt nơi đây nhé? Ngũ hiệp đi chiếc thuyền của tôi trở về Lâm An, còn tôi sang chiếc thuyền của Bạch Ðàn chủ. Vụ này phái Võ Ðang không nên nhúng tay vào.
Thúy Sơn liền hỏi:

– Vết thương của Tam sư ca tôi hình như có liên quan đến Ðồ Long đao, chẳng hay nội tình ra sao,xin Hân cô nương cho biết rõ.

Tố Tố đáp:

– Việc này rất phức tạp, tôi cũng không được rõ lắm. Ngũ hiệp hãy về núi Võ đang chờ Tam sư ca của ngũ hiệp lành mạnh mà hỏi thì rõ hơn.

Thúy Sơn thấy nàng không chịu nói dầu hỏi thêm nữa cũng vô ích, liền nghĩ thầm:

– Người đả thương Tam ca với mục đích cướp Ðồ Long đao. Những bọn ác tặc hay tin con đao đó thế nào cũng tới tới ngay.

Ðoạn chàng liền lên tiếng:

– Ðạo sĩ ném ba mũi hoa tiêu này, theo ý cô nương liệu sẽ đến Vương Bàn Sơn không?

Tố Tố nhếch mép cươi không trả lời mà hỏi lại:

– Nếu ngũ hiệp muốn đi xem cuộc vui này thì chúng ta đi một thể?
Rồi nàng quay lại nói với Kim Bàng:

– Thương đàn chủ làm ơn dẫn đường đi trước.

Kim Bàng vâng lời ngay rồi cúi mình vái chào lui ra, thái độ đối với Tố Tố không khác gì người đầy tớ đối với chủ nhân vậy.

Tố Tố chỉ gật đầu thôi, chớ không nói gì cả.

Trọng võ công của Kim Bàng, Thúy Sơn đứng tiễn y ra khỏi khoang.

Tố Tố quát người lái đò:

– Lại đây.

Người lái đò sợ hãi đến mặt tái mét, tay chân run lẩy bẩy và đáp:
– Tiểu . . .Lỗi đó tiểu nhân quả thật vô tâm,mong cô nương tha chết cho.

Y thấy Tố Tố không nói gì cả, lại càng sợ hãi thêm, bèn đưa mắt nhìn Thúy Sơn tỏ vẻ cầu cứu, Thúy Sơn thấy vậy nghĩ thầm:

– Tên thuyền chài này hiểu lầm ta xâm phạm Tố Tố nên kêu gọi Thường Kim Bàng tới cứu, ấy là vì lòng trung thành, hà tất phải sợ hãi như vậy?
Nghĩ tới đó chàng lại nghe Tố Tố nói tiếp:

– Ngươi có mắt mà không có con ngươi, có tai mà cũng như điếc, vậy để tai mắt đó làm gì?

Tên lái đò tỏ vẻ mừng rỡ, vì biết Tố Tố nói như vậy là có ý tha chết cho mình. Y liền quì ngay xuống thưa:

– Ða tạ ân trên của cô nương.

Nói xong y rút một con dao găm ở đùi ra, nhanh tay đưa hai bên má một cái, liền cắt hai tai tức thì. Rồi y lộn ngược mũi dao lại định đâm vào mắt trái.

Thúy Sơn thấy vậy kinh sợ, vội giơ tay cướp lấy con dao đó và nói:
– Hân cô nương, tôi táo gan xin phép cô nương một phen.

Tố Tố đáp:

– Thôi được,ngũ hiệp muốn thế cũng được.

Nói xong nàng quay lại bảo người lái đò:

– Còn không mau cám ơn ngũ hiệp đi?

Tên lái đò được bảo tồn đôi mắt đã quên hết đau đớn ở tai, quay lại và vẫn quì trên ván thuyền, cúi đầu rạp xuống dưới ván mấy cái,vái lạy Thúy Sơn. Rồi vái lạy Tố Tố xong,mới rút ra phía sau. Chỉ thấy y hớn hở uống nước rồi kéo buồm quay lại mừng như mới được thoát chết.

Thúy Sơn liếc nhìn Tố Tố nghĩ thầm:

– Cô nương này mặt đẹp như hoa mà hành sự việc độc ác vô cùng! Thủ hạ của nàng sợ nàng như thế chắc lúc bình thường nàng phải hung ác lắm. Ta lăn lộn trên giang hồ đã gặp khá nhiều kẻ độc ác, nhưng chưa thấy ai lại độc ác như thế này.

Tố Tố thấy chàng liếc nhìn mình mà yên lặng không nói gì cả, kế nàng thấy vạt áo của chàng bị Kim Bàng đánh rách, liền lên tiếng nói:

– Ngũ hiệp hãy cởi áo dài ra để tôi vá cho?

Thúy Sơn đáp:

– Khỏi cần.

Tố Tố lại tiếp:

– Có phải ngũ hiệp cho rằng tôi khâu vá không được khéo chăng?

Thúy Sơn đáp:

– Không dám.

Chàng lẳng lặng không nói thêm tiếng nào nữa và nghĩ thầm:

– Ðêm hôm qua, nàng đã giết mấy chục nhân mạng của Long Môn tiêu cuộc, hung thủ đại gian đại ác như thế này đáng lẽ ta phải ra tay tru diệt mới phải, nhưng lúc này không những ta đi cùng thuyền với nàng mà còn chữa thương cho nàng nữa.Tuy ta làm thế là để đền ơn đức nàng hộ tống sư ca ta,nhưng dầu sao thiện ác vẫn không phân minh,việc trên Vương Bàn Sơn xong thì ta mau mau chia tay nàng ngay.

Thấy mặt của Thúy Sơn thay đổi luôn luôn,Tố Tố đã đoán ra chàng đang nghĩ ngợi gì,liền lạnh lùng nói:

– Không những Ðỗ Ðại Cẩm,Sử,Trúc hai tiêu đầu,không những cả nhà Long Môn tiêu cuộc và hai tên hoà thượng Thiếu Lâm, mà Tuệ Phong cũng do tôi giết cả.
Thúy Sơn liền nói:

– Tôi đã nghĩ là do cô nương cả, nhưng không nghĩ ra cô nương dùng thủ đoạn gì thôi?

Tố Tố đáp:

– Có gì lạ,tôi núp ở dưới nước,cạnh bờ hồ nghe các người nói chuyện, sau Tuệ Phong phát hiện tướng mạo của chúng ta khác nhau, y định lên tiếng nói thì tôi ném luôn một mũi trâm vào miệng y. Ngũ hiệp ở trên cây, tôi trong bụi cỏ làm sao mà tìm ra tung tích của tôi.

Thúy Sơn lại nói:

– Như vậy phái Thiếu Lâm đã nhận định là chính tôi hạ độc thủ. Hân cô nương thông minh thật và thủ đoạn cũng cao cường lắm.

Mấy lời nói đó của Thúy Sơn chứa đầy phẫn uất,Tố Tố giả vờ không hiểu từ từ đứng lên và nói:
– Không dám,Trương ngũ hiệp quá khen thôi.

Thúy Sơn không sao quên nén được tức giận, lớn tiếng quát tháo:

– Họ Trương với cô nương không thù không oán, tại sao cô nương lại hãm hại tôi như vậy?

Tố Tố mỉm cười nói:

– Tôi có muốn làm hại ngũ hiệp đâu. Chỉ vì Thiếu Lâm và Võ Ðang hai phái xưa nay vẫn được coi là hai đại tôn phái võ lâm, tôi muốn cho hai phái đấu với nhau coi ai thắng ai bại.

Thúy Sơn giật mình bao nhiêu tức giận đều tiêu tan hết, mà còn có vẻ hãi sợ, liền nghĩ thầm:

– Thì ra nàng lại còn gian mưu trọng đại,không những định hãm hại một mình ta mà thôi, nếu Võ Ðang chúng ta và Thiếu Lâm vì chuyện này mà sinh ra ẩu đả, thế nào hai bên cũng bị tổn thương rất lớn. Ðó sẽ là một nghiệp chướng rất lớn của thiên hạ võ lâm nữa.

Tố Tố cầm quạt phe phẩy, thái độ rất ung dung rồi nói:

– Trương ngũ hiệp làm ơn cho tôi mượn cái quạt của ngũ hiệp để thưởng thức những tranh vẽ trên đó?

Thúy Sơn chưa kịp trả lời, bỗng nghe trước thuyền Kim Bàng có tiếng quát:

– Có phải thuyền của bang Cự Kình không? Vị nào trên thuyền đó?

Bên phải trên mặt sông có người lớn tiếng đáp:

– Thiếu Bang chủ của Bang Cự Kình đi Vương Bàn Sơn phó hội.

Người trên thuyền của Kim Bàng lại lớn tiếng nói:

– Có Hân cô nương với Chu Tước Ðàn Thường chủ ở đây, quí thuyền lui về phía sau đi.

Người ở trên thuyền phía phải có vẻ hậm hực đáp:

– Nếu là Hân giáo chủ của Bạch Mi giáo giá lâm thì chúng tôi phải lui lại nhường bước ngay, nếu là người khác thì chúng tôi không bao giờ nhường bước.

Thúy Sơn nghe nói đến Bạch Mi Hân giáo chủ , sáu chữ,liền nghĩ thầm:
– Bạch Mi giáo chủ gì thế? Tại sao ta không nghe sư phụ nói tới? Cứ xem thanh thế của chúng đủ biết lực lượng chúng không phải tầm thuờng. Có lẽ giáo phái này nổi lên chưa được lâu lắm, mà gần đây sư phụ của ta ở trên núi Thanh Tu ít đi xuống miền Giang Nam nên không biết chăng?

Ðoạn chàng mở cửa nhìn ra bên ngoài, thấy chiếc thuyền ở phía bên phải đằng mũi có khắc hình một con cá kình lớn,với mấy chục con dao nhọn bóng nhoáng cắm ở mồm ca thay cho răng.
Chiếc thuyền đó buồm lớn thân lại nhẹ nên đi nhanh hơn thuyền của Kim Bàng nhiều.

Thì ra bang Cự Kình là một ban hải tặc ở miền duyên hải của ba tỉnh Tô Châu, Triết Giang và Phúc Kiến, chuyên giết người cướp của.

Thuyền của chúng chế tạo rất đặc biệt nên đi rất nhanh, ngay như những hải thuyền của quan quân cũng không đuổi kịp. Nên chúng cướp thương thuyền rất dễ dàng, hoành hành ở Ðông Hải mấy chục năm nay.

Thường Kim Bàng thân hành ra đứng trước mũi thuyền lớn tiếng nói:
– Mạnh thiếu Bang chủ, có Hân cô nương mà thiếu bang chủ không nể mặt chút nào sao?

Từ khoang thuyền Cự Kình, một thiếu niên áo vàng chui ra vừa cười vừa đáp:

– Trên lục địa thì Bạch Mi giáo của các ngươi xưng hùng xưng bá, nhưng trên mặt bể thì bang Cự Kình của chúng tôi có quyền hơn, tại sao chúng tôi phải nhường các người chớ?

Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Mặt sông rộng lớn thế này, mấy chục thuyền đi cũng được hà tất phải bắt người ta nhường mình? Bạch Mi giáo này cũng hoành hành quá.

Lúc ấy thuyền của bang Cự Kình lại kéo thêm một chiếc buồm nữa, càng đi nhanh hơn trước.
Hai thuyền càng lúc càng cách xa, không sao đuổi kịp nữa.

Thường Kim Bàng hừ một tiếng rồi nói:

– Cự Kình Bang, Ðồ Long đao. . . cũng Ðồ Long đao!

Trên mặt sông vì gió to sóng cao, hai thuyền cách nhau lại xa, nên Thúy Sơn không nghe rõ Kim Bàng nói gì, còn Mạch Thiếu Bang chủ nghe Kim Bàng nói tới Ðồ Long đao liền bảo thuỷ thủ hãm tốc lực thuyền lại lái sát gần Kim Bàng rồi lớn tiếng hỏi:

– Thường Ðàn chủ vừa nói gì thế?

Thường Kim Bàng đáp:

– Mạch thiếu bang chủ, chúng tôi, Huyền Võ Ðàn Bạch đàn chủ . . . con đao Ðồ Long . . .

Thúy Sơn ngạc nhiên vô cùng, liền nghĩ:

– Tại sao lời nói của y lại đứt đoạn như vậy? Chàng thấy chiếc thuyền của Cự Kình Bang càng lại càng gần, bỗng nghe “vù” một tiếng, thì ra Kim Bàng đã tung cái neo lớn sang thuyền Cự Kình. Ðồng thời hai tên thuỷ thủ trên chiếc thuyền trước kêu la thảm khốc và cái neo sắt lớn ấy đã móc luôn vào thân thuyền Cự Kình.

Mạch thiếu bang chủ quát:

– Ngươi làm gì thế?

Thường Kim Bàng đã nhanh tay vứt luôn cái neo lớn ở phái trái sang hai cái néo sắt đó, đánh chết ba tên thuỷ thủ thuyền Cự Kình.

Hai thuyền đi giáp vào nhau, Mạch Thiếu bang chủ chạy ra mũi thuyền nhổ hai cái neo của đối phương ném sang.

Thường Kim Bàng không thèm đếm xỉa đến việc đó, tay phải phẩy một cái tung trái dưa hấu xanh biếc sang thuyền bên cạnh chỉ nghe “bùng” một tiếng thật lớn đã trúng ngay chính giữa cột buồm của thuyền Cự Kình.

Trái dưa hấu lớn ấy,mà Kim Bàng vẫn hay sử dụng chế tạo bằng gang,bên ngoài dùng sơn sơn như màu trái dưa hấu thiệt và rất nặng.

Y có một đôi, đằng đuôi có buộc một sợi dây xích, lúc sử dụng không khác gì một đôi Lưu tinh chuỳ.

Trái bên trái nặng chín mươi lăm cân, trái bên phải nặng một trăm linh năm cân. Nếu hai cánh tay không có sức mạnh ngàn cân thì không sao ném nổi.

Kim Bàng thấy trái dưa hấu bên tay phải đã ném gẫy cột buồm của kẻ địch, tiếp theo y ném luôn trái dưa hấu bên trái sang, cột buồm ngã gẫy gục luôn. Bọn hải tặc trên chiếc thuyền kinh hãi la om sòm.

Tiếp theo Kim Bàng lại ném hai trái dưa hấu sang cột buồm ở phía sau thuyền của địch. Cột buồm này bé hơn, nên chỉ đụng một cái đã gẫy liền.

Mạch thiếu bang chủ không phải tay tầm thường, bình thường y vẫn quen sử dụng một đôi Nga Mi trích, dài hơn thước rất tiện lợi khi tấn công kẻ địch ở dưới nước.

Lúc bấy giờ, hai chiếc thuyền cách nhau khá xa, mà Thiếu bang chủ thấy hai cột buồm của mình đã gẫy, nên không thể nào chạy nhanh hơn được, đành lớn tiếng chửi mắng mà thôi.

Kim Bàng cả giận đáp:

– Có Bạch Mi ở đây thì trên mặt nước này, không đến lượt Bang Cự Kình xưng hùng xưng bá đâu.
Nói xong y lại tung trái dưa hấu bằng gang ở tay phải ra, lần này y nhắm thân thuyền mà tấn công, chỉ nghe “bùng” một tiếng , thân thuyền Cự Kình bị thủng một lỗ khá lớn,nước sông cuồn cuộn chảy vào, bọn thuỷ thủ càng lớn tiếng kêu la.

Mạch thiếu bang chủ rút cây Nga Mi trích ra, tung mình nhảy tới phía đầu thuyền của Kim Bàng, Kim Bàng chờ cho đối phương nhảy lên cao liền ném trái dưa hấu bên trái ra tấn công.
Thế công này rất ác độc, lúc trái dưa hấu phi tới thì Thiếu bang chủ đang ở trên không, y hãi sợ la lớn:

– Ối chà!

Vừa kêu y vừa giơ Nga Mi trích ra cản trái dưa hấu, định mượn sức nhảy về thuyền mình. Nếu là Thúy Sơn với khinh công cao siêu chỉ cần giở tuyệt kỹ Thế Vân Tung ra không những có thế tránh được trái dưa hấu ấy mà còn có thể thuận thế tấn công lại là khác, nhưng khinh công của Mạch thiếu bang chủ tuy không phải là kém lắm nhưng bì sao được đệ tử của phái Võ Ðang.

Hồi thứ 12
Dương Ðao Lập Oai

Trái dưa kia đã nặng hơn trăm cân, lại thêm sức tung của Kim Bàn, nên Mạch Thiếu Bang chủ cảm thấy tức thở, hai mắt hoa lên, vội lộn một vòng nhảy về thuyền mình. Thường Kim Bàng lại tung đôi dưa hấu tấn công thuyền địch mấy cái nữa.

Thế là thuyền Cự Kình bị thủng luôn bảy tám lỗ ,nước tràn rất nhiều, không sao lướt nổi.

Các thuỷ thủ trên thuyền Bạch Mi Giáo không chờ chủ dặn bảo, giương buồm quay lái tiến thẳng về phái trước.

Thuý Sơn thấy Thường Kim Bằng đánh phá thuyền địch, thanh thế oai dũng như vậy, cũng phải kinh hãi và nghĩ thầm:

– Nếu ta không được ân sư truyền dạy cho môn mượn sức địch làm tản mát sức địch thì cái chưởng của tên họ Thường đánh vào lưng ta làm sao chịu nổi. Chỉ trong nháy mắt mà y dụ địch phá địch như vậy, không những võ công kinh người mà lại là người rất nham hiểm và ác độc vô cùng. Có thể nói y là một người rất lợi hại trong tà giáo.

Nghĩ tới đó chàng quay lại nhìn Tố Tố thấy sắc mặt nàng vẫn ung dung như thường, hình như nàng xem những chuyện xảy ra là lẽ thường.

Lúc ấy đằng xa như có tiếng sấm ngầm vang động. Thì ra thuỷ triều ban đêm ở sông Tiền Ðường sắp tới. Tuy Bang chúng của Bang Cự Kình đều là những tay bơi lội giỏi,nhưng gặp làn sóng của thuỷ triều cao như ngọn núi, không sao chịu nổi, huống hồ nơi hai bên đấu nhau lại là nơi rộng lớn nhất, cách hai bờ rất xa, Bang chúng Bang Cự Kình nghe tiếng sóng thuỷ triều đều hãi sợ kêu la cầu cứu.

Thường Kim Bàng và Hân Tố Tố không thèm đếm xỉa tới, cứ ra lịnh cho thuyền đi thẳng.

Thuý Sơn ló đầu ra ngoài thấy thuyền Cự Kình Bang đã khẩm hơn nữa, chỉ chờ thuỷ triều lấn tới là chiếc thuyền ấy sẽ tan tành.

Thuý Sơn thấy bọn thuỷ thủ của Cự Kình Bang kêu la cầu cứu một cách hết sức thảm khốc, trong lòng không thể nhẫn tâm được.

Nhưng chàng biết Thường Kim Bàng và Tố Tố là những người rất độc ác,nếu bảo họ ngừng thuyền để cứu bọn kia, thì thế nào cũng bị họ cự tuyệt, nên chàng lẳng lặng không nói gì.

Tố Tố thấy sắc mặt của chàng mỉm cười,rồi lớn tiếng gọi:

– Thường Ðàn Chủ, quí khách của chúng ta là Trương ngũ hiệp đây, định mở lòng từ bi, vậy Ðàn Chủ hãy cứu vớt những tên thủ hạ của chiếc Cự Kình kia đi.

Thuý Sơn nghe nàng nói, ngạc nhiên vô cùng. Kế chàng thấy Kim Bàng ở chiếc thuyền trước mặt lớn tiếng trả lời:

– Xin tuân lệnh quí khách.

Ðoạn y quay thuyền lại và lớn tiếng nói:

– Bang chúng của Bang Cự Kình hãy nghe đây, Trương ngũ hiệp của phái Võ Ðang đã cứu tính mạng các ngươi, nếu tên nào muốn sống thì hãy mau bơi tới đây.

Lát sau chiếc thuyền của Kim Bàng đã cứu được tám, chín mươi phần trăm bang chúng của Bang Cự Kình, chỉ còn sáu mươi thuỷ thủ bị sóng lớn cuốn đi mất tích. Thuý Sơn lên tiếng nói với Tố Tố:

– Cám ơn Hân cô nương.

Tố Tố lạnh lùng đáp:

– Bang chúng Cự Kình, xưa nay giết người cướp của, không một tên thuỷ thủ nào mà hai bàn tay không nhuốm máu tanh hôi. Ngũ hiệp cứu chúng làm gi?

Thuý Sơn lúng túng không biết trả lời ra sao cho hợp lý. Chàng cũng dư biết ác danh của Cự Kình là một trong bốn đại ác bang trên mặt nước.

Kế Tố Tố tiếp:

– Nếu không cứu chúng lên thuyền, thì thế nào Trương ngũ hiệp cũng chửi thầm tôi là ” con bé ít tuổi mà ác độc hơn rắn rít. Lẽ ra Trương Thuý Sơn này không nên chữa thương cho con bé ấy, bây giờ nghĩ lại mà hối hận”.

Lời nói của Tố Tố trúng phóc tâm địa của Thuý Sơn, nên chàng đỏ bừng mặt lên, ấp úng nói tiếp:

– Cô ăn nói lanh lợi như vậy, tôi xin chịu thua. Cứu sống bọn người kia là tích nhân đức cho cô, chớ có ăn thua gì đến tôi đâu.

Ngay lúc ấy, tiếng thuỷ triều vang như sấm động.

Thuý Sơn và Tố Tố đang ngồi trong khoang thuyền mà cũng bị nhồi tung lên, lời nói bị tiếng sóng lấn áp, không còn nghe rõ nữa.

Thuý Sơn nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy những làn sóng lớn tựa như những bờ tường cao.

Bang chúng Cự Kình không được vớt lên thì bấy giờ đã làm mồi cho cá mập cá sấu.

Tố Tố đi vào phía sau khoang thuyền, đóng cửa lại, giây lát trở ra,nhưng nàng đã cải trang thành nữ giới và ra hiệu cho Thuý Sơn cởi áo dài. Thuý Sơn không tiện cự tuyệt, đành cởi áo dài đưa cho Tố Tố vá hộ mình.

Ngờ đâu nàng đưa cái áo của nàng vừa mặc cho chàng rồi đem cái áo rách của chàng cất đi.

Bất đắc dĩ Thuý Sơn phải mặc cái áo dài giả nam trang của Tố Tố. Chàng ngửi thấy trong tay áo mùi thơm dâng lên mũi, ngây ngất cả đầu óc. Chàng không dám nhìn mặt nàng, chỉ cung kính ngồi rồi giả vờ xem những bức hoạ treo trên vách, nhưng tâm sự của chàng sôi nổi không khác gì những làn sóng dưới đáy thuyền, lúc lên lúc xuống.

Tố Tố cũng không trò chuyện với chàng.

Trong khoang thuyền chỉ thắp một ngọn nến, bỗng nhiên có một ngọn sóng lớn đánh tới, nhổi chiếc thuyền lên cao, ngọn nến đó tắt.

Thuý Sơn thấy vậy,nói thầm:

– Nguy tai! Ta với nàng là cô nam quả nữ mà cùng ngồi trong khoang thuyền thì tuy rằng ta không làm gì, nhưng chỉ sợ hại cho thanh danh Hân cô nương.

Nghĩ đoạn chàng liền mở cửa khoang thuyền đi tới cạnh người lái đó để xem.

Hơn một tiếng đồng hồ sau, thuỷ triều đã rút hết, thuận gió thuận nước, chiếc thuyền phóng rất nhanh.

Trời vừa tảng sáng, thuyền đã tới Vương Bàn Sơn đảo, ở phía Ðông sông Tiền Ðường, vốn là

cái đaỏ hoang nhỏ, núi đá lởm chởm xua nay không có người ở.

Hai chiếc thuyền đi về phái Nam đảo, còn cách mấy dặm mới đến bờ đã nghe tù và thổi vang, kế có hai người cầm lá cờ đen lớn phất qua phất lại ra hiệu.

Thuyền càng lúc càng tới gần, Thuý Sơn thấy hai lá cờ đỏ ở mép có thêu màu trắng liền nghĩ:

– Cờ đen, mép trắng, ý nghĩ là kim sinh thuỷ. Thường Ðàn chủ nói rằng Huyền Võ Ðàn chủ ở trên đảo chủ trì Dương Ðao lập oai, Bắc Phương huyền Võ, Nhâm Quý ,Hợi Tý,Thuỷ thuộc màu đen. Xem ra nhân vật của Bạch Mi Giáo rất tinh thuật ngũ hành biến hoá, không phải là những tà giáo ngu dân tầm thường đâu .

Chàng còn đang nghĩ ngợi thì thuyền đã đến gần bờ, lúc ấy chàng mới thấy rõ lá cờ có thêu một con rùa bay.

Giữa hai lá cờ đen và lơn,một ông già đang đứng và nói:

– Huyền Võ đàn, Bạch Quy Thọ cung kính nghênh đón Hân cô nương.

Tiếng nói chậm rãi, tuy không to lắm, nhưng giọng nói rất rõ và đều đặn.

Chỉ trong giây lát, thuyền đã vào tới bờ, ông già nọ thân hành bắc ván cầu lên thuyền.

Tố Tố mời Thuý Sơn đi trước, lên tới bờ nàng liền giới thiệu Thuý Sơn với Bạch Quy Thọ, Bạch Quy Thọ thấy Tố Tố kính trọng Thuý Sơn,sau lại thấy Tố Tố giới thiệu chàng là Trương ngũ hiệp trong Võ Ðang thất hiệp thì rùng mình sợ hãi rồi nói:

– Ngưỡng mộ thanh danh Võ Ðang thất hiệp đã lâu, hôm nay lão mới kiến diện thật là vinh hạnh.

Thuý Sơn khiêm tốn đáp lại vài câu xa giao,Tố Tố mỉm cười nói:

– Hai vị thực khách sáo quá, ăn nói không thiệt tình chút nào!

Một người thì trong lòng đang nghĩ: “ối chà!Nguy tai, người của phái Võ Ðang tới nơi,lại thêm một nhân vật lợi hại đến tranh Ðồ Long Ðao!”.

Một người thì nói thầm: “Những nhân vật của tà giáo tà phái này ta đâu thèm kết giao làm gì! Các ngươi muốn nói sao thì nói, ta đâu thèm để ý!”.

Bạch Quy Thọ ha hả cười, Thuý Sơn vội nói:

– Không dám! Bạch Ðàn chủ võ công tinh thâm, chỉ nghe danh môn cách hải truyền thanh của Bạch Ðàn chủ vừa rồi, tại hạ đã cảm phục vô cùng.Tại hạ tới đây là để cùng Hân cô nương xem trò vui thôi, chớ không có ý dòm ngó đến bảo đao đâu.

Tố Tố nghe chàng nói vậy, mặt tươi như hoa nở, mừng rỡ vô cùng.

Bạch Quy thọ xưa nay vẫn biết Tố Tố là người mặt lạnh, tâm địa độc ác, ít khi mở lòng khen ai, nhưng lúc này nàng đối với Thuý Sơn lại khác hẳn. Y đoán ngay Thuý Sơn là người được mến trọng. Giả dĩ, khen nội công của y cao siêu y lấy làm khoái trong lòng nên không còn coi Thuý Sơn là kẻ địch nữa. Rồi y hớn hở nói:

– Thưa Hân cô nương, Hải Sa phái, Cự Kình bang, Thần quyền môn đều có phái người tới đây. Ngoài ra còn có hai thanh niên kiếm khách của phái Côn Luân nữa. Hai thằng đó kiêu ngạo vô cùng, chớ không lịch thiệp như Trương ngũ hiệp đây đâu. Ngũ hiệp danh tiếng đã vang khắp thiên hạ mà không hề tỏ vẻ kiêu ngạo, như vậy đu thấy người càng giỏi càng khiêm tốn. . .

Y vừa nói tới đây bỗng nghe phía sau núi có hai người quát lớn:

– Ở sau lưng lén lút chê bai người như vậy,không phải là đại trượng phu.

Tiếng nói vừa dứt đã có hai người đi tới, thân hình dỏng cao, cùng mặc áo màu vàng. Cả hai người sắc mặt lạnh lùng đi tới, tuổi trạc mười tám mười chín,lưng đeo trường kiếm.

Bạch Quy Thọ vừa cười vừa nói:

– Nói tới Tào Tháo thì có Tào Tháo đến ngay. Mời hai vị lại đây để tôi giới thiệu.

Hai kiếm khách của phái Côn Luân đang đinh gây sự, nhưng chúng đột nhiên thấy Tố Tố mặt đẹp như hoa nở, cả hai người cùng động lòng nên một gã thì ngẩn người ra nhìn nàng không chớp mắt, một gã thì liếc nàng một cái rồi vội quay đầu đi ngay, nhưng lại lén nhìn trộm nàng.

Bạch Quy Thọ liền chỉ người đang ngẩn nhìn Tố Tố nói:

– Vị này họ Cao, tên Tắc Thành, Cao đại kiếm khách.

Rồi chỉ người thứ hai nói:

– Còn vị này là Tương Ðào,Tương đại kiếm khách .Cả hai đều là cao thủ phái Côn Luân. Phái Côn Luân oai trấn Tây Vực, thiên hạ võ lâm ai cũng khâm phục nhưng võ học ít khi truyền cho bên ngoài. Cao,Tương hai vị đều là hai cao thủ xuất sắc của phái Côn Luân, quả thật là những nhân vật hiếm có. Hai vị tới Trung Nguyên thế nào cũng biểu diễn tài ba cho chúng ta sáng mắt.

Lời nói của Bạch Quy Thọ hiển nhiên là chế nhạo hai người kia.

Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Hai người này nếu không ra tay dụng ngay, thì thế nào cũng lên tiếng cãi vã lại.

Ngờ đâu Cao,Tương cứ dạ dạ, vâng vâng, hình như không để ý đến lời của Bạch Ðàn chủ cả.

Thuý Sơn ngạc nhiên vô cùng. Về sau, chàng thấy thần sắc của hai thanh niên kia mới bừng tỉnh.

– Thì ra,cả hai thấy nhan sắc Tố Tố thì đã mất thần choá mắt.

Thuý Sơn vừa cười vừa nghĩ thầm:

– Phái Côn Luân lừng danh thiên hạ vẫn được tôn là kiếm thuật thần thông, ngờ đâu lại có những đệ tử hạ lưu như thế này!

Sự thật Cao,Tương tuy tính nết kiêu ngạo một chút, nhưng quyết không phải là kẻ hạ lưu háo sắc.Tuy nhiên nhan sắc của Tố Tố quá mặn mòi, tựa như đá nam châm hút, mà chúng là thỏi sắt.

Huống hồ Cao,Tương là những người trẻ tuổi , đa tình.Vả lại hai người tuy tâm hồn ngây ngất, nhưng chưa chắc trong bụng đã có ẩn ý bẩn thỉu. Từ thuở nhỏ đến giờ lại chưa gặp ai đẹp như Hân cô nương nên không thể nào bình tĩnh được.

Bạch Quy Thọ lại nói:

– Vị này là Trương Thuý Sơn tướng công của phái Võ Ðang, còn vị này là Hân cô nương và vị này là Thường Kim Bàng, đàn chủ của tệ giáo.

Y giới thiệu lướt qua tên họ của ba người, chứ không dài giòng văn tự.

Ðối với Thuý Sơn, y cũng chỉ gọi là “Tướng Công” hiển nhiên y đã coi Thuý Sơn là người rất thân cận vậy.

Tố Tố cả mừng, liếc nhìn Thuý Sơn, đôi ngươi lóng lánh chứa đầy tình tứ.

Cao Tắc Thành tính tình thô lỗ hơn, thấy Tố Tố có vẻ thân thiện với Thuý Sơn thì cho là hai người đã có liên lạc mật thiết nên lửa giận không hiểu vì sao bốc lên, bèn hậm hực nhìn Thuý Sơn một cái rồi nói:

– Tương sư đệ, lúc chúng ta ở Tây Vực hình như phái Võ Ðang cũng là danh môn chánh phái của Võ Lâm Trung Nguyên.

Tương Ðạo đáp:

– Ðúng thế, hình như em cũng đã nghe như vậy.

Cao Tắc Thành lại tiếp:

– Thì ra tai nghe không bằng mắt thấy, những lời đồn đại không thể nào tin được.

Tương Ðào vội nối lời:

– Anh nói rất phải! Những lời đồn đại chốn giang hồ tám chín mươi phần trăm là không đúng. Cao sư ca nói phái Võ Ðang cái gì nhỉ?

– Ðệ tử danh môn chính phái tại sao lại dây dưa với những nhân vật của tà giáo như thế?

Hai ngời kẻ nói người đáp, đều ám chỉ Thuý Sơn để gây hấn, nhưng chúng đâu có biết Tố Tố là nhân vật trong Bạch Mi Giáo, mà chúng dùng hai chữ “tà giáo”để ám chỉ Bạch Thường thôi.

Thuý Sơn nghe hai người ăn nói vô lễ như vậy, đang định đối phó, nhưng chàng sực nghĩ:

– Ta lên Vương Bàn Sơn có mục đích điều tra cho ra ai là hung thủ đánh Tam ca ta trọng thương? Hai tên đệ tử Côn Luân này tuy tuổi lớn hơn ta thật, nhưng chúng chỉ là những kẻ mới ra đời, hà tất phải cãi vã với chúng làm gì? Huống hồ Bạch Mi giáo hành sự quả thật tàn ác, cứ xem Tố Tố với Thường Kim Bàng giết người như cơm bữa cũng đủ rõ. Ta quyết không thể nào thân thiết với bọn chúng được.

Ðoạn chàng liền mỉm cười,đáp lại:

– Tại hạ với mấy vị Bạch Mi giáo đây chỉ mới quen biết thôi, không khác hai vị nhân huynh đâu.

Mọi người nghe chàng nói vậy ngạc nhiên vô cùng, vì chính Bạch, Thường nhị vị đàn chủ cũng tưởng Tố Tố với chàng giao tình rất thâm.

Tố Tố nghe chàng nói thế, trong lòng tức giận vô cùng. Nàng biết Thuý Sơn nói vậy là chàng khinh thường Bạch Mi giáo. Còn Cao,Tương nhìn nhau cười nhạt và nghĩ thầm:

– Tên tiểu tử này hèn thật, chỉ nghe danh của phái Côn Luân chưa chi đã hãi sợ .

Bạch Quy Thọ bèn mời:

– Các vị quí khách đã đến đầy đủ chỉ còn thiếu Mạch Thiếu Bang chủ phái Cự Kình thôi.

Chúng ta cũng chẳng cần chờ y,vậy bây giờ quí vị cứ tự tiện dạo chơi quanh đảo, đến giữa ngọ thì xin mời đến sơn cốc bên kía uống rượu và xem đao.

Thường Kim Bàng vừa cười vừa nói:

– Thuyền của Mạch Thiếu Bang chủ đã bị đắm, nhờ có Trương tướng công sai người cứu vớt nên sống sót và lúc này đang ngồi trong thuyền, để lát nữa mời y cùng đi phó hội.

Tuy Thuý Sơn thấy Bạch,Thường rất cung kính, còn Tố Tố thì rất tình tứ với mình nhưng chàng vẫn không muốn gần gũi những người đó, nên chàng lên tiếng thối thác:

– Tiểu để muốn đi dạo một mình, xin các vị tự tiện.

Chàng không chờ mọi người trả lời, giơ tay lên chào rồi đi thẳng về phía Ðông.

Vương Bàn Sơn là một cái đảo rất nhỏ, ngoài những tảng đá và cây cối ra, không có cảnh trí gì đáng xem.

Về phía Ðông Nam có một cái cảng nhỏ, nơi đó có mười mấy thuyền của Cự Kình bang và Hải Sa bang.

Ðối với hành vi bạo tàn, giết người một cách bừa bãi của Tố Tố, chàng không vừa ý chút nào, nhưng có một điều lạ là trái tim của chàng lúc này đang lưu luyến hình ảnh của nàng, nên chàng nghĩ thầm:

– Ðịa vị của Hân cô nương trong Bạch Mi giáo rất được tôn quí.Bạch,Thường hai vị coi nàng như một vị công chúa vậy. Tất nhiên nàng không phải là giáo chủ, vậy không biết nàng chiếm ngôi thứ nào trong giáo phái ấy?.

Chàng lại nghĩ tiếp:

– Bạch Mi giáo muốn khoe đao thị oai trên đảo này. Ðối phương là Hải Sa bang, Thần Quyền môn và Cự Kình bang đâu có phải những nhân vật trọng yếu đến phó hội. Nhưng Bạch Mi giáo chủ chỉ phái Ðàn chủ ra chủ trì, như vậy hình như họ rất coi thường những bang phái kia. Huyền Võ Ðàn Bạch đàn chủ công lực lại cao hơn Thường Ðàn chủ nhiều thì Bạch Mi Giáo này quả là một mối lo ngại rất lớn cho võ lâm vậy. Hôm nay ta cần điều tra cho rõ nội tình chúng, biết đâu sau này Võ Ðang thất hiệp sẽ không có ngày đấu chí tử với chúng một phen?

Chàng còn đang ngẫm nghĩ, bỗng nghe từ bụi cây có tiêng khí giới va chạm vọng tới, hình như có ai đang đấu nhau.

Lòng hiếu kỳ thúc đẩy,Thuý Sơn liền tiến thẳng về phía đó thì thấy giữa hai cây cổ thụ có hai kiếm khách của phái Côn Luân là Cao Tắc Thành và Tương Ðào đang luyện kiếm với nhau.

Còn Tố Tố đang đứng cạnh đó tủm tỉm cười.

Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Sư phụ ta vẫn thường nói phái Côn Luân có những kiếm pháp độc đáo của họ. Hồi thiếu thời sư phụ đã có lần đấu với một danh gia của phái Côn Luân mệnh danh là Kiếm Thành. Bây giờ cơ hội này thật là hiếm, vậy ta thử lại xem kiếm pháp của họ độc đáo như thế nào .

Ðoạn chàng lại nghĩ:

– Theo luật lệ võ lâm, trong lúc sư huynh đệ luyện tập võ công với nhau tối kỵ kẻ nào xem lén.Ta là đệ tử danh môn, khi nào lại để cho họ cười ta không biết quy luật?

Tuy nhiên chàng cũng muốn nhận thức kiếm pháp Côn Luân, nhưng vì trọng quy củ võ lâm, chàng chỉ liếc mắt một cái rồi định quay mình đi sang phía khác.

Ngờ đâu Tố Tố thấy chàng vội giơ tay lên vẫy và gọi.

– Trương ngũ ca, lại đây xem.

Nếu lúc này chàng lánh mặt sẽ bị hai kiếm khách hiểu nhầm là chàng đã tới xem trộm, nên chàng phải đến gần và đáp:

– Hai vị đang luyện kiếm, chúng ta có mặt sẽ phiền lòng người, chi bằng ta đi nơi khác thì hơn.

Tố Tố chưa trả lời thì đã thấy một làn bạch quang loé mắt kế tiếp tiếng kêu soẹt, thì ra Tương Ðào đã đâm trúng cánh tay trái của Tắc Thành khiến máu tươi phun ra như suối.

Thuý Sơn kinh hãi, tưởng Tương Ðào lỡ tay đả thương sư huynh.

Ngờ đâu Tắc Thành không rên rỉ chi cả, chỉ sầm nét mặt lại múa kiếm đâm luôn ba thế, thế nào cũng tinh diệu và độc ác, toàn nhằm vào những nơi hiểm yếu của Tương Ðào mà tấn công.

Lúc này Thuý Sơn mới thấy rõ là người không phải đang luyện kiếm mà đánh nhau thực, chàng ngạc nhiên vô cùng.

Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Xem vậy sư huynh không bằng sư đệ, kiếm pháp của Tương huynh cao hơn nhiều.

Tắc Thành nghe Tố Tố nói bền nghiến răng bịm môi giở luôn thế Bạch Trương Phi Bốc (thác bay trăm trượng) từ trên không đâm xuống.

Thuý Sơn thấy vậy vội khen:

– Kiếm pháp cao siêu lắm.

Tương Ðào co mình tránh né, nhưng lưỡi kiếm của Tắc Thành mới đâm tới lưng chừng lại quay sang thế khác ngay.

Mũi kiếm của y rung động và đồng thời y quát lớn một tiếng “trúng” thì mũi kiếm đã đâm ngay vào đùi của Tương Ðào.

Tố Tố vỗ tay cả cười nói:

– Dù sao sư huynh thì phải có một hai miếng độc đáo chứ! Tương huynh đã chịu thua chưa?

Tương Ðào cả giận đáp:

– Ðã chắc ai thắng ai bại đâu!

Chàng nói xong,giở luôn kiếm pháp Vũ lã phi Hoa của phái Côn Luân , thế kiếm đâm loạn xạ khiến người ta khó bề biết rõ được kiếm sẽ đâm về phương nào. Kiếm pháp này tất nhiên Tắc Thành cũng thành thuộc lắm, nên không có gì lúng túng, lấy thế gỡ thế thỉnh thoảng còn đâm trả lại một kiếm.

Hai người đều bị thương, tuy vết thương rất nhẹ nhưng trong lúc đánh nhau kịch liệt, máu tươi tung toé dính vào mặt hai người.

Hai sư huynh càng đấu càng hăng. Sau cùng hình như cả hai muốn giết nhau vậy.

Tố Tố đứng bên cạnh cứ luôn mồm xúi giục, khen Tắc Thành mấy câu lại khen Tương Ðào vài lời, khiến cho hai anh em như điên như dại. Người này cũng muốn giết được ngươi kia để lấy lòng Tố Tố và để tỏ ra ta đây kiếm pháp cao siêu.

Lúc này Thuý Sơn đã hiểu rõ hết nguyên do khiến hai sư huynh đệ ấy đột nhiên gây nên một trận ác chiến.

Sỏ dĩ Tố Tố khiêu khích cho hai người đánh nhau chắc là vì anh em chúng đã ngỏ ý khinh thường Bạch Mi giáo.

Chàng thấy hai người càng đánh càng hăng, lúc đầu hai người chỉ muốn đấu thử xem ai hơn ai kém, ngờ đâu về sau hình như hai người đã cuồng loạn, chỉ muốn giết đối phương mới hả dạ. Nếu để cho họ đấu thêm nữa thế nào cũng gây ra tai hoạ.

Chàng thấy kiếm pháp của hai người rất tuyệt diệu, chỉ có lúc biến hoá không được linh động mà thôi. Nhưng nội lực hai người hãy còn non kém, nên chúng chỉ phát huy được hai thành công lực của kiếm pháp.

Hân Tố Tố vỗ tay ha hả cười có vẻ cao hứng lắm và nói:

– Trương ngũ ca xem kiếm pháp của phái Côn Luân ra sao?

Thuý Sơn không trả lời, nàng liền quay đầu lại thì thấy Thuý Sơn đang cau mày tỏ vẻ chán ghét.

Nàng lại tiếp:

– Họ đấu đi đấu lại có mấy thế kiếm đó thôi, xem ngấy quá. Chúng ta sang đầu đằng kia xem mặt biển đi.

Nói xong nàng kéo tay trái Thuý Sơn đi liền.

Thuý Sơn thấy một bàn tay mềm mại nắm lấy tay mình liền hiểu ngay nàng làm như thế để trêu tức Cao,Tương nên chàng cũng không dằng ra, theo nàng đi về phía bờ biển.

Tố Tố đứng ngẩn người ra nhìn bể cả mênh mông rồi bỗng nói:

– Trong bài Thu Thuỷ của Trang Tử có nói: “Nước của thiên hạ không đâu lớn bằng biển, muôn vạn sông ngòi đều đổ về biển, không biết bao giờ những sông ngòi đó mới ngừng chảy và nước biển không đầy như thế này. Biển cả không kiêu ngạo chút nào liền trả lời ” Ta ở giữa thiên địa không khác gì đá và gỗ nhỏ trong núi lớn”.Trang Tử qủa thật là người rất tài nên mới có độ lượng rộng như vậy.

Vừa rồi Thuý Sơn chứng kiến nàng khiêu khích Cao và Tương cho hai người tàn sát lẫn nhau để tiêu khiển, thì trong lòng đã bất mãn, nay chàng bỗng nghe Tố Tố nói mấy câu nói đó mới ngẩn người ra. Vì sách của Trang Tử những người chân tu đạo gia thế nào cũng phải đọc tới.

Khi Thuý Sơn ở trên núi Võ Ðang,Trương Tam Phong thường đem sách Trang Tử giảng giải cho các sư huynh đệ nghe.

Nhưng chàng không ngờ một nữ ma đầu giết người không chớp mắt, lại thuộc nằm lòng lời lẽ của Trang Tử. Chàng vội đáp ngay:

– Phải đấy, dù ngàn dặm xa xôi cũng không so sánh với sự rộng lớn của bể cả. Dù ngàn trượng cũng không thể đo lường được mức sâu của lòng biển.

Tố Tố nghe chàng đem lời của Trang Tử ra hình dung biển cả mà đáp lại thì tỏ vẻ hâm mộ và tiếp:

– Phải chăng Ngũ hiệp đang nghĩ tới sư phụ.

Thuý Sơn kinh ngạc, tự dưng giơ tay phải nắm luôn tay kia của Tố Tố và hỏi:

– Tại sao cô biết?

Thì ra năm xưa, chàng ở trên núi cùng đại sư huynh và Tam sư huynh đọc sách Trang Tử, khi tới hai câu trên thì Ðại Nham liền nói:

– Chúng ta theo sư phụ học võ, càng học càng thấy kém sư phụ xa và hình như chúng ta mỗi ngày mỗi thoái độ. Chúng ta dùng hai câu của Trang Tử để hình dung tài ba của sư phụ thì thích đáng vô cùng. Viễn Kiều và Thuý Sơn gật đầu khen phải.

Lúc này đọc tới câu đó chàng đột nhiên nhớ tới ngay sư phụ.

Tố Tố liền trả lời:

– Cứ xem sắc mặt Ngũ ca em đã đoán ra ngay. Ngũ ca không nhớ tới sư phụ thì là nhớ đến người sư trưởng. Mà quả thật hai câu so sánh biển ca đó trên thế gian này chỉ có Trương Tam Phong đạo trưởng là xứng đáng thôi.

Thuý Sơn cả mừng nói:

– Cô thật là thông minh.

Lúc này chàng mới sực nhớ ra là mình đang nắm hai tay Tố Tố, nên hổ thẹn mặt đỏ bừng và buông tay ra ngay.

Tố Tố nói:

– Chẳng hay võ công của tổ sư anh xuất thần như thế nào? Ngũ ca có thể kể cho em không?

Trầm ngâm giây lát,Thuý Sơn đáp:

– Tài ba của sư phụ tôi, về mặt võ công chỉ là tiểu đạo thôi. Nhưng sư phụ tôi còn học nhiều thứ khác cao siêu hơn võ công nhiều, sư phụ tôi bác học tinh thâm, tôi không biết kể phương diện nào trước cho phải.

Tố Tố mỉm cười rồi nói:

– Tiên sinh bước, ta cũng bước, tiên sinh đi,ta cũng đi, tiên sinh chạy,ta cũng chạy, tiên sinh giở hết tốc lực ra phóng chạy như bay, lúc bấy giờ ta mới hay còn kém tiên sinh nhiều.

Ðúng là nàng dẫn dụ đoạn Nhan Hồi khen ngợi Khổng Tử trong cuốn Trang Tử để tả tâm trạng của mình mà qủa thật chàng phục sư phụ sát đất như Nhan Hồi nên chàng cảm thấy khoan khoái vô cùng, liền hỏi tiếp:

– Sư phụ tôi khỏi cần phải giở hết tốc lực ra phóng chạy, ông ra chỉ đi, tôi cũng không sao theo kịp.

Tố Tố là người thông minh và khôn ngoan vô cùng, cố ý lấy lòng Thuý Sơn nên cứ đem những điều chàng thích ra làm đầu đề câu chuyện, nên hai người rất hợp, nói mãi cũng không thấy mệt.

Hai người ngồi thích cánh trên tảng đá, không biết thời giờ đã trôi qua rất nhanh.

Hai người bỗng nghe phía đằng xa có tiếng chân đi nặng nề và có mấy tiếng ho, rồi người đi đến lên tiếng:

– Thưa Trương tướng công cùng Hân cô nương, đã tới ngọ xin mời nhị vị về nhâp tiệc.

Thuý Sơn quay đầu lại nhìn thấy Thường Kim Bằng đứng ở phía sau, cách chàng chừng mời trượng, thái độ rất cung kính, nên tủm tỉm cười.

Thái độ của y không khác gì một trưởng giả hiền từ đang thấy một đôi tình nhân nhỏ rất xứng đôi vừa lứa, mà cảm thấy cũng vui mừng lây. Xua nay Tố Tố vẫn coi thường Thường Ðàn chủ như kẻ hầu người hạ, ngạo mạn không thèm đáp lễ, nhưng lúc này nàng lại mắc cỡ cúi đầu.

Tuy trong lòng rất quang minh, Thuý Sơn thấy thần sắc hai người như vậy cũng phải đỏ bừng hai má.

Nhưng Kim Bàng là người rất hiểu đời, vội quay đi trước dẫn đường.

Tố Tố khẽ nói:

– Em đi trước mấy bước, Ngũ ca chớ đi theo em ngay nghe.

Thuý Sơn ngẩn người giây lát, nghĩ thầm:

– Tại sao cô ta bông dưng lại giữ kẽ như thế?

Chàng vừa nghĩ vừa gật đầu trả lời Tố Tố. Thấy chàng nhận lời rồi, Tố Tố tiến nhanh mấy bước sát cánh cùng Kim Bàng đi luôn.

Chỉ nghe nàng vừa cười vừa hỏi Thường đàn chủ:

– Hai tên ngốc của phái Côn Luân đánh nhau kết quả ra sao?

Thuý Sơn trong lòng mừng không phải là mừng, sầu cũng không phải là sầu, thật hoang mang khó tả.

Chàng chỉ nhìn theo sau lưng hai người cho tới khi họ mất dạng rồi mới từ từ đứng dậy đi thẳng về phía sơn cốc.

Chàng bước vào trong cốc khẩu, thây trên bãi cỏ đã bày bảy tám cái bàn vuông. Ngoài mâm thứ nhất ở phía Ðông, bàn nào cũng có người ngồi.

Thường Kim Bàng thấy chàng đi tới,vội đứng dậy hô to:

– Phái Võ Ðang Trương Ngũ hiệp giá lâm.

Kim Bàng thốt ra như tiếng sấm động,khiến sơn cốc vang dội.

Y vừa nói đã cùng Bạch Quy Thọ nhanh bước tiến lên nghinh đón, có năm Hương chủ theo sau, tất cả là mời hai người, chia ra hai bên, đứng ở cốc khẩu vái chào.

Bạch Quy Thọ liền nói:

– Bạch Mi Giáo Hân giáo chủ thuộc hạ Huyền Võ Ðàn Bạch Quy Thọ cùng Chu Tước Ðàn Thường Kim Bàng cung kính nghênh đón Trương ngũ hiệp đại giá.

Tuy Tố Tố không ra tận cốc khẩu nghinh đón, nhưng nàng cũng đứng dậy ra khỏi bàn tiệc đợi chờ.

Thuý Sơn nghe ba chữ Hân giáo chủ, lòng rất xúc động và nghĩ:

– Thế ra giáo chủ của họ là họ Hân thật.

Nghĩ đoạn chàng vội cúi đầu đáp lễ và nói:

– Tôi không dám.

Nói xong chàng từ từ đi vào trong sơn cốc, thấy những người ngồi mé bàn bên kia tỏ vẻ phẫn uất bất bình, chàng ngạc nhiên không hiểu tại sao họ lại có thái độ ấy đối với mình, nhưng chàng không thèm đếm xỉa tới.

Thì ra lúc các thủ lãnh của phái Hải Sa, Cự Kình Bang, Thần Quyền Môn tới nơi, Bạch Mi Giáo chỉ phái một tên hương chủ ra đón và đưa vào chỗ ngồi, chớ không có nghi lễ cung kính như tiếp đón Thuý Sơn, nên chúng cho Bạch Mi giáo đã khinh khi nên tỏ thái độ phẫn uất.

Thuý Sơn vì tới sau, nên không hay điều đó.

Bạch Quy Thọ đưa Thuý Sơn đi tới mâm thứ nhất ở phía Ðông, rồi cung kính mời chàng ngồi.

Mâm này chỉ bày có một cái ghế, là mâm thủ tịch tôn quí nhất.

Thuý Sơn đưa mắt liếc xung quanh, thấy mâm nào cũng có bảy tám người ngồi, riêng mâm thứ sáu thì có Cao Tắc Thành và Tương Ðào thôi.

Chàng liền lớn tiếng nói:

– Tại hạ là kẻ mạt học hậu tiến, đâu dám ngồi mâm thủ tịch này, xin Bạch huynh dọn cho tại hạ xuống ngồi mâm dưới kia.

Bạch Quy Thọ liền đáp:

– Phái Võ Ðang là Thái Sơn Bắc Ðẩu của đương kim võ lâm. Trương ngũ hiệp lại oai trấn thiên hạ, nếu Ngũ hiệp không dám ngồi mâm này thì trong cử toạ không ai dám ngồi.

Trong khi ấy Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Nếu sư phụ hay đại sư ca ta có mặt ở đây, thì hai vị ấy mới đáng ngồi mâm này, chớ ta không xứng chút nào.

Nên chàng cứ cương quyết khiêm nhượng.

Tắc Thành liếc mắt ra hiệu cho Tương Ðào,Tương Ðào bỗng cầm cái ghế của mình đang ngồi ném sang bên mâm thủ tịch.

Mâm của chúng cách mâm thủ tịch những năm bàn, nhưng sức ném của y rất mạnh, cách ném của y quả thật tuyệt kỹ.

Chờ cho Tương Ðào ném xong, Tắc Thành bèn lên tiếng:

– Hì hì,Thái Sơn Bắc Ðẩu! không biết ai phong cái danh hiệu Thái Sơn Bắc Ðẩu ấy thế? Họ Trương kia không dám ngồi vào mâm thủ tịch, nhưng hai anh em ta đây không đến nỗi hèn kém mà từ chối đâu.

Thì ra , hồi nẫy Tố Tố có hỏi hai anh em y coi ai võ công cao siêu hơn để nàng học hỏi vài thế kiếm của phái Côn Luân. Hai anh em Tắc Thành thấy nàng tuyệt đẹp đâm ra say mê vô cùng, nên cả hai ngời mới nhanh nhẹn rút kiếm ra đấu với nhau ngay.

Lúc đầu tên nào cũng chỉ mong thắng được đối thủ một vài thế để làm vừa lòng người đẹp, ngờ đâu càng đấu càng hăng chúng không sao thâu tay lại được. Lại thêm Tố Tố đứng ngoài khiêu khích, nên cả hai đấu tới khi cùng bị thương .

Sau đó chúng thấy Tố Tố cùng Thuý Sơn rất thân mật đi nơi khác, cả hai mới biết bị mắc mưu của Tố Tố, bèn thâu kiếm lại và băng bó vết thương cho nhau, trong lòng vừa tức giận vừa hổ thẹn, vừa đố kỵ, nhưng chúng không dám nổi giận với Tố Tố.

Lúc này chúng nhân dịp Thuý Sơn thoái thác, liền nhảy xổ lại tranh cướp chỗ cao quý nhất. Hơn nữa, chúng cũng muốn trước mặt mọi người khiêu khích và làm nhục Thuý Sơn một phen cho bõ ghét.

Thường Kim Bàng vội giơ tay ra ngăn cản và nói:

– Hãy khoan!

Tắc Thành cũng giơ tay ra định điểm vào cánh tay Kim Bàng.

Thấy vậy Thuý Sơn liền xen vào:

– Hai vị ngồi ở mâm này thật xứng đáng, tiểu đệ xin ngồi xuống mâm kia vậy.

Nói xong chàng tiến thẳng tới mâm thứ sáu.

Tố Tố bỗng giơ tay ra vẫy và gọi:

– Trương ngũ ca lại đằng này.

Thuý Sơn không biết nàng định nói gì, liền tới gần nàng. Thuận tay nàng kéo một cái ghế để cạnh rồi mỉm cười nói:

– Ngũ ca ngồi đây vậy.

Thuý Sơn không ngờ nàng lại bạo dạn đến thế. Trước mặt bao nhiêu người lạ mà nàng không mắc cỡ chút nào.

Chàng nghĩ thầm:

– Nếu ta ngồi cạnh nàng, thì có vẻ thân mật quá. Bằng không, ta làm nàng mất sĩ diện trước mặt mọi người, cũng không tiện.

Chàng đang phân vân thì Tố Tố lại khẽ nói:

– Ngũ ca ngồi xuống đây, em có câu chuyện muốn thưa cùng anh.

Thuý Sơn thấy nàng có vẻ cầu khẩn, không nỡ chối từ, bèn ngồi ngay xuống cái ghế đó.

Thuý Sơn ngồi rồi, Tố Tố hớn hở rót luôn một chén rượu trao chàng.

Phía bên kia, tuy anh em Tắc Thành đã cướp được chỗ ngồi ở mâm thứ nhất, nhưng chúng chỉ thêm tức giận mà thôi.

Khi ấy Bạch Quy Thọ dùng tay áo phủi bụi trên mặt ghế mấy cái, rồi vừa cười vừa nói:

– Hai vị đại kiếm khách của phái Côn Luân muốn ngồi ghế chủ tịch, cũng phải lắm. Mời hai vị cứ ngồi.

Nói xong, y cùng Kim Bàng và mười tên hương chủ quay chở về mâm chủ nhân.

Tắc Thành và Tương Ðào nghĩ thầm:

– Tên hèn nhát kia không dám ngồi mâm thủ tịch, hiển nhiên oai phong của Võ Ðang đã bị phái Côn Luân chúng ta đè bẹp rồi.

Cả hai nghĩ xong, đều nhìn nhau một cái, rồi vênh váo ngồi xuống.

Bất ngờ nghe kêu “lạch cạch” mấy tiếng,mấy cái chân ghế của chúng ngồi đã gãy làm đôi, nên cả hai đều ngã về phía sau.

Cũng may, võ công của chúng không đến nỗi quá kém, nên khi lưng của chúng sắp đụng mặt đất, chúng đã dùng tay đẩy ngược trở lại một cái, rồi cả hai cùng nhảy lên cao, nhờ vậy mới khỏi ngã lăn ra đất.

Tuy vậy, hai anh em chúng cũng xấu hổ lắm.

Tất cả các hào khách ở các mâm khác đều ha hả cười.

Lúc này Tắc Thành mới nghĩ ra Quy Thọ mời anh em chúng ngồi có dùng tay áo giả bộ phủi bụi mặt ghế mấy cái, là Bạch Ðàn Chủ đã ngấm ngầm làm gãy mấy cái chân ghế rồi.

Quả thật âm kình của Quy Thọ lợi hại khôn tả, y cũng tự biết mình không có âm kình mạnh đến thế. Lúc mới tới đảo này anh em y rất tự phụ, coi Bạch Mi giáo chỉ là bàng môn tả đạo hạng ba thôi, nên chúng không coi người của Bạch Mi giáo ra gì, vì thế chúng mới có những thái độ kiêu ngạo.

Nhưng giờ đây chúng thấy Quy Thọ giở chút ít công lực ra cho chúng thấy, lòng kiêu ngạo của chúng mới giảm bớt rất nhiều.

Quy Thọ lại lạnh lùng nói:

– Ai cũng biết võ công của phái Côn Luân rất cao, nhưng hai vị hà tất phải mượn hai cái ghế ấy mà biểu diễn tài ba làm gì? Nói tới môn ngồi gãy ghế như hai vị vừa biểu diễn thì cử toạ ai đâu cũng có thể thi thố.

Ðoạn y chỉ tay vào mười hương chủ ngồi ở mâm cuối cùng và nói tiếp:

– Các ngươi thử biểu diên cho hai vị xem nào.

Chỉ nghe có mấy tiếng kêu “lách cách” thật lớn là mười cái ghế đều gãy tan tành ngay.

Hình như mười tên Hương chủ ấy có chuẩn bị từ trước,nên chúng ấn ghế. Xong đứng lên tủm tỉm cười, thần khí rất ung dung đủ thấy công lực chúng hơn anh em Tắc Thành.

Cử toạ quần hào đa số là người giàu kiến thức, biết Quy Thọ làm như thế để đùa hai anh em Tắc Thành, hơn nữa những cử chỉ ấy quả thật buồn cười, nên ai nấy đều ôm bụng cười lớn tiếng.

Trong khi mọi người đang cười, lại thấy hai tên hương chủ ôm hai tảng đá lớn, đi tới cạnh mâm thứ nhất, giơ chân ra đá những mảnh ghế gẫy sang bên và nói:

– Ghế gỗ mảnh khảnh, không sao chịu đựng nổi quí thể của hai vị. Mời hai vị hãy ngồi tạm hai tảng đá này vậy.

Thì ra hai hương chủ đó là hai đại lực sĩ có tiếng trong Bạch Mi giáo, võ công của họ tuy tầm thường, nhưng thần lực của họ thì khoẻ vô cùng.

Hai tảng đá của hai người ôm đó, mỗi tảng nặng đến bảy tám trăm cân là ít.

Họ nói xong, giơ cao hai tảng đá đó đưa cho anh em Tắc Thành, để cho hai anh em họ đỡ lấy.

Cao tương kiếm pháp tinh diệu nhưng sức lực kém nên không sao đõ nổi hai tảng đá lớn như vậy. Phải biết Bạch Mi giáo lấy sở trường tấn công sở đoản của địch, định tâm bêu xấu Côn Luân nhị kiếm khách.

Cao Tắc Thành cau mày lại nói:

– Buông ngay xuống.

Hai tên hương chủ đại lực sĩ đều quát lớn một tiếng, nâng hai tảng đá cao quá đầu và nói:

– Ðỡ lấy.

Như vậy bắt buộc Cao,Tương phải lùi trở lại, vì chúng sợ một trong hai đại lực sĩ hơi sức kém một chút, lỡ tay thì tảng đá bảy tám trăm cân đó sẽ đè bẹp chúng tan xương nát thịt ngay.

Hai anh em Tắc Thành, tuy tức giận hai lực sĩ vô cùng nhưng không dám ra tay tập kích họ. Vả lại hai tảng đá đang lơ lửng trên cao, chúng cũng không dám tới gần sợ nguy hiểm.

Bạch Quy Thọ liền lớn tiếng nói:

– Hai vị Côn Luân kiếm khách không dám ngồi ghế thủ tịch, như vậy xin mời Trương tướng công lên ngồi mâm đó.

Thuý Sơn ngồi cạnh Tố Tố thấy có mùi thơm phảng phất, trong lòng khoan khoái ngấm ngầm và thần hồn phiêu diêu,bỗng nghe Bạch Quy Thọ quát lớn,liền tự cảnh giác ngay và nghĩ thầm:

– Ta không thể nào tự dấn thân vào vòng nghiệp chướng dây dưa với nữ tà ma này.

Ðoạn chàng liền đứng dậy đi tới mâm thứ nhất đó. Bạch Quy Thọ vẫn nghe Kim Bàng khen ngợi tài ba của Thuý Sơn nhưng y chưa được mục kích nên lúc này y muốn thử tài Thuý Sơn một phen.

Y bèn liếc mắt ra hiệu cho hai Hương chủ đại lực sĩ kia.

Hai tên hương chủ đó hiểu ý ngay, chờ Thuý Sơn tới gần liền lên tiếng:

– Trương tướng công cẩn thận, xin tiếp lấy tảng đá này.

Hai tảng đá lớn đã từ phía trên đầu Thuý Sơn đang rơi xuống.

Quần hào thấy vậy kinh hãi không ai bảo ai đều đứng phắt dậy.

Bổn ý của Quy Thọ chỉ muốn thử tài xem võ công của Thuý Sơn cao đến bực nào thôi, chớ không có chút ác tâm gì cả. Hơn nữa danh tiếng Võ Ðang thất hiệp lừng lẫy trên giang hồ, mà hôm nay y thấy Thuý Sơn chỉ là một thanh niên thư sinh nho nhã thì ngạc nhiên vô cùng. Hơn nữa,xưa nay Tố Tố coi ai cũng không ra gì, riêng đối với Trương ngũ ca có vẻ mến phục mà Thuý Sơn làm cho Hân cô nương say mê như vậy, sau này thế nào cũng có ảnh hưởng với Bạch Mi giáo.

Nhưng khi hai hương chủ lỗ mãng kia buông rơi hai tảng đá xuống đầu Thuý Sơn, y mới hối hận vô cùng và kêu thầm:

– Nguy tai! Nguy tai !

Rồi y nghĩ:

– Thuý Sơn là đệ tử danh môn, tất nhiên không khi nào chàng lại bị hai tảng đó rơi nhằm đến nỗi trọng thương. Tuy nhiên trong lúc chàng nhảy nhót tránh né, thế nào cũng lộ vẻ hốt hoảng. Nếu không may vì chuyện nhỏ mọn này mà chàng bị bêu xấu trước mặt mọi người, thì không những Thuý Sơn trách cứ mà cả Hân cô nương cũng nổi giận.

Y vốn là người thâm trầm ác độc, liền định sẵn một kế nếu tình thế mà xảy ra như vậy thì y quyết đổ lỗi cho tên hương chủ kia.

Kế của y là đành hy sinh tên hương chủ dưới tay, chớ y không dám để đắc tội với Hân cô nương.

Nhắc lại bỗng thấy hai tảng đá từ phía trên rơi xuống, Thuý Sơn cũng giật mình kinh hãi, nghĩ thầm:

– Nếu ta nhảy về phía sau tránh né không khác gì Cao Tương thì sẽ mất hết oai vong của sư môn.

Vả lại ,chàng cũng không kịp suy tính kỹ lưỡng. Người luyện võ tới lúc khẩn cấp, trong người bỗng dưng sức lực tích súc tăng gia.

Chàng vội sử dụng cái móc phải ở bí quyết chữ “võ” giơ tay trái lên hất mạnh tảng đá bên trái, còn tay phải sử dụng cái móc trái ở bí quyết chữ “Ðao”, hất mạnh tảng đá bên phải.

Hai tảng đá lơn đó, mỗi tảng nặng hơn năm trăm cân, cộng thêm sức ném của hai tên Hương chủ nọ, thì mỗi tảng ít nhất cũng có sức nặng trên hai nghìn cân. Thuý Sơn không phải là đại lực sĩ, nếu bảo chàng đỡ thì một tảng cũng không kham.

Nhưng pho quyền của Trương Tam Phong căn cứ thủ pháp mà biến hóa thật thần kỳ, vả lại võ công của phái Võ Ðang không cần sức mạnh và cũng không cần đánh nhanh.

Hai tên Hương chủ của Bạch Mi giáo sức mạnh hơn người, sức lực của họ là do thiên phú, còn võ công của Thuý Sơn thì do luyện tập mà có, quí hồ biết cách sử dụng thì bốn lạng cũng có thể gạt nổi nghìn cân.

Quần hào thấy vậy kinh hãi vô cùng, quên cả vỗ tay khen ngợi nữa.

Hai tảng đá đó trước sau rơi xuống,tảng sau chồng lên tảng trước .

Rồi Thuý Sơn tung mình nhảy lên ngồi tảng đá trên,vừa cười vừa nói:

– Hai vị hương chủ thần lực thật kinh người! Phục lắm! Phục lắm!

Hai tên hương chủ thấy vậy, kinh hãi hai mắt trợn to, mồm há hốc đứng ngẩn người không nói được nửa lời.

Lúc ấy trong sơn cốc tĩnh mịch không có một tiếng động. Một lát sau mới thấy mọi người vỗ tay khen ngợi, như sấm vang.

Tố Tố trợn mắt nhìn Quy Thọ tỏ vẻ đắc chí vô cùng.

Hồi thứ 13
Kim Mao Sư Vương

Quy Thọ cũng cả mừng vì mình suýt gây nên một việc khá nguy hiểm,may mà võ công của Thúy Sơn kinh người khiến việc nguy hiểm đó thành ra một dịp để Quy Thọ được lòng Hân cô nương.

Y bèn đi tới cạnh mâm thủ tịch rót một chén rượu rồi lớn tiếng nói:

– Chúng tôi được nghe oai danh của Võ Ðang thất hiệp đã lâu, nay mới mục đích thần công của Trương ngũ hiệp, chúng tôi cảm phục võ công. Tiểu nhân xin kính chúc Trương ngũ hiệp một chén.

Nói xong y uống cạn chén rượu. Thúy Sơn lên tiếng đáp:

– Tôi không dám.

Nói xong, chàng cũng nâng chén uống cạn.

Trên mâm của Cự Kình bang bỗng có một đại hán áo vàng đứng lên lớn tiếng nói:

– Võ công của Trương ngũ hiệp quả thật thần diệu, nhưng điều đó chỉ là một thứ yếu thôi, còn nhân tam hiệp cốt của ngũ hiệp mới thật khiến cho người ta kính nể hơn nữa. Ngũ hiệp không giống như nhưng tiểu nhân gian trá nham hiểm, quỷ kế đa đoan. Tại hạ cũng xin kính chúc ngũ hiệp một chén.

Nói xong,y giơ chén rượu uống cạn.

Người đó thân hình vạm vỡ, nhưng bộ áo của y đang mặc vừa ngắn vừa chật không xứng với người chút nào.

Thúy Sơn đưa mắt nhìn kỹ mới hay người đó là Mạch thiếu bang chủ của Cự Kình bang mà đêm hôm qua bị lật thuyền, suýt chết đuối ở sông Tiền Ðường, sau nhờ mình lên tiếng, Thường Kim Bàng mới cho người vớt lên.

Chàng biết Mạch thiếu bang chủ nói như vậy là để cám ơn mình đã cứu sống y,hay là trách mắng Thường Kim Bàng đã dùng gian kế khiến thuyền của y lật chìm.

Chờ Mạch thiếu bang chủ uống cạn chén rượu đó rồi, Thúy Sơn tủm tỉm cười và nâng chén rượu khác lên, nói:

– Không dám! Tại hạ xin kính lại Mạch thiếu bang chủ một chén.

Chàng đưa chén lên uống cạn.

Năm tên Hương chủ ngồi phía sau Kim Bàng lớn tiếng cười rồi chỉ tay vào Mạch thiếu bang chủ nói:

– Tối hôm qua, bạn uống nước chưa no phải không? Cho nên hôm nay bạn còn ở đây uống rượu.

Mạch thiếu bang chủ sầm nét mặt lại, đang định lên tiếng cãi vã, thì Bạch Quy Thọ đã đứng dậy lớn tiếng nói:

– Tệ giáo gần đây được một thanh bảo đao tên là Ðồ Long. Người ta thường nói: “Võ lâm chí tôn bảo đao Ðồ Long, hiệu triệu thiên hạ, mặc cảm bất tòng”.

Ðoạn y ngừng lại giây lát, hai mắt lóng lánh liếc tả nhìn hữu. Thân hình của y không vạm vỡ lắm, nhưng tiếng nói của y rất lớn ,đôi mắt thật sáng oai nghiêm vô cùng.

Thấy vậy Mạch thiếu bang chủ không dám nổi giận ra mặt, chỉ lẩm bẩm vài câu rồi ngồi xuống ghế.

Bạch Quy Thọ lại tiếp:

– Hân giáo chủ của tệ giáo định gởi thiếp mời tất cả anh hùng thiên hạ đến hành sơn đại hội, để cho mọi người được thưởng thức bảo đao. Nhưng làm như vậy thì tốn rất nhiều thời giờ. Tuy nhiên sợ anh hùng thiên hạ không biết tệ giáo đã có được bảo đao, tệ giáo mới mười quí vị giá lâm xem thanh bảo đao đó.

Nói xong y phẩy tay một cái, tám tên đệ tử của y quay mình đi vào trong sơn động lớn ở về phía Tây.

Mọi người tưởng tám tên đó đi lấy bảo đao, đều đưa mắt nhìn theo.

Ngờ đâu mọi người thấy tám tên đó quay trở ra, mình trần trùng trục, đang khiêng một cái đỉnh sắt lớn. Trong đỉnh sắt có ngọn lửa lớn đang cháy và bốc cao hơn trượng.

Tám người đệ tử đó đặt cái đỉnh sắt ở giữa quan trường. Hơi lửa bốc lên khiến mọi người ngồi quanh bị hơi nóng hắt vào.

Tiếp theo, có bốn người ở trong động bước ra, hai người đi trước khiêng cái đe sắt, hai người đi sau khiêng cái búa lớn.

Bạch Quy Thọ liền nói:

– Thuờng Ðàn chủ làm ơn dương đao lập oai đi!

Thường Kim Bàng đáp:

– Tuân lệnh!

Nói xong,y quay lại la lớn:

– Lấy đao ra.

Hai tên Hương chủ đại lực sĩ khiêng đá vừa đi thẳng vào trong sơn động, lúc chúng trở ra thì một tên nâng một cái bọc bằng lảnh vàng, còn một tên đi cạnh hộ vệ.

Tên Hương chủ đi trước đưa bọc lảnh vàng đó cho Kim Bằng, rồi cùng tên nọ chia ra làm hai bên đứng ra bảo vệ.

Thường Kim Bàng mở cái bọc ra, để lộ một thanh đao. Y nâng thanh đao đó lên, ngước mắt nhìn mọi người, rút thanh đao ra khỏi cái bao và nói:

– Thanh đao này là Ðồ Long bảo đao, được tôn quí nhất trong võ lâm. Mời các vị nhìn kỹ.

Nói xong, y giơ con đao lên thái độ rất là cung kính.

Quần hào nghe tiếng Ðồ Long bảo đao đã lâu, nhưng bây giờ mới thấy tận mắt đen sì. Con đao không có vẻ gì đặc biệt cả, nên ai cũng tỏ vẻ hoài nghi và nghĩ:

– Sao con đao này lại xấu xí thế? Không biết thực hay hư đây?

Thường Kim Bàng từ từ đưa con đao đó giao cho người Hương chủ đứng cạnh và nói:

– Ðem thử báu sắt đi

Hương chủ nọ đỡ lấy đơn đao lên trên đe sắt, luỡi đao hướng lên trời.

Một tên hương chủ đại lực sĩ khác liền giơ cái búa sắt khổng lồ lên bổ xuống lưỡi đao, chỉ nghe “soẹt” một tiếng rất nhẹ, cái búa sắt đứt ra làm đôi, một nửa còn dính ở cán, một nửa rơi xuống đất.

Quần hào kinh hãi vô cùng, đều đứng dậy cả. Phải biết bảo đao, bảo kiếm chặt vàng chém ngọc tuy rất hiếm trong võ lâm, nhưng không phải tuyệt nhiên không có, còn đao Ðồ Long này cắt búa cũng như miếng tàu hủ vậy.

Cả tiếng kêu “leng keng” cũng không có. Nếu con đao này không phải là thần vật thì chắc phái Bạch Mi làm giả cũng nên.

Thần Quyền môn và Cự Kình bang đều có một người đi đến cạnh cái đe sắt, nhặt nửa mảnh búa lên xem, thấy đường cắt phẳng lì bóng nhoáng, quả thật búa sắt bị chém làm đôi.

Hai tên Hương chủ cầm búa còn dính cán kia lên, đập mạnh vào lưỡi đao, mảnh búa đó lại ứt làm hai.

Lần này quần hào đã chứng nhận là bảo đao thật, liền vỗ tay khen ngợi.

Thúy Sơn nghĩ thầm:

– Con đao quí như thế này quả thật ta chưa hề thấy và cũng chưa nghe nói đến bao giờ .

Kim Bàng từ từ đi tới giữa quản trường, cầm thanh bảo đao đó lên và xử dụng thế Ðột Phích Hoa Sơn, chỉ nghe kêu “soẹt” một tiếng thật khẽ thì cái đe sắt đã bị y chém đứt làm đôi rồi.

Y đột nhiên chạy sang trái, múa đao chém vào một cây thông cổ.

Tiếp theo y chém luôn mười tám cây khác nhưng những cây ấy vẫn còn nguyên, không bị sứt mẻ và gẫy đổ.

Ai nấy đang hoài nghi, bỗng Bạch Quy Thọ cả cười một hồi,rồi y đi tới cây thông thứ nhất, dùng tay áo khẽ phất một cái, cây thông đó gẫy đôi và đoạn trên rơi xuống đất.

Mọi người mới hay là cây thông đã bị chém đứt làm đôi rồi. Mười mấy cây khác bị chấn động bởi cái đổ của cây trước cùng đổ theo.

Bạch Quy Thọ vừa cười vừa cầm thanh bảo đao ném vào đống lửa ở giữa đỉnh sắt.

Những tiếng cây đổ ầm ầm chưa dứt, mọi người bỗng nghe từ đằng xa cũng có tiếng ầm ầm vọng lại, tựa nh ở đàng ấy cũng có người đốn ngã vậy. Quy Thọ và Kim Bàng ngạc nhiên quay mình về phía có tiếng động thì thấy những cột buồm ở các thuyền đều gẫy cả.

Những cột buồm ấy đều có treo những lá cờ của Bạch Mi giáo, Cự Kình bang, Hải Sa bang và Thần Quyền môn.

Các thủ lãnh các môn phái thấy cột cờ của Bang phái mình bị gãy gục như vậy, đều kinh hãi và tức giận, liền sai thủ hạ đi điều tra.

Nhưng, tiếp theo mọi người lại nghe tiếng kêu “bình bùng” liên tiếp. Chỉ trong chốc lát tất cả các cột buồm thuyền của các môn phái đều bị gãy sạch. Hình như những thuyền đó vì bão gió hay những con hải quái phá vỡ vậy.

Quần hào đứng trên ngọn núi thấy tai biến đột nhiên xảy ra, đều ngẩn người nhìn nhau không ai nói được nửa lời.

Lúc đầu mọi người còn nghi Bạch Mi giáo lập tâm phá huỷ thuyền của các bang phái,nhưng về sau họ thấy chính thuyền của Bạch Mi giáo cũng chung số phận, nên mới không còn nghi ngờ nữa.

Bọn người thứ hai lại chạy đi điều tra và dò xét.

Chỗ mọi người đang đứng cách hải cảng không xa mấy, không hiểu tại sao hai bọn người đi dò xét đã lâu mà không thấy có người trở về.

Mọi người đang ngơ ngác nhìn nhau và thắc mắc vô cùng, Bạch Quy Thọ liền sai một tên hương chủ:

– Ngươi thử đi dò xét xem sao?

Hương chủ đó vâng lời đi ngay. Bạch Quy Thọ cố làm ra vẻ bình tĩnh vừa cười vừa nói:

– Chắc ngoài biển có biến cố gì đây! Quí vị chớ lo âu, dầu tất cả các thuyền bị phá huỷ hết, chúng ta cũng có thể làm bè để về được. Nào lại đây, quí vị hãy cạn chén này đã.

Quần hào trong lòng tuy sợ hãi, nhưng bề ngoài không ai dám tỏ vẻ hèn kém.

Ai nấy cũng đều nâng chén, vừa đưa tới nơi, đã nghe phía hải cảng có tiếng kêu là thảm khốc vọng tới, hình như có người bị chém ngang lưng vậy.

Quần hào đột nhiên đứng phắt dậy, những kẻ nhát gan làm rơi cả chén rượu.

Những người đó, thấy một vài người bị giết là chuyện rất thường, nhưng chính vì những tiếng kêu là kia quá khủng khiếp nên họ mới kinh hồn hoảng vía.

Bạch Quy Thọ và Thường Kim Bàng nhận thấy tiếng kêu la thảm khốc ấy chính là tiếng kêu của tên Hương chủ vừa được sai đi.

Cả hai đang ngơ ngác nhìn nhau, thì có tiếng chân người đi rất nặng nề vọng tới.

Tiếng chân càng lúc càng gần.tiếp theo đó là tên Hương chủ nọ đi tới trước mặt mọi người, hai tay ôm mặt, máu ở khe tay rỉ ra và đỉnh đầu, y mất một miếng da lớn, quần áo tả tơi, mình mẩy đầy những vết thương,đầm đìa những máu.

Ai cũng tưởng y bị một con mãnh thú nào cào cấu phải.

Bạch Quy Thọ vội chạy lại giơ tay định đỡ y thì tên Hương chủ giọng run run nói:

– Kim Mao Sư Vương! (chúa sư tử lông vàng) ,Kim Mao Sư Vương.

Bạch Quy Thọ liền hỏi:

– Có phải là một con sư tử không?

Hương chủ đáp:

– Không, không phải! Ðó là một con người, chính nó đã giết những người đi do thám.Tất cả các thuyền cũng bị y đánh đắm cả rồi.

Nói tới đó tên Hương chủ không sao gượng được,ngã gục chết.

Bạch Quy Thọ liền nói lớn tiếng:

– Ðể Bạch Mỗ ra ngoài bến xem sao?

Thường Kim Bàng vội tiếp lời:

– Cho đệ cùng đi với.

Bạch Quy Thọ đáp:

– Hiền đệ hãy ở lại bảo vệ Hân cô nương, để mình ngu huynh đi được rồi.

Y biết tên Hương chủ vừa chết, võ công rất cao vốn là một tay hữu hạng của Bạch Mi giáo, thế mà còn bị đánh chí tử, đủ thấy kẻ địch không phải tầm thường.

Trong khi Bạch Quy Thọ quay mình ra ngoài bến, bỗng nghe có tiếng ho rồi một giọng nói vang lên:

– Kim Mao sư vương đã ở đây lâu rồi.

Mọi người nghe thấy tiếng nói phát lên một cách đột ngột, kinh hãi vô cùng, đảo mắt nhìn chung quanh, nhưng không thấy hình bóng nào cả.

Tiếng nói rõ ràng phát ra từ một nơi rất gần, nhưng không ai có thể đoán người đó núp chỗ nào.

Tiếp theo đó mọi người lại nghe có tiếng thở dài và một giọng nói vang lên:

– Ðồ ngu! Ðồ ngu !

Rồi đột nhiên nghe vù một tiếng, một tảng đá lớn bay lên một người từ đáy hòn đá chui ra. Thì ra người đó đã núp sau cổ thụ, đào đất chui xuống tảng đá lớn, vì thế y ở cạnh nách mà không ai hay biết.

Mọi người càng kinh hãi thêm, Tố Tố cũng thất thanh kêu ủa một tiếng rồi nhanh chân chạy đến cạnh Thúy Sơn.

Mọi người thấy kẻ vừa lộ diện, thân hình vạm vỡ vô cùng, bề cao và vai hơn người thường một thước.Tóc vàng khè, dài xuống tận vai, hai mắt xanh biếc.

Tay y cầm một chiếc lang nha bổng, dài chừng trượng bảy, tám, trông rất oai phong không khác gì một vị thiên thần.

Thúy Sơn thấy vậy nghĩ thầm:

– Kim Mao sư vương? Có lẽ vì bộ tóc vàng của y mà y được biệt hiệu đó chăng? Y là ai,sao không nghe sư phụ ta nói tới?

Nghĩ tới đó, chàng lại đưa mắt nhìn Kim Mao sư vương, thấy cái áo dài của người nọ vá víu bằng các lại da thú dữ tuy nhiên thủ công rất khéo léo, phải do người thợ cao tay lắm mới may được.

áo đó có đủ các loại da thú dữ ở rừng chỉ thiếu có da sư tử thôi. Chàng đoán chắc người nọ tự xưng là Kim Mao sư vương nên tôn trọng sư tử mà không dùng da của con thú đó làm áo?

Chiếc lang nha bổng của người nọ cũng quái dị vô cùng. Cái bổng đó từ đầu chí cuối đều sáng chói nhưng không phải là vàng.

Lang nha bổng thường chỉ một đầu có đinh thôi mà cây bổng này không những vừa to vừa dài,hai đầu đều có đinh.

Mọi người thấy người đó quá oai dùng, nên không ai dám lên tiếng.

Bạch Quy Thọ cố gượng,tiến lên mấy bước cất tiếng hỏi:

– Chẳng hay tôn giá quí tính đại danh là gì?

Người nọ đáp:

– Không dám, tại hạ họ Tạ tên Tốn, biệt hiệu là Thoái Tư và còn một ngoại hiệu nữa là Kim Mao sư vương.

Thúy Sơn đưa mắt ra hiệu cho Tố Tố rồi cả hai đều nghĩ thầm:

– Người này oai mãnh như vậy, nhưng sao tên của y lại nho nhã đến thế? Chỉ có ngoại hiệu là đúng như người của y thôi.

Bạch Quy Thọ thấy người đó ăn nói lễ phép trong lòng mới bớt hãi sợ,nói tiếp:

– Thế ra là Tạ tiên sinh? Ngài với chúng tôi xưa nay không quen biết nhau, sao ngài vừa tới đảo này đã đánh đắm thuyền và giết người như vậy?

Tạ Tốn mỉm cười để lộ bộ răng trắng rất bóng loáng, rồi ung dung trả lời:

– Quý vị tụ họp ở đây làm gì?

Bạch Quy Thọ nghĩ thầm:

– Việc này không thể giấu y được.Tuy võ công y lợi hại thật, nhưng y chỉ có một mình còn ta với Thường Ðàn chủ liên tay, thêm Trương ngũ hiệp và Hân cô nương ở cạnh tương trợ, thế nào cũng diệt trừ nổi y.

Ðoạn Bạch Quy Thọ lớn tiếng đáp:

– Gần đây, tệ giáo Bạch Mi mới tìm được một thanh bảo đao nên triệu tập các bạn trên giang hồ tới quan sát một phen.

Tạ Tốn trợn trừng mắt nhìn con đao Ðồ Long đang nằm trong đỉnh sắt, lửa đang cháy rất hồng mà con đao đó không suy suyển chút nào, quả là thần vật, lợi khí. Y liền bước tới gần cái đỉnh sắt.

Kim Bằng thấy y giơ tay định cầm lấy cán đao, liền là lớn:

– Ngừng lại ! Ngừng lại !

Tạ Tốn quay đầu lại nhếch mép cười và hỏi:

– Ngươi cản lại làm gì?

Kim Bằng liền đáp:

– Con đao này là sở hữu của tệ giáo, bạn họ Tạ chỉ có thể đứng xa mà nhìn, chớ không được động tới.

– Các ngươi cướp được con đao này của người khác, bây giờ ta cướp lại của các ngươi, vậy rất công bằng, sao lại không được?

Nói xong y quay mình lại, chộp luôn thanh bảo đao.

Kìm Bằng thấy vậy liền rút Luu tinh chuỳ hình trái dưa hấu và quát lớn:

– Bạn họ Tạ kia, nêu không ngừng tay lại thì bổn Ðàn chủ đành phải vô lễ vậy.

Lời cảnh cáo của Thường Ðàn chủ vừa dứt, trái Lưu tinh chuỳ ở cánh tay trái của y cũng đã phi tới sau lưng Tạ Tốn.

Ngờ đâu Tạ Tốn không thèm quay đầu lại, chỉ đưa lang nha bổng về phía sau, khẽ đỡ một cái liền nghe kêu “koong” một tiếng thực lớn, là trái Lưu tinh chuỳ của Kim Bàng đã vỡ làm mười bảy mười tám mảnh, bắn ra tứ phía.

Thì ra nội lực của Tạ Tốn đã truyền từ lang nha bổng đẩy mạnh vào Lưu tinh chuỳ,mượn sức mạnh kháng sức mạnh nên Kim Bàng mới thiêt mạng ngay.

Năm tên Hương chủ thuộc Chu Tước Ðàn, thấy Ðàn chủ của mình mới đánh có một chuỳ mà đã chết, đều thất kinh xông ngay lại định cứu Kim Bàng vừa tiến công Tạ Tốn. Hai tên chạy đến đỡ Kim Bàng còn ba tên kia múa binh khí nhắm Tạ Tốn đánh tới.

Tạ Tốn tay trái cầm Ðồ Long Ðao, tay phải cầm Lang nha bổng thọc vào cái đỉnh sắt rồi hất mạnh, cái đỉnh nặng mấy trăm cân bỗng tung lên, rơi ngay vào đầu ba tên Hương chủ.

Cái đỉnh sắt lăn lông lốc đẩy cả hai tên Hương chủ đang đỡ Kim Bằng, thế là năm tên Hương chủ và cái xác của Kim Bằng đều bị bén lửa.

Bốn tên Hương chủ bị đỉnh sắt đè bẹp, chết không kịp ngáp, còn tên thứ năm lăn lộn trên mặt đất, kêu khóc thảm thiết.

Mọi người thấy Tạ Tốn mạnh như thiên thần, ai nấy đều sợ hãi đến mất cả hồn vía.

Năm tên giang hồ hảo thủ thế mà chỉ thoàng một cái bốn tên đã bị giết, còn tên Hương chủ kia, tuy chưa chết, nhưng bị thương quá nặng cũng khó bề thoát khỏi tử thần.

Thúy Sơn tuy tuổi không lớn lắm, nhưng từ khi chàng ra giang hồ, cũng đã gặp rất nhiều cao thủ, nhưng chưa hề thấy ai có võ công kỳ lạ và thần lực ghê gớm như Tạ Tốn.

Chàng nghĩ thầm:

– Y mạnh như vậy, ta không phải là địch thủ của y đâu. Nếu có đại sư ca hay nhị sư ca ở đây, chắc cũng không đấu lại y, mà dù Võ Ðang thất hiệp có liên tay đối địch cũng chưa chắc thắng nổi y. Trên đời này, trừ phi sư phụ ta chắc không người thứ hai có thể địch nổi y?

Tạ Tốn cầm thanh đao Ðồ Long đưa lên dùng ngón tay búng thử một cái, nghe tiếng kêu không giống kim khí bình thuờng và cũng không giống đồ gỗ, liền gật đầu khen:

– Con đao này vô thanh vô sắc, quả là thần vật.

Y ngẩng lên thấy cái bao của Ðồ Long đao ở cạnh Bạch Quy Thọ, liền hỏi:

– Bảo đao kia có phải là của thanh đao Ðồ Long không? Ðem lại đây cho ta!

Trước tình cảnh này, Bạch Quy Thọ biết tính mạng mình như chuông treo chỉ mành,nếu y nghe lời đưa bảo đao cho Tạ Tốn thì tên tuổi của y sẽ bị tiêu tan.

Vả lại sau này khi giáo chủ truy ra, thế nào y cũng bị xử tử mà chết càng thảm khốc hơn. Vì thế, y biết dầu phản kháng Tạ Tốn mà có thể bị giết,cũng còn hơn là sẽ bị Giáo chủ xử tử về sau này. Nên y liền tỏ vẻ kiêu ngạo và trả lời:

– Ngươi muốn giết thì giết, họ Bạch này không phải là kẻ huý tử tham sanh đâu! Và ta cũng không phải là đứa tiểu nhân để cho người khác bắt nạt một cách dễ dàng đâu.

Tạ Tốn mỉm cười nói:

– Cứng thật! Cứng thật! Bạch Mi giáo quả còn có vài nhân vật,tạm gọi là anh hùng.

Y vừa dứt lời, liền giơ tay phải lên ném mạnh thanh đao Ðồ Long sang phía Bạch Quy Thọ, Bạch đàn chủ đã đề phòng từ trước, nên khi thấy bảo đao phóng ra khỏi tay đối phương, đã biết sức người rất mạnh, y không dám dùng khí giới chống đỡ, cũng không dám giơ tay ra đón bắt, bèn nhảy sang bên tránh né.

Tiếp theo, Tạ Tốn giơ cây lang nha bổng, lẹ làng quất và móc một cái, thanh đao Ðồ Long lẫn cái bao đã trở lại trước mặt y. Tạ Tốn thuận tay bắt luôn thanh bảo đao, cắm vào lưng. Rồi y liếc nhìn quần hào một lượt và nói:

– Tại hạ định lấy thanh bảo đao này, có vị nào phản kháng không?

Y hỏi luôn mấy tiếng, không ai trả lời, bỗng ở mâm rượu của phái Hải Sa có người đứng lên lớn tiếng nói:

– Tạ tiền bối đức cao vọng trọng, tiếng tăm lừng lẫy bốn bể, con đao này đáng thuộc sở hữu của Tạ tiền bối, anh em chúng tôi xin tán thành.

Tạ Tốn hỏi tiếp:

– Các hạ có phải là Nguyễn Quản Ba tổng trại chủ của phái Hải Sa đó chăng?

Quản Ba thấy Tạ Tốn biết rõ tên tuổi của mình, vừa mừng vừa sợ, liền đáp:

– Vâng,chính tại hạ đây.

Tạ Tốn hỏi tiếp:

– Ngươi có biết sư phụ của ta là ai không? Ta thuộc môn phái nào? Ta đã làm những việc thiện gì rồi?

Nguyễn Quản Ba ấp úng đáp:

– Việc này Tạ tiền bối . . .

Sự thật Quản Ba không biết gì về người khách lạ. Lúc ấy Tạ Tốn lạnh lùng đáp:

– Việc của ta ngươi không biết tí gì, sao ngươi dám bảo ta là đức cao vọng trọng, tên tuổi lừng lẫy bốn bể? Con đao này vốn do phái Hải Sa của ngươi cướp được trước nhứt, sau mới bị Trường Bạch Tam Cầm cướp, rồi lọt vào tay Dư Ðại Nham của phái Võ Ðang . . .

Thúy Sơn nghe Tạ Tốn nói tới “lọt vào tay Dư Ðại Nham” bèn nghĩ thầm:

– Lời nói của người họ Tạ có lẽ đúng đấy! Thì ra con đao này có liên can đến Tam sư ca mình.

Chàng lại nghe Tạ Tốn nói tiếp:

– . . . Bạch Mi giáo lén hạ độc thủ, cướp con đao này trong tay Dư Ðại Nham. Hừ,hừ phái Hải Sa các ngươi thấy không đủ tài cướp lại thanh đao, nên mới nói con đao này thuộc sở hữu của ta, và ai nấy đều tán thành. Bình sinh ta rất ghét những kẻ xu nịnh như mi, đặt điều nói bậy, vô sỉ khôn tả, có mau ra đứng đây không?

Nguyễn Quản Ba không dám trái lệnh, cúi đầu đi tới trước mặt Tạ Tốn hãi sợ đến chân tay run lẩy bẩy.

Thúy Sơn vừa ngẫm nghĩ lời nói của Tạ Tốn vừa liếc nhìn Tố Tố luôn, chàng thấy Tố Tố cũng đang suy tính việc gì.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Võ nghệ của Hải Sa phái các ngươi rất tầm thường, chỉ nhờ có chút muối độc để hãm hại người. Cũng như năm ngoái chẳng hạn, các ngươi dùng muối độc giết cả nhà Trương Văn Ðăng, già trẻ mười một người. Hồi đầu tháng ngươi lại giết hại Âu Dương Thanh ở ngoài Hải Môn.

Quản Ba kinh hãi vô cùng và nghĩ thầm:

– Hai vụ đó ta ra tay rất bí mật, tại sao y lại biết rõ?

Tạ Tốn quát lớn:

– Ngươi bảo thủ hạ đem hai bát muối độc ra để ta xem đó là thứ muối gì?

Bang chúng phái Hải Sa đi tới đâu cũng mang theo muối độc ấy. Quản Ba không dám trái lệnh, vội gọi thủ hạ đem hai bát muối độc ấy ra.

Tạ Tốn cầm một bát lên ngửi, rồi đổ vào mồm mấy hớp nuốt thử rồi nói:

– Chúng ta mỗi người hãy ăn một bát muối này.

Quản Ba vừa kinh hãi vừa mừng thầm. Y hãi sợ là vì đối thủ bắt mình nuốt bát muối này, còn mừng là vì thứ muối này độc khôn tả, đối thủ nuốt một bát thế nào cũng chết ngay.

Tạ Tốn cắm cây lang nha bổng xuống đất, giơ tay ra túm cổ và bẻ hàm dưới của Quản Ba rời khỏi khớp xương để y không sao mím lại được, rồi đổ cả bát muối độc vào mồm tên bang chủ phái Hải Sa.

Gia đình của Trương Văn Ðăng bị giết sạch, và Hải Môn Âu Dương Thanh bị kẻ thù giết ở trong khách điếm là hai vụ nghi án lớn nhất trong võ lâm đương thời.

Không ai ngờ lại do phái Hải Sa gây nên. Mọi người lại thấy Quản Ba bị bắt ép nuốt bát muối độc, ai nấy đều khoái trí vô cùng.

Bắt Quản Ba nuốt hết bát muối độc rồi, Tạ Tốn cầm bát thứ hai lên và nói:

– Ta họ Tạ đây, bình sinh làm việc gì cũng công bằng chính trực. Ngươi đã nuốt một bát, tất nhiên ta cũng phải nuốt một bát mới là công bằng.

Nói xong y há mồm đổ bát muối độc ấy vào bụng.

Mọi người không ngờ Tạ Tốn lại liều lĩnh như vậy.

Thúy Sơn thấy Tạ Tốn ra tay hung ác thật, nhưng vẻ mặt lại rất chính khí, huống hồ những kẻ bị giết đều là những tên hung ác xưa nay nên chàng có vẻ thiện cảm với y ngay và lớn tiếng nói:

– Tạ tiền bối, những kẻ gian này đáng chết lắm. Tiền bối hà tất phải bắt chước chúng làm gì?

Tạ Tốn quay mặt lại, trợn mắt lên nhìn Thúy Sơn một cái.

Ngờ đâu Thúy Sơn chỉ mỉm cười, chớ không hề sợ hãi chút nào.

Tạ Tốn liền hỏi:

– Các hạ là ai?

Thúy Sơn đáp:

– Hậu sinh là Võ Ðang Trương Thúy Sơn, kính chào tiền bối và chúc tiền bối mạnh giỏi.

Tạ Tốn hỏi tiếp:

– Ồ, bạn là Trương ngũ hiệp của phái Võ Ðang đấy? Bạn cũng đinh tới đây cướp thanh Ðồ Long bảo đao này phải không?

Thúy Sơn lắc đầu đáp:

– Hậu sinh tới Vương Bàn Sơn này, mục đích chỉ muốn điều tra nguyên uỷ Tam sư ca Dư Ðại Nham tại sao bị thương. Hình như Tạ tiền bối đã biết rõ mọi chuyện, vậy mong tiền bối chỉ giáo.

Tạ Tốn chưa kịp trả lời, đã nghe Quản Ba rú lên một tiếng, hai tay ôm bụng, nằm xuống đất lăn đi lăn lại,rồi chân tay co lại mà chết.

Thúy Sơn vội nói:

– Tạ tiền bối mau uống thuốc giải đi.

Tạ Tốn đáp:

– Ta chẳng cần uống thuốc giải gì cả. Lấy rượu lại đây cho ta.

Một tên thủ hạ của Bạch Mi giáo cầm chén và rượu đem ra. Tạ Tốn quát lớn:

– Sao Bạch Mi giáo hà tiện thế? Mau đưa bình lớn cho ta.

Tên thủ hạ của Bạch Mi giáo vội ôm một hũ rượu lớn tới, cung kính đưa cho Tạ Tốn và nghĩ thầm:

– Ngươi đã uống thuốc độc,lại còn uống rượu như vậy thì chết sớm hơn .

Tạ Tốn lại nói:

– Mạc Bang chủ, hồi tháng năm năm nay, ngươi đánh cướp một chiếc thuyền của Viễn Ðông hải thuyền ở cửa biển tỉnh Phúc Kiến phải không?

Mạc Kình sắc mặt như gà cắt tiết, rụt rè đáp:

– Vâng.

Tạ Tốn lại hỏi tiếp:

– Các hạ làm nghề giặc biển, nếu không đánh cướp lấy gì mà mưu sinh? Ðiều ấy ta không chỉ trích các hạ, nhưng có một điều là ngươi đẩy tất cả các khách thương vô tội xuống biển rồi lần lượt hãm hiếp cả bảy thiếu nữ chí chết mới thôi. Nhân vật anh hùng trên giang hồ có bao giờ làm những việc luân thường bại lý thế không?

Mạc Kình ấp úng đáp:

– Việc này . . .việc ấy . . . do các anh em trong bang, chớ . . .tôi . . .không dính líu tới.

Tạ Tốn lại hỏi:

– Bộ hạ của bạn làm những việc mất sĩ diện như vậy, cũng bởi tại bạn không nghiêm mình. Hơn nữa như vậy có khác gì bạn đã đích thân ra tay hành động không? Vậy những tên nào đã dự cướp hôm đó?

Trước hoàn cảnh éo le này, Mạc Kình chỉ mong làm sao cho riêng mình được khỏi chết, nên y rút luôn thanh đao ở bên lưng ra và nói:

– Thái Tứ, Hoa Thanh Sơn, Hai Mã Hề Lục . . .ba người ra đây. Vụ cướp hôm đó, ba người có dính tay vào phải không?

Y vừa nói dứt, không để cho ba tên thủ hạ đó biện bạch, đã giơ đao lên chém luôn, thoáng cái, mọi người đã thấy ba cái đầu lâu lăn lóc dưới đất.

Tạ Tốn lớn tiếng khen:

– Thế mới là anh hùng! Chỉ tiếc là bạn ra tay hơi muộn một chút. Nếu ngay sau lúc đánh cướp, bạn giết ngay ba tên nọ tại chỗ thì ngày hôm nay Tạ mỗ không đòi tỷ võ với Mạc bang chủ, chẳng hay bạn sở trường môn võ công nào nhất?

Mạc Kình biết không sao tránh khỏi, liền nghĩ:

– Ở trên lục địa tỷ võ, có lẽ ta địch không nổi ba hiệp, nhưng ở dưới đáy biển thì y địch đâu lại ta? Dẫu có đánh bại ta cũng có cách tẩu thoát. Chẳng lẽ ở dưới nước y cũng giỏi hơn ta sao?

Ðoạn y đáp:

– Tại hạ muốn lãnh giáo võ công ở dưới nước của Tạ tiền bối.

Tạ Tốn nhận lời ngay:

– Ðược lắm! Chúng ta ra ngoài biển tỷ thí ngay.

Ði được vài bước,Tạ Tốn bỗng ngừng chân lại và nói:

– Hãy khoan, ta đi khỏi đây, chỉ sợ những người kia tẩu thoát hết.

Mọi người nghe thấy Tạ Tốn nói vậy, trong lòng kinh hãi vô cùng và nghĩ thầm:

– Y sợ chúng ta bỏ chạy, chẳng lẽ y định giết hết chúng ta hay sao?

Vớ được dịp may này, Mạc Kình vội đáp:

– Sự thực xuống dưới nước tỷ võ, tại hạ cũng không phải là địch thủ của Tạ tiền bối. Như vậy chi bằng tại hạ chịu thua trước có hơn không?

Tạ Tốn liền nói:

– Thế lại càng đỡ tốn công. Nếu bạn đã nhận thua rồi thì giơ đao lên tự sát ngay đi.

Mạc Kình nghe nói giật mình kĩnh hãi liền đáp:

– Việc này . . .tỷ thí võ nghệ thắng bại là việc rất thường,hà tất phải tự sát . . .

Tạ Tốn quát lớn:

– Bậy nào! Người là cái thá gì mà dám đòi tỷ võ với ta?

Ngày hôm nay ta tới đây mục kích chỉ đòi nợ mấy tính mạng của những kẻ đã làm việc luân thường bại lý hay đã giết những người vô tội. Ta không tha thứ một tên nào cả. Chỉ sợ các ngươi chết mà không chịu phục nên mới gọi từng người một để cho bọn mi giở hết bình sinh tuyệt kỹ ra. Quí hồ ai có một môn gì tài ba hơn ta là ta tha chết cho liền.

Tạ Tốn nói xong bỗng cúi đầu nhặt hai nắm đất, đổ rượu vào cho ướt như hai nắm bùn rồi tiếp:

– Thi tài dưới nước, ai chịu đựng được lâu là người đó thắng. Bây giờ ta với ngươi mỗi người dùng một nắm bùn này bịt kín mồm mũi, hễ ai chịu không nổi, bỏ nắm bùn ra trước thì người ấy phải tự sát ngay.

Nói xong, y không cần hỏi Mạc Kình có đồng ý hay không giơ luôn nắm bùn ở bàn tay trái lên nhét vào mồm đối phương. Tiếp theo y cũng dùng tay phải tự bịt kín lấy mồm mũi của mình.

Mọi người thấy vậy, tuy rất buồn cười nhưng không dám cười ra tiếng.

Trước khi bị bịt kín mồm mũi, Mạc Kình đã hít một hơi thật mạnh, nên y vội ngồi xuống mặt đất để tỷ thí với Tạ Tốn.

Mạc Kình đã yên trí thế nào cũng thắng trận này, vì y học bơi lội từ thuở lên nảy lên tám, có thể lặn xuống đáy biển từ lúc thắp nhén hương tới khi nén hương tắt mà cũng không hề ngộp. Vì thế y mới không sợ hãi và bình thản ngồi xuống.

Còn Tạ Tốn không ngồi yên như Mạc Kình, đi tới trước mâm tiệc của Thần Quyền Môn, liếc mắt nhìn người trưởng môn Quá Tam Quyền một lúc.

Quá Tam Quyền thấy Tạ Tốn nhìn, lòng kinh hãi vô cùng, vội đứng dậy chắp tay chào và nói:

– Xin chào Tạ tiền bối. Tại hạ là Thần Quyền Môn Quá Tam Quyền.

Tạ Tốn mồm đã bịt kín, không sao nói chuyện được chỉ dùng ngón tay trỏ nhúng vào chén rượu, rồi viết lên trên mặt bàn ba chữ.

Quá Tam Quyền thấy ba chữ đó sắc mặt biến đổi như người chết đuối vì y sợ hãi khôn tả. Các thủ hạ của y đưa mắt nhìn ba chữ đó thì thấy là: Thôi Phi Yến.

Mấy tên thủ hạ không hiểu gì cả, nghĩ thầm:

– Thôi Phi Yến hình như là tên của thiếu nữ nào. Tại sao sư phụ thấy ba chữ ấy lại sợ hãi đến thế.

Thì ra Thôi Phi Yến là con gái sư phụ của Quá Tam Quyền. Lúc sư phụ chết, Quá Tam Quyền đã dụ dỗ sư muội, phá trinh nàng xong lại bỏ rơi mà không cưới nàng làm vợ. Phi Yến vừa hổ thẹn vừa tủi thân, nên ngoài Quá Tam Quyền ra, không còn người thứ hai rõ chuyện.

Không ngờ, chuyện xảy ra cách đây hai mươi năm, mà Tạ Tốn lại đột nhiên viết tên nàng.

Quá Tam Quyền liền nghĩ:

– Lát nữa, y thắng Mạc Kình xong, bỏ nắm bùn ra thế nào cũng loan tin đó cho mọi người biết. Dầu sao y cũng không buông tha ta chi bằng nhân lúc này ta đấm cho y mấy quyền thì thế nào y cũng thua Mạc Kình.

Hồi thứ 14
Vực Băng Hang Lửa

Ðoạn y lớn tiếng hỏi:

– Tại hạ chấp chưởng Thần Quyền môn, bình sinh chỉ học có một môn quyền pháp, nên tại hạ chỉ xin lãnh giáo quyền pháp của tiền bối vài hiệp.

Vừa nói xong, y múa quyền đấm Tạ Tốn ngay.

Quyền của y rất kỳ lạ, không tấn công thì thôi, đã ra tay là đấm luôn ba quyền một lúc, quyền sau mạnh hơn quyền trước rất nhiều, nhờ vậy y mới được mệnh danh là Quá Tam Quyền. Quyền của y có thể đánh chết một con bò đực, lợi hại vô cùng.

Y cũng biết tình thế này phải tấn công thật lẹ mới hạ nổi đối thủ vì một khi Tạ Tốn còn bị nắm bùn bịt miệng thì y không thể vận hơi sức đánh lại được.

Mà đối phương cứ nín hơi đấm ra, quyền lực không sao mạnh được.

Quá Tam Quyền đấm được hai quyền, Tạ Tốn giơ tay ra chống đỡ hình như sức lực yếu ớt, chớ không mạnh như lúc quật chết Kim Bàng.

Khi y đấm quyền thứ ba, liền quát lớn một tiếng:

– Quyền thứ ba!

Quyền thứ ba của Quá Tam Quyền lợi hại nhứt, đã có rất nhiều anh hùng bị thiệt mạng bởi quyền cuối này.

Lúc ấy Mạc Kình mặt đỏ như gấc, hai mắt đã nảy đom đóm lửa, không sao chịu đựng được.

Mạc Thiếu bang chủ thấy cha đang lâm nguy, mà Tạ Tốn đang mải đấu với Quá Tam Quyền, bèn nghĩ ra một kế để cứu cha.

Y thuận tay rút một kim trâm trên đầu của một nữ trại chủ nhắm nắm bùn ở giữa miệng Mạc Kình ném tới, để soi lỗ hổng cho cha y hít không khí mới.

Ngờ đâu, cái trâm ấy phi tới ngang Tạ Tốn, Tạ Tốn trông thấy vội đưa tay ra bắt và phóng ngược lại Mạch thiếu bang chủ.

Mạch thiếu bang chủ thất thanh kêu lên một tiếng!

Thì ra cái trâm đó đã đâm mù mắt y.

Lúc ấy quyền thứ ba của Quá Tam Quyền vừa đánh trúng bụng dưới của Tạ Tốn, thế mạnh như sấm như gió.

Quá Tam Quyền đoán chắc nếu Tạ Tốn không giơ tay ra đỡ cũng phải né tránh.

Nhưng bất cứ y tránh trái né phải, hoặc nhảy cao hoặc lui về sau cũng không sao tránh nổi thế quyền đó.

Ngờ đâu Tạ Tốn vẫn đứng yên như thường.

Quá Tam Quyền cả mừng vì quyền đó thế nào cũng đánh trúng bụng dưới của kẻ địch.

Nhưng khi quyền của y đấm trúng Tạ Tốn, y cảm thấy như đấm phải sắt đá và đau buốt tận xương.

Y biết là nguy tai đến nơi ,vội thâu quyền lại nhưng không sao rụt tay lại được nữa.

Tạ Tốn bỗng giơ tay ra, rờ vào lưng của Quá Tam Quyền, rút thắt lưng Quá Tam Quyền ra, rồi quấn vào cổ Quá Tam Quyền hai vòng, thắt một cái gút kế thả tay hắn ra.

Quá Tam Quyền thâu quyền lại, nhưng cổ đã bị Tạ Tốn thắt bằng thắt lưng và nhấc bổng lên, nên thân hình y tựa như đằng vân.

Tiếp theo đó Tạ Tốn xách Quá Tam Quyền ra treo ở một cành cây cạnh đó. Cái gút thắt chặt càng thâu càng chặt, Quá Tam Quyền cứ giơ quơ tay múa chân, muốn giơ tay cởi cái thắt gút đó ra nhưng không sao cởi được.

Chỉ trong thoáng cái, y thấy hình bóng Thôi Phi Yến hiện ra trước mắt,và nàng đang tự tử chết một cách thảm khốc.

Y vừa sợ vừa ăn năn, bên tai chỉ nghe nói văng vẳng:

– Lưới trời không thưa chút nào, ác giả ác báo.

Tạ Tốn quay đầu lại thì Mạc Kình hai mắt đã lòi ra và tắt thở lâu rồi.

Y liền giở nắm bùn ở miệng Mạc Kình ra, rờ tay lên mũi tên đó thử xem, đoạn tự bỏ nắm bùn ở miệng ra, rồi ngẩng mặt lên trời cả cười và nói:

– Hai người này bình sinh tác ác, tác quái, hôm nay bị báo ứng như vậy cũng đã muộn lắm rồi.

Vừa nói xong, Tạ Tốn đã trợn mắt nhìn hai kiếm khách của Côn Luân một lúc lâu, Cao Tương mặt tái mét. Nhưng chúng vẫn hai tay cầm kiếm, tỏ vẻ không sợ gì cả.

Thuý Sơn thấy chỉ trong nháy mắt, Tạ Tốn đã giết bốn thủ lãnh của bốn đại bang hội cùng một lúc, đủ thấy võ công của y cao siêu khôn cùng.

Quả thực từ xưa tới giờ chàng chưa thấy ai tài giỏi đến thế, nên chàng thấy y sắp hạ Cao, Tương hai người liền đứng dậy lớn tiếng nói:

– Theo lời Tạ tiền bối vừa nói, thì mấy người vừa bị Tạ tiền bối hạ sát đều là những tay tàn ác, tội đáng chết có dư, nhưng tiền bối cứ giết bừa như vây, không phân biệt nếp tẻ thì Tạ tiền bối có khác gì mấy người kia đâu?

Tạ Tốn cười nhạt đáp:

– Khác lắm chứ. Tôi võ công cao siêu, chúng võ công thấp kém, theo luật tự nhiên thì người mạnh thắng, kẻ hèn bại. Chỗ khác là ở đó.

Thuý Sơn tiếp:

– Người đời khác cầm thú ở chỗ biết phân biệt thị phi. Nếu cứ ỷ mình mạnh mà hiếp kẻ yếu thì có khác gì cầm thú đâu?

Tạ Tốn lại cười nhạt đáp:

– Chẳng lẽ trên thế gian này việc gì cũng có phân biệt thị phi hay sao? Cứ đem chuyện hiện thời ra mà nói, lúc này người Mông Cổ đang làm vua chúa giết bao người Hán thì cứ việc ra tay. Chẳng lẽ trước khi giết, vua Mông Cổ phải nói thị phi với Ngũ hiệp rồi mới ra tay hay sao? Vua Mông Cổ muốn lấy tiền bạc của người Hán, cứ việc giơ tay ra lấy là được, nếu người Hán nào không chịu đưa là y cầm đao chém luôn, chẳng lẽ y phải nói thị phi với Ngũ hiệp trước rồi mới ra ta cướp của giết người hay sao?

Thuý Sơn lẳng lặng giây lát rồi nói tiếp:

– Người Mông Cổ tàn bạo , hung ác, hành vi không khác gì cầm thú. Người có chí nào chẳng nghiến răng thống hận chúng, và chẳng ngày đêm mong mỏi xua đuổi bọn Mông Cổ ra khỏi bờ cõi, lấy lại sơn hà.

Tạ Tốn vội vã tiếp:

– Xưa kia, người Hán mình làm vua, chẳng lẽ vị vua chúa nào cũng biết phân biệt thị phi cả hay sao? Nhạc Phi là một vị đại trung thần như vậy, tại sao Tống Cao Tôn giết ông ta? Tần Cối với Giả Tự Ðạo là hai tên đại giân thần, tại sao chúng lại được quyền cao chức trọng, hưởng tận phú quý vinh hoa.

Thuý Sơn vội đáp:

– Các vua nhà Nam Tống trọng dụng bọn gian thần, giết hại người trung lương,bãi chức Hàn Thế Trung, giết Nhạc Phi, nên sơn hà xã tắc mới lọt vào tay dị tộc. Những vị vua này đã trồng ác nhân mới hái ác quả. Như vậy, thị phi chẳng phân biệt rõ ràng là gì?

Tạ Tốn lại trả lời:

– Kẻ ngu đần si muội và vô đạo là vua của Nam Tống, còn những người bị quân Nguyên và quân Kim tàn sát lại là người Hán. Xin hỏi ngũ hiệp, những dân ấy tội tình gì mà phải chịu đựng những tai hoạ như vậy?

Thuý Sơn không biết trả lời sao cho phải, mặt đỏ tía tai đứng thừ người ra.

Tố Tố thấy vậy vội xen vào:

– Dân chúng vô quyền vô dũng, tất nhiên chịu để cho người ta tha hồ chém giết. Nên có câu: Bá tánh như cá nằm trên thớt, mặc cho bạo chúa chém giết. Như vậy là chuyện rất thường.

Thuý Sơn liền tiếp lời:

– Chúng ta chịu khổ chịu cực, học hỏi võ công, cũng chỉ mong thân oan cứu khổ cho người, diệt cường bạo, giúp kẻ yếu. Cũng như Trang Tử nói: kiếm cũng có ba loại, một là kiêm thiên lữ, hai là kiếm chư hầu, ba là kiếm thứ nhân. Kiếm của chúng ta học được, chỉ là kiếm thứ nhân thôi. Kiếm của chúng ta trên chém đầu cổ, dưới quyết can phế, không khác gì con gà đang chọi, nhưng cũng đủ tư cách khử trừ gian tà, giúp đạo chính nghĩa. Tạ tiền bối là một vị

anh hùng vô địch, nếu đem võ công tuyệt thế ra hành đạo thiên hạ thì chúng sinh đều đội ơn đức.

Tạ Tốn liền hỏi lại:

– Hành hiệp trượng nghĩa có ích lợi gì nào? Tại sao chúng ta lại phải hành hiệp trượng nghĩa như thế?

Thuý Sơn theo học sư phụ từ hồi còn thơ ấu, trước khi học võ, chàng đã biết sự trọng yếu của hành hiệp trượng nghĩa ra sao rồi.

Sở dĩ chàng học võ cũng chỉ muốn dùng để hành hiệp thôi. Hành hiệp là căn bản, mà học võ là việc phụ. Trong thâm tâm không bao giờ chàng nghĩ tới câu hành hiệp có ích lợi gì? Tại sao lại phải hành hiệp?

Vì vậy Tạ Tốn hỏi tới câu đó, chàng không sao trả lời được.

Ngẩn người ra giây lát, chàng mới lên tiếng đáp:

– Hành hiệp trượng nghĩa là để thân trường chinh nghĩa hữu thiện báo, ác hữu ác báo.

Tạ Tốn cười ha hả và hỏi tiếp:

– Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo ? Thật là nói bậy. Phái Võ Ðang của các ngươi chỉ thích đọc sách Trang Tử, chắc người nào người nấy đều học thuộc lòng cuốn sách ấy, phải không? Nếu vậy, tôi hãy hỏi ngũ hiệp: Trong cuốn sách đó Trang Tử nói: “Người có địa vị cao cả nhất trên thế gian này là hoàng đế, mà hoàng đế vẫn chưa phải là người có toàn đức, vì trận đại chiến ở cánh đồng Trảo Lộc, Hoàng Ðế đã khiến máu chảy trăm dặm. Ngoài Hoàng Ðế ra, còn sáu mươi người nữa được thiên hạ cho là cao cả nhứt thời là : Nghiêu, Thuấn, Vũ ,Thang,Võ Vương và Văn Vương. Nhưng sáu người đó đều có những hành vi khả ố cả,vẫn không thể gọi là những kẻ toàn được”. Mấy lời ấy nghĩa lý gì? Ngũ hiệp có hiểu chăng? Những người đại nhân, đại hiền quân như vậy mà còn giết người đổ máu hàng trăm dặm. Tôi giết có mấy người, máu chảy có một bước thôi, như vậy vẫn chưa thể nói là tàn bạo được?

Thuý Sơn không ngờ Tạ Tốn hình thù thô lỗ, không khác người rừng mà học vấn lại uyên bác thế, nên chàng càng khâm phục Tạ Tốn vô cùng, bèn nói tiếp:

– Bài học của tiền bối vừa nói là một bài nguỵ tác của người sau này, chớ không phải nguyên tác của Trang Tử.

Tạ Tốn lại hỏi:

– Dầu là nguỵ tác của người sau này đi nữa, những lời đó cũng có nghĩa lý phải không?

Thuý Sơn đáp:

– Tuy bài ấy có nghĩa lý, nhưng họ bảo Nghiêu,Thuấn là người bất tử bất hiếu, chỉ là lời nói cầu toàn trách bị thôi.

Tạ Tốn cười nhạt một tiếng rồi tiếp:

– Thế nào gọi là cầu toàn trách bị? Sự thật tội ác của Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang còn nhiều hơn nữa. Như là Thuấn phóng Nghiêu ở Bình Dương, Thang phóng Kiệt ở Nam Sào chẳng hạn. . .Như vậy chẳng là khuyết đức hay sao?

Thuý Sơn ngẩn người giây lát, rồi đáp:

– Tiểu tử học thức còn kém, chưa hề đọc tới những cổ thư ấy bao giờ, nên không sao biết rõ được hành vi của cổ nhân.

Tạ Tốn tay cầm Lang nha bổng, tay cầm Ðồ Long đao nói tiếp:

– Nếu Ngũ hiệp bảo chuyện cổ xưa không có bằng chứng cụ thể thì tôi nói chuyện bây giờ.

Ngũ hiệp vừa nói, thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhưng sự thật việc thiên hạ có được như thế đâu? Ví dụ như chuyện Ngũ Tử Tư, Hàn Tín, Bạch Khởi chẳng hạn, họ đều là những người trung tín lương thiện mà rốt cuộc cũng bị ác báo.

Thuý Sơn thấy Tạ Tốn nói rất phải cúi đầu nghỉ thầm:

– Mấy người đó đều là danh tướng các đời, mà không có một người nào được chết yên ổn.

Nghĩ tới đó, chàng cảm khái thở dài một tiếng, lại nghe Tạ Tốn hỏi tiếp:

– Sau những người tôi kể trên, lại còn Văn Chúng đại phu phò Câu Tiễn,sau bị Câu Tiễn giết chết. Giới Từ Thôi theo hầu vua Tan châu du liệt quốc, sau cũng bị Tấn Văn Công thiêu chết. Hắc Quang tận trung với nhà Hán, sau cả nhà bị vua Hán chém chết. Lục Tốn bảo tồn giang sơn cho Ðông Ngô mà còn bị Tôn Quyền nghi kỵ, vì thế uất ức mà chết. . .

Y cứ nói thao thao bất tuyệt. Có những cổ nhân Thuý Sơn chưa biết,cũng có người chàng chưa nghe nói tới bao giờ, đủ thấy Tạ Tốn rất thuộc kinh sử, còn thuộc hơn cả các túc nho nữa.

Tuy Thuý Sơn ngẫm nghĩ không nói năng gì, nhưng trong lòng chàng bắt đầu hoài nghi tám chữ: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” của cổ nhân dạy không chắc là đúng cả.

Tạ Tốn lại nói:

– Không có việc gì thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo cũng chưa chắc là đúng hẳn. Ngũ hiệp cứ thử nhìn xa một chút, sẽ thấy những kẻ làm việc ác chẳng đặng hưởng tận sự phú quí vinh hoa là gì? Ví dụ như Lưu Bang chẳng hạn, khi bại trận đẩy con cái xuống dưới bể để đào tẩu. Cha y bị bắt Hạng Võ tuyên bố sẽ đem giết và nấu ăn. Ngờ đâu y lại trả lời Sở Bá Vương rằng: “khi nào giết cha tôi và nấu ăn thì chia cho tôi một bát”. Y là con người bất hiếu, bất tử, đại gian đại ác đến thế, mà không những được làm vua chúa khai quốc, công được thọ chung chính phẩm nữa. Như vậy có thấy ác báo gì đâu?. . .

Thuý Sơn vội đỡ lời:

– Tạ Tiền bối nói rất phải. Từ xưa tới nay vua chúa đa số là những kẻ gian ác, mà họ vẫn được hưởng sung sướng, trái lại các tướng soái rất trung thành mà không được thiện quả. .

Nhưng, nói tóm lại, đó là đạo trời, chúng ta là người trần không thể nào biết rõ hết được. Quí hồ ta làm việc gì cũng vậy, chỉ mong yên lòng yên dạ thôi, và ta thấy việc nghĩa là phải làm mà đã làm thì không quản ngại gì tới hoạ phúc cả.

Tạ Tốn liếc nhìn Thuý Sơn một hồi rồi nói:

– Xưa nay tôi vẫn nghe nói tôn sư Trương Tam Phong tiên sinh võ công tuyệt thế. Tiếc thay tôi chưa có duyên phận gặp được ông ta. Ngũ hiệp là cao túc của ông ta, mà kiến thức tầm thường đến thế? Như vậy, Trương Tam Phong cũng chả hơn bạn là bao, tôi khỏi cần gặp ông ra nữa.

Thấy võ công và văn học của Tạ Tốn đều cao siêu không lường,Thuý Sơn đã tỏ vẻ hâm mộ vô cùng. Bây giờ bỗng nhiên Tạ Tốn miệt thị tới sư phụ mình, chàng không sao nhịn được hậm hực đáp:

– Sức học của sư phụ tôi cao bằng người trời, những kẻ phàm phu tục tử không sao biết rõ.

Võ công của Tạ tiền bối quả thật cao siêu, tiểu tử hậu sinh tự thấy còn kém rất xa, nhưng trước mắt ân sư thì tiền bối chỉ là một thất phu thôi.

Nghe chàng nói có vẻ quá kiêu ngạo, Tố Tố vội kéo tà áo chàng một cái, và nháy mắt ra hiệu bảo chàng đừng nói tiếp nữa. Chàng nghĩ thầm:

– Ðại trượng phu dầu chết, cũng không khi nào để cho người nhục mạ đến ân sư .

Ngờ đâu Tạ Tốn không hề tức giận chút nào, chỉ lẩm bẩm tự nói:

– Trương Tam Phong là người sáng lập ra môn phái, chắc võ công đặc biệt hơn người. . . Có lẽ ra không giỏi bằng y, nhưng thế nào cũng có một ngày ra sẽ lên núi Võ Ðang lãnh giáo y một phen. Chẳng hay Trương Ngũ Hiệp giỏi nhất môn võ công nào? Ngũ hiệp có thể giở ra cho tôi kiến thức xem?

Tố Tố thấy xác của Kim Bằng, Mạc Kình,Quá Tam Quyền và những người khác nằm ngổn ngang dưới đất, mà người nào đấu với tên mà đầu đó cũng đều thiệt mạng. Giờ đây Tạ Tốn khiêu chiến với Thúy Sơn, nàng biết võ công của Thuý Sơn tuy cao siêu, nhưng so với Tạ Tốn còn kém xa, nên nàng vội đỡ lời:

– Tạ tiền bối, hiện giờ con đao Ðồ Long đã lọt vào tay tiền bối rồi, và ai ai cũng khâm phục văn học và võ công của tiền bối cao siêu uyên bác khôn lường thì tiền bối còn thử thách Ngũ hiệp làm chi nữa?

Tạ Tốn vội hỏi:

– Chẳng hay cô nương có biết mấy câu thơ của Ðồ Long đao, mà các cố lão vẫn tương truyền từ xưa tới nay không?

Tố Tố lẹ miệng đáp:

– Thưa có ạ.

Tạ Tốn lại nói:

– Con dao này là vật chí tôn của võ lâm, ai có con dao này trong tay có thể ra hiệu lịnh mà không ai dám làm trái. Vậy con dao này có bí mật gì khiến nổi quần hùng trên thiên hạ phải khâm phục đến thế?

Tố Tố tiếp lời:

– Tạ tiền bối bác học như vậy, tất phải hiểu biết sự bí mật ấy, chẳng hay Tạ tiền bối có thể nói cho chúng tôi biết được không?

– Chính tôi cũng chưa biết rõ điều bí mật ấy. Sau khi lấy được con đao này, tôi phải kiếm một nơi thật thanh tịnh, để nghỉ ngơi mấy năm liền, xem có thể nghĩ ra điều bí mật ấy không?

– Phải đấy. Tạ tiền bối tài trí hơn người, nếu tiền bối không nghĩ ra được thì người khác lại càng không hiểu nữa.

– Hì hì, họ Tạ này vẫn chưa phải là kẻ ngông cuồng tự cao tự đại. Nói tới văn võ học thì Không Văn đại sư trưởng môn của phái Thiếu Lâm, Trương Tam Phong đạo trưởng của phái Võ Ðang và hai vị trưởng lão của hai phái Côn Luân và Nga Mi nữa, đều là những người tuyệt học đương thời. Nói tới thông minh trí tuệ thì Bạch My Ưng Vương giáo chủ Bạch Mi Giáo của cô nương cũng có thể gọi là một người rất giỏi về tài trí.

Tố Tố vội đứng dậy đáp:

– Ða tạ tiền bối đã quá lời khen ngợi.

– Tôi chắc có rất nhiều nguời đang ghen tị tôi đã lấy được con dao này. Nhưng ngày hôm nay, trên đảo Vương Bàn Sơn này, không ai địch nổi ta cả. Hân giáo chủ có ngờ như thế đâu phải không? Ông ta yên trí một mình Bạch Ðàn chủ đã đủ đối phó với các người của các môn phái tới dự, nhưng có ngờ đâu giữa đường có họ Tạ này xen vào. . .

Tố Tố xen lời nói:

– Không phải Hân giáo chủ yên trí như thế đâu. Chỉ vì ông ta đang bận,không sao phân thân được tới đây.

– Người ta vẫn thường khen ngợi mưu kế của Hân giáo chủ không bao giờ thất thố cả. Nhưng hôm nay, con dao này lọt vào tay tôi rồi thì Hân giáo chủ đã bị mất tiếng.

Sở dĩ Tố Tố bàn cãi với Tạ Tốn là vì nàng muốn tên ma đầu này quên chuyện thử tài với Thuý Sơn, nên nàng lại tiếp:

– Ðây là số trời đã định,Tạ tiền bối lấy được con đao này một cách dễ dàng, mà người khác tốn mất bao nhiêu tâm huyết cũng không chiếm nổi, đủ thấy phúc trạc của Tạ tiền bối thâm hậu biết bao?

– Từ khi con dao này ra đời đến giờ, đã qua không biết bao nhiêu tay. Nhưng chủ nhân nào cũng bị mạng vào thân, thậm chí còn mất mạng nữa. Ngày hôm nay tôi lấy được con dao này, biết đâu mai kia chẳng có người tài ba hơn tới giết mà cướp con dao đi?

Thuý Sơn và Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, cả hai đều thấy lời nói của Tạ Tốn rất thâm ý. Thuý Sơn lại nghĩ tới tam sư ca Dư Ðại Nham chỉ vì liên can đến con dao này mà giờ này vẫn chưa biết ra sao, còn chàng mới thấy được con dao thôi, mà tánh mạng đã bị uy hiếp.

Tạ Tốn lại thở dài một tiếng rồi nói:

– Ngũ hiệp cùng Hân cô nương đều văn võ song toàn và tướng mạo đường đường cả. Nếu tôi ra tay giết cả hai người có khác gì đập vỡ một đôi châu báu quí giá không? Thật đáng tiếc! Nhưng tình thế bắt buộc, tôi biết làm sao được?

Tố Tố kinh hãi vội hỏi:

– Tại sao vậy?

Tạ Tốn đáp:

– Bây giờ tôi lấy được con dao này đem đi, nếu để cho một nguời nào ở trên đảo này sống sót, chỉ vài ngày sau, khắp thiên hạ sẽ đều hay biết tin con đao Ðồ Long đang ở trong tay Tạ Tốn. Thế rồi người này kiếm kẻ nọ tìm, họ Tạ này không phải là anh hùng vô địch, làm sao giữ trọn vẹn con đao Ðồ Long mà không bị người khác cướp mất? Không nói người khác xa lạ vội, hãy cứ nói Bạch Mi Ưng Vương trước. Họ Tạ này đâu chắc đã thắng nổi y?

Thuý Sơn với giọng khinh khỉnh nói:

– Thì ra tiền bối giết người là muốn giữ kín việc nầy đấy?

Tạ Tốn đáp:

– Chính thế!

Thuý Sơn lại hỏi:

– Như vậy tiền bối hà tất phải chỉ trích tội ác của phái Hải Sa, Thần Quyền Môn và Cự Kình Bang như vừa rồi làm gì?

Tạ Tốn ha hả cười đáp:

– Tôi muốn cho bọn chúng chết mà không oán trách gì được, chúng cũng yên tâm mà chết.

Thuý Sơn liền nói mỉa:

– Tiền bối có lòng từ bi lắm.

Tạ Tốn vẫn ung dung đáp:

– Người đời ai chẳng chết một lần. Chết sớm chết muộn có khác gì nhau đâu? Chỉ có Ngũ hiệp vói Hân cô nương tuổi còn trẻ như thế này mà đã phải bỏ mạng trên đão Vương Bàn Sơn mới thật đáng tiếc thôi. Nhưng một trăm năm sau, người đời cũng coi cái chết của hai vị như cái chết của mấy người kia thôi. Năm xưa nếu Tần Cối không hãm hại Nhạc Phi chết chẳng lẽ Nhạc Phi lại được sống cho tới ngày nay sao? Người ta chỉ cần lúc chết không oán hận gì và cũng không cảm thấy đau khổ gì là được rồi. Cũng vì lý lẽ này, tôi định tỷ thí võ công với hai vị một phen,ai thua thì người đó sẽ phải chết, như vậy chẳng công bằng hay sao? Hai vị tuổi ít hơn tôi, tôi để cho hai vị được lợi thế một chút. Nghĩa là hai vị muốn đấu bằng khí giới, quyền cước, nội công ám khí, khinh công, thuỷ công vân vân, tuỳ ý hai vị.

Tố Tố vội hỏi:

– Tiền bối tự phụ thực. Có phải tỷ thí môn gì tiền bối cũng nhận phải không?

Thấy Tạ Tốn quả quyết nàng biết khó mà tránh khỏi tai ách.

Bạch Mi Giáo thấy đảo Vương Bàn Sơn mọc trơ trọi giữa bể, và ỷ có Bạch Thường hai Ðàn chủ võ công cao siêu chắc chắn không có việc gì sơ suất, vì vậy Hân giáo chủ quyết định không cho người tới tiếp viện.

Những điều đó Tố Tố đều biết hết. Nàng còn hỏi Tạ Tốn như vậy là có ẩn ý riêng, người ngoài không sao hay biết được. Nên cả Tạ Tốn cũng ngạc nhiên vô cùng.

Nhưng y là người thông minh tuyệt thế liền hiểu ngay và nghĩ thầm:

– Nếu nàng bắt buộc ta tỷ thí may vá thêu thùa, chải đầu thoa phấn thì nguy tai.

Ðoạn y lớn tiếng nói:

– Phải, nhưng chỉ tỷ thí trong phạm vi võ công thôi, chứ không phải thi ăn uống đâu.

Y vừa nói tới đó, thoáng thấy Thuý Sơn đang cầm cái quạt phe phẩy, liền tiếp:

– Hay là tỉ thí văn chương cũng được. Như là cầm kỳ, thi, hoạ, thơ, từ, phú khúc vân vân. Chúng ta chỉ tỷ thí với nhau một cuộc thôi. Nếu hai vị thua cuộc thì phải tự sát ngay. Hà,một đôi xinh đẹp tuấn nhã thế kia, tôi thực không nỡ ra tay hạ sát chút nào.

Thuý Sơn và Tố Tố thấy Tạ Tốn nói hai người là “một đôi” đều mắc cỡ đỏ bừng mặt.

Tố Tố cau mày hỏi:

– Còn tiền bối thua có tự sát không?

Tạ Tốn vừa cười vừa trả lời:

– Khi nào tôi lại thua hai vị được?

Tố Tố nói tiếp:

– Tỷ thí tất phải có thua có được. Trương Ngũ Hiệp là danh gia đệ tử, văn tài võ học kiêm toàn, biết đâu anh ta lại có một điểm thắng tiền bối?

Tạ Tốn đáp:

– Ngũ hiệp ít tuổi nhu vậy, dù võ công cao siêu đến đâu, nhưng công lực sao bằng tôi được.

Thấy hai người đang cãi lý với nhau,Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Nếu tỷ thí võ công, tất nhiên ta phải thua y rồi. Nhưng y đã nói muốn tỷ thí môn nào cũng được, chi bằng ta thi thố khinh công với y? Hay là môn chưởng pháp của ta mới học được?

Nghĩ tới đó chàng liền lên tiếng nói:

– Tạ tiền bối bắt buộc tiểu tử phải ra tay đấu nên tiểu tử không sao từ chối được. Nếu tiểu tử thua tất nhiên phải tự sát trước mặt tiền bối rồi. Nhưng lỡ tiểu tử đấu ngang tài với tiền bối thì sao?

Tạ Tốn lắc đầu đáp:

– Không khi nào! Nếu đấu hoà môn thứ nhất thì chúng ta tiếp tục đấu môn thứ hai. Dẫu sao cũng phải phân rõ thắng bại mới thôi.

Thuý Sơn lại hỏi:

– Vâng,nếu thắng được một thế hay nửa miếng võ, tiểu tử không dám bắt buộc tiền bối phải tự sát, nhưng chỉ mong tiền bối nhận lời cho một điều là mãn túc lắm rồi.

Tạ Tốn đáp:

– Ðược lắm. “Nhất ngôn vi định”, vậy Ngũ hiệp cứ nói điều kiện ra đi.

Tố Tố có vẻ lo âu, khẽ hỏi:

– Anh định tỷ thí môn gì với y thế? Liệu có chắc chắn thắng nổi y không?

Thuý Sơn đáp khẽ:

– Chớ dám cả quyết, nhưng tôi cứ tận lực mà thi thố, chớ biết làm sao bây giờ?

Tố Tố lại khẽ nói tiếp:

– Nếu địch không nổi y, chúng ta phải thừa cơ đào tẩu, còn hơn là thúc thủ chịu chết.

Thấy Tố Tố nói như vậy, Thuý Sơn chỉ gượng cười chứ không trả lời, trong lòng nghĩ thầm:

– Thuyền bè đã bị tên hung đồ kia phá huỷ hết. Hòn đảo này lại mọc trơ vơ giữa bể, bây giờ chúng ta biết đi ngõ nào?.

Ðoạn chàng chỉnh đốn lại khăn áo, lấy đôi bút phán quan ở bên lưng ra.

Tạ Tốn thấy đôi bút phán quan của Thuý Sơn liền nói:

– Trên giang hồ vẫn nghe danh Thiết Hoặch Ngân Câu Trương Thuý Sơn, hôm nay chiếc lang nha bổng hai đầu của tôi rất may mắn được lãnh giáo tài ba của Ngũ hiệp. Kìa, chiếc hổ đầu câu bằng bạc vụn của Ngũ hiệp đâu, sao không đem ra nốt?

Thuý Sơn đáp:

– Hậu sinh không tỷ thí võ khí với tiền bối, chỉ muốn thi viết vài chữ thôi.

Nói xong chàng giơ bút phán quan ra viết vào vách đá, chỉ nghe “soẹt soẹt” mấy tiếng, đã viết xong chữ “Võ”. Chàng đã vội dùng cây bút bên tay trái cắm vào khe đá, rồi dùng cây bút bên tay phải viết luôn chữ “Lâm”.

Một bút và một nét của hai chữ đó đều do Trương Tam Phong khổ công sáng tạo trong lúc đêm khuya, bao hàm đủ các âm dương, cương nhu, tinh thần, khí thế.

Có thể nói những chữ ấy là kiệt tác thượng thừa của phái Võ Ðang, tuy nội lực của Thuý Sơn hãy còn non nên nét bút không được sâu lắm, nhưng bút lục của hai chữ ấy đã hùng biện và sắc bén như lưỡi kiếm mũi kích vậy.

Chàng viết xong hai chữ đó, lại viết thêm hai chữ”Chí” và chữ “Tôn”, càng viết càng nhanh, bụi đá rới tựa như rắn lượn vòng hoặc mãnh thú đứng chồm lên vậy. Chỉ trong giây lát chàng viết trọn hai mươi bốn chữ.

Viết đến nét cuối cùng của chữ”Phong”, Thuý Sơn dùng câu bạc và bút sắt đẩy mạnh vào vách đá.

Tạ Tốn ngửng đầu lên nhìn ba hàng chữ đó một lúc lâu,lẳng lặng không nói nửa lời, sau cùng mới thở dài nói:

– Tôi chịu thua! Tôi không thể nào viết được những chữ như thế này. Tôi xin chịu thua!

Tố Tố cả mừng vỗ tay la lớn:

– Tạ tiền bối đã thua rồi, vậy không được thoái thác đấy nhé!

Tạ Tốn quay lại nói với Thuý Sơn:

– Trương ngũ hiệp võ học biệt lập một phương pháp mới lạ khiến tôi sáng mắt vô cùng. Tôi rất thán phục, vậy Ngũ hiệp dạy bảo điều gì, xin nói mau.

Trong đời Tạ Tốn luôn sai bảo chớ không bao giờ chịu nghe lịnh ai. Ðây là lần đầu vì lời hứa bắt buộc mà y phải làm đúng theo nên vẻ mặt y rất rầu rĩ.

Thuý Sơn liền đáp:

– Hậu sinh là kẻ hậu tiến, may mắn được tiền bối khen ngợi là quí lắm rồi, còn hai chữ dạy bảo quả thật hậu sinh không bao giờ dám nghĩ tới.

Tạ Tốn lại hỏi:

– Vậy Ngũ hiệp cần tôi làm việc gì?

Thuý Sơn đáp:

– Tiền bối cứ mang con đao Ðồ Long này đi, nhưng phải tha chết cho bọn người này và bắt họ thề độc không được tiết lộ cho ai biết. Chỉ có thế thôi.

Tạ Tốn liền nói:

– Tôi không ngốc như vậy, ai tin được lời thề của chúng chứ?

Tố Tố vội nói:

– Thế ra Tạ tiền bối nói rồi lại nuốt lời. Chính tiền bối nói ai thua thì phải nghe lời người thắng, sao chưa chi tiền bối đã nuốt lời thế?

Tạ Tốn đáp:

– Tôi muốn nuốt lời hứa thì cứ nuốt. Cô nương làm gì nổi tôi nào?

Nhưng như sực nghĩ lại điều gì, y liền đổi giọng tiếp:

– Tôi xin tha tánh mạng của hai vị, còn những tên kia tôi quyết không tha đâu.

Thuý Sơn nói tiếp:

– Hai vị kiếm sĩ của phái Côn Luân đều là danh môn đệ tử xưa nay chưa làm điều gì tàn ác cả. . .

Tạ Tốn vội ngắt lời chàng:

– Cái gì ác với thiện, tôi không biết. Hai vị mau xé một miếng giẻ nhét vào tai và bịt mũi kín lại, đừng để nghe một tiếng động nào cả, như vậy mới khỏi nguy đến tính mạng.

Giọng nói của y rất khẽ hình như sợ người khác nghe thấy.

Thuý Sơn và Tố Tố đưa mắt nhìn nhau không hiểu Tạ Tốn có ý gì. Nhưng lời nói của Tạ Tốn rất thận trọng, chắc bên trong thế nào cũng có dụng ý, nên cả hai liền xé vạt áo nhét vào tai và bịt mũi ngay, và còn lấy bàn tay bịt bên ngoài nữa.

Ðột nhiên hai người thấy Tạ Tốn há mồm to tựa như đang rú, tuy hai người không nghe nhưng cũng cảm thấy khó chịu.

Thừa lúc bọn Bạch Mi Giáo đang ngơ ngác vì tiếng rú kinh khủng, Tạ Tốn thổi thuốc độc vào mặt Cự Kình Bang,Hải Sa Bang và Thần Quyền Môn. Chỉ trong giây lát, người nào người nấy vẻ mặt hình như đau đớn khó chịu, lúc sau đều ngã lăn ra đất, chân tay co quắp, lăn lộn.

Cao, Tương của phái Côn Luân thấy vậy kinh hãi vô cùng, vội ngồi xếp bằng tròn, nhắm nghiền hai mắt lại, vận dụng nội lực để chống lại tiếng rú và thuốc độc của Tạ Tốn.

Thuý Sơn thấy trán của Cao,Tương hai người, mồ hôi ròng ròng và bắp thịt trên mặt run lên từng hồi, chứng tỏ nội lực của họ không chống nổi tiếng rú và chất độc kia.

Tạ Tốn ngừng rú và thổi thuốc độc, đồng thời giơ tay ra hiệu bảo Thuý Sơn và Tố Tố buông tay và moi giẻ trong tai ra, rồi nói với hai người:

– Những người này chết giấc cả, nhưng tính mạng vẫn được an toàn. Tuy vậy sau khi thức tỉnh, thần kinh của họ sẽ bị rối loạn, không nhớ và không nói được những chuyện đã qua.

Trương ngũ hiệp bảo giờ tôi đã làm và tôi đã tha giết bọn họ ở trên Vương Bán Sơn đảo rồi đó.

Thuý Sơn lẳng lặng nghĩ thầm:

– Ngươi tuy không giết họ,nhưng những người đó sống cũng như chết, có lẽ còn thảm khốc hơn là bị giết.

Chàng thấy Tạ Tốn tàn nhẫn như vậy, trong lòng đã oán hận vô cùng. Nếu lúc đầu chàng không dùng giẻ bịt tai bịt mũi, không biết chàng sẽ ra sao, khó mà đoán biết được.

Chàng thấy bọn Cao Tắc Thành và Bạch Quy Thọ nằm chết giấc dưới đất, mặt vàng khè, trông thảm thê vô cùng.

Tạ Tốn bình thản nói:

– Chúng ta đi thôi.

Thuý Sơn hỏi:

– Ði đâu bây giờ?

Tạ Tốn đáp:

– Ði về chứ còn đi đâu nữa? Việc dương Ðao lập oai ở Vương Bàn Sơn Ðảo này đã kết thúc rồi, chúng ta ở lại đây làm gì?

Thuý Sơn và Tố Tố nhìn nhau nghĩ thầm:

– Chúng ta còn phải chung thuyền với tên ma đầu này một đêm thì trong mười hai thời giờ đó, không biết còn xảy ra bao nhiêu chuyện nữa?

Tạ Tốn đưa hai người đên một ngọn núi nhỏ ở phía Tây của đảo. Ðó là một hải cảng nhỏ, nơi ấy đã có sẵn một chiếc thuyền ba buồm. Thuyền này của y dùng để đi đến đảo.Tạ Tốn đi tới gần thuyền liền cúi chào hai người và mời:

– Mời hai vị xuống thuyền.

Tố Tố cười nhạt đáp:

– Sao lúc này Tạ tiền bối lại khách sáo thế?

Tạ Tốn đáp:

– Hai vị xuống thuyền của tôi, tất nhiên là khách quý, vậy bổn phận tôi là phải tiếp đãi tử tế.

Ba người xuống thuyền rồi, Tạ Tốn liền ra lệnh cho thuỷ thủ nhổ neo.

Trên thuyền có tất cả mười sáu, mười bẩy thuỷ thủ. Người cầm lái chỉ dùng tay ra hiệu, chớ không nói nửa lời, dường như họ đều câm cả. Tố Tố ngạc nhiên vô cùng nghĩ thầm:

– Tên này giỏi thực! Sao y lại khéo chọn thuỷ thủ đều câm và điếc như thế?

Tạ Tốn hình như đoán biết ý nghĩ của Tố Tố, liền cười nói:

– Có gì khó đâu! Tôi chỉ việc tìm một chiếc thuyền, mà những thuỷ thủ trên đó không biết chữ, rồi đục vào màng nhĩ và cho chúng uống thuốc câm.

Thuý Sơn nghe nói rùng mình kinh hãi, càng ghét hận thêm.

Trái lại Tố Tố vừa vỗ tay vừa nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Những thuỷ thủ trên thuyền đã câm và điếc lại còn mù chữ nữa, như vậy tiền bối có điều gì bí mật hẳn không sợ bị tiết lộ. Và vì tiến bối cần chúng lái thuyền, chớ không thì chắc tiền bối cũng đã đâm cho chúng mù mắt luôn.

Thuý Sơn lườm nàng một cái và khiển trách:

– Hân cô nương, cô là một thiếu nữ sao lại tàn nhẫn đến thế? Ðây là một thảm khốc nhất trần gian, thế mà cô còn cười được?

Tố Tố le lưỡi, rụt cổ, đang định lên tiếng biện bạch, nhưng nàng thấy sắc mặt Thuý Sơn giận dữ, vội dừng lại ngay.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Sau này trở về đại lục, tôi sẽ dùng kim châm cho mắt chúng mù luôn.

Thấy thuyền đã kéo buồm, Thuý Sơn liền đở lời:

– Thưa Tạ tiền bối! Thế còn những người trên đảo thì sao? Tiền bối đã phá hết thuyền bè của họ thì làm sao họ trở về đại lục được?

Tạ Tốn đáp:

– Trương ngũ hiệp là người rất tốt, nhưng phải cái đa sự. Ta cứ để cho chúng ở trên đảo tự sinh tự diệt có hơn không?

Thuý Sơn biết Tạ Tốn là người không thể khuyên bảo được nên đành làm thinh. Khi thuyền rời đảo chàng nghĩ thầm:

– Những người trên đảo đa số là những người tác oai tác quái, nhưng họ bị đối xử như vậy quả thực là thảm khốc, nếu không ai tới cứu, mười ngày sau họ sẽ chết hết.

Sau chàng lại nghĩ tiếp:

– Nếu hai đệ tử của phái Côn Luân chết trên đảo này, thế nào sư phụ của họ cũng đi tìm. Lúc ấy một trận phong ba trong võ lâm sẽ vì đó nổi lên .

Mấy năm gần đây, Võ Ðang thất hiệp tung hoành trên giang hồ,bất cứ việc gì họ cũng thắng thế. Thuý Sơn không ngờ hôm nay lại bị bó chân bó cẳng và tính mạng cũng nằm trong tay người.

Chàng vừa bực mình vừa tức giận, cúi đầu suy nghĩ không hề để ý đến Tố Tố và Tạ Tốn đang nói chuyện hay làm việc gì.

Lát sau tiểu đồng dọn thức ăn và rượu lên, rồi rót ba chén để lên trên bàn.

Tạ Tốn liền lên tiếng:

– Ðể tôi dạo đờn tiếp quí khách, mong Trương ngũ hiệp và Hân cô nương chỉ giáo cho.

Ðoạn y lấy cây đờn treo trên vách xuống, thử dây rồi khảy luôn.

Thuý Sơn không thạo âm nhạc, nên không hiểu Tạ Tốn khảy những gì, chàng chỉ nhận thấy tiếng đàn rất bi đát, u oán càng nghe càng thêm buồn. Nghe tới đoạn sau, chàng không sao cầm được lệ, nước mắt nhỏ dài trên hai má.

Tạ Tốn gạt năm ngón tay một cái, một tiến “keng” vang lên, tiếng đờn dứt liền, rồi gượng cười nói:

– Tôi định khảy đàn cho nhị vị được khuây khoả, ngờ đâu lại làm cho Trương tướng công sầu tư, tôi đáng phạt phải uống một chén.

Nói xong, y cầm chén rượu lên uống cạn. Thuý Sơn liền hỏi:

– Chẳng hay khúc đầu của Tạ tiền bối vừa khảy đó là khúc nhạc gì? Xin chỉ giáo cho tại hạ rõ.

Tạ Tốn đưa mắt nhìn Tố Tố, hình như muốn nàng trả lời hộ, nhưng y thấy Tố Tố lắc đầu tỏ vẻ không biết liền trả lời Thuý Sơn rằng:

– Khúc nhạc này là Kê Khang đời nhà Tấn, lúc Kê Khang sắp chết chém đã đờn bản nhạc này.

Thuý Sơn kinh hãi hỏi tiếp:

– Bản nhạc này có phải là Quảng Lăng Tấn không?

Tạ Tốn đáp:

– Phải đấy:

Thuý Sơn lại hỏi tiếp:

– Theo lời đồn đại cuả các người xưa thì sau khi Kê Khang bị chém, khúc nhạc Quảng Lăng Tán này không ai dám đờn lại nữa, vì sao Tạ Tiền Bối lại kiếm được bản nhạc này và kiếm được ở đâu?

Tạ Tốn vừa cười vừa trả lời:

– Kê Khang là người rất có ý tứ, trong sách sử nói y là một người rất giỏi về văn chương,hay nói tới lời lẽ của Trương Tử và cũng là người rất nghĩa hiệp. Như vậy Kê Khang chẳng là người hợp tánh với Trương tướng công là gì? Lúc Chung Hội làm quan to,

?????????

Nghe nói Trương Tăng Dao vẽ rồng không điểm nhỡn. Hễ ông điểm nhỡn con mạc long nào là con ấy bay lên trời tức thì. Nhưng tôi không tin chuyện ấy có thật. Tuy vậy tướng công thử xem bút pháp của y không kém gì hai mươi bốn chữ mà tướng công đã viết trên vách đá.

Thuý Sơn liền đáp:

– Những chữ của hậu sinh viết đó xấu xí không tả, sánh sao được với cổ nhân.

Từ khi vào trong thuyền tới giờ,Tạ Tốn thuyết cổ luận kim,bình thơ thuật văn, không khác gì một nhà đại nho giả.

Thuý Sơn trong lòng rất khâm phục, nhưng hễ nghĩ đến hành vi tàn nhẫn của y thì lại ghét hận vô cùng.

Sau đó Tạ Tốn bàn với Tố Tố về chuyện Ngu Hồ Loan Hoa Thạch Hổ cả giận một cái, liền giết bằng vạn người.

Thuý Sơn không muốn nghe những chuyện ấy,liền quay mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm phong cảnh. Chàng thấy mặt trời lúc bầy giờ sắp lặn xuống dưới bể.

Ðang nhìn cảnh bỗng nhiên chàng giật mình kinh hãi nghĩ thầm:

– Tại sao mặt trời lại xuống phía sau thuyền thế?

Hồi thứ 15
Sóng Cuồng Gió Lộng

Chàng bèn quay đầu lại nhìn Tạ Tốn và hỏi:

– Tạ tiền bối có lẽ người lái đò đã sai lạc phương hướng. Thuyền của chúng ta đang đi về phía Ðông phải không?

Tạ Tốn đáp:

– Phải, tôi đã bảo y lái thuyền về phía Ðông.

Tố Tố cũng giật mình kinh hãi vội hỏi:

– Nếu đi về phía Ðông nghĩa là đi về biển cả, tiền bối đinh đưa chúng tôi đi đâu thế?

Tạ Tốn rót 1 chén rượu nhấm nháp 1 vài hớp, tỏ vẻ đắc chí rối mới ung dung trẳ lời:

– Rợu này là rượu nữ trinh, ở Triệu Hưng, cất từ hai mươi năm trước hai vị đừng tưởng là rượu mới.

Tố Tố vội hỏi;

– Tại sao tiền bối không bảo người lái thuyền quay đầu lại.

Tạ Tốn đáp:

– Khi ở trên đảo, tôi chẳng đã nói rồi là gì? Tôi lấy được thanh đao này cần phải kiếm 1 nơi yên tĩnh để nghĩ ngợi vài năm để được hiểu rõ tại sao bảo đao đó lại là võ lâm chí tôn? Tại sao trong các anh hùng thiên hạ không ai dám trái lịnh của người cầm đao? Ở trong đại lục mà nghiên cứu lỡ có ai biết tôi đã cướp được nó, tât nhiên ngày nào cũng có người đến mưu toan cướp lại thì suốt ngày cứ phải lo đối phó, tôi còn thời giờ đâu mà tĩnh tâm nghĩ ra những điều khó hiểu. Nếu Trương Tam Phong tiên sinh hay Bạch Mi giáo chủ tới cướp thì họ Tạ này chắc đâu thắng nổi họ! Vì thế tôi mới phải tìm 1 đảo hoang nào, không có vết chân người lui tới, để định cư.

Tố Tố liền nói:

– Nếu vậy tiền bối cho hai chúng tôi về trước.

Tạ Tốn vừa cười vừa nói :

– Nếu cho hai vị về tới Trung Nguyên, hành tung của tôi sẽ bị tiết lộ ngay.

Thuý Sơn đột nhiên đứng dậy quát:

– Tiền bối định đoạt như thế nào?

Tạ Tốn từ từ đáp:

– Ðành phải làm phiền hai vị một thời gian, mời hai vị ở trên đảo hoang với tôi vài năm. Khi nào tôi nghĩ ra được những bí mật của bảo đao lúc ấy ba chúng ta sẽ trở về lục địa.

Thuý Sơn lại hỏi:

– Nếu đến mười năm mà tiền bối không nghĩ thấu việc đó thì sao?

Tạ Tốn vừa cười vừa nói:

– Thì hai vị ở trên đảo này suôt thời gian đó. Nếu suôt đời tôi không nghĩ ra thì hai vị cũng phải ỏ với tôi suốt đời. Hai vị là trai tài gái sắc, tình đầu ý hợp, ở trên hoang đảo kết thành chồng vợ, sanh con đẻ cái, không tốt hay sao?

Thuý Sơn cả giận vỗ bàn quát:

– Tiền bối chớ nói bậy bạ như vậy.

Chàng vừa nói vừa nhìn Tố Tố hổ thẹn cúi đầu xuống, hai má đỏ bừng.

Thuý Sơn kinh hãi thầm tự nhủ:

– Nếu ta cứ ở gần nàng mãi, thế nào ta cũng không sao kềm lòng được. Tạ Tốn là một cường địch, Tố Tố là một cường địch tâm hồn bất định của ta cũng là một cường địch. Như vậy nguy cơ mai phục bốn bề. Ta rời khỏi đây sớm giờ phút nào hay giờ phút nấy.

Nghĩ đoạn, chàng cố nén lòng tức giận và cất tiếng nói:

– Tạ tiền bối , tại hạ xin giữ chữ tín, quyết không tiết lộ hành tung của tiền bối. Bây giờ, tạ hạ xin thề rất nặng là quyết không thổ lộ cho một người nào biết những điều gì mà mắt và tai tại hạ thấy và nghe trong ngày hôm nay.

Tạ Tốn đáp:

– Tôi vẫn biết Truơng như là hiệp nghĩa danh gia, một lời hứa đáng giá nghìn vàng và cũng nặng như Thái Sơn, trên giang hồ đã có nhiều người đồn đại như vậy rồi. Nhưng năm tôi hai mươi lăm tuổi tôi đã lập lời thề rất nặng. Ðây, như thử xem ngón tay tôi.

Nói xong, y giơ tay ra cho hai người xem. Thuý Sơn và Tạ Tốn thấy ngón tay út và ngón tay vô danh của Tạ Tốn đều bị cụt.

Tạ Tốn thản nhiên tiếp:

– Năm đó, tôi bị một người mà bình sinh tôi rất kính ngưỡng, rất yêu mến lừa dối, khiến tôi thân bại danh liệt, nhà tan cửa nát, mẹ và vợ con đều bị giết. Vì thế tôi mới chặt tay này và thề. Tôi thề từ lúc đó cho đến ngày chết, quyết không tín nhiệm một người nào. Năm nay tôi đã được bốn mươi lăm tuổi, trong hai mươi năm trời tôi chỉ làm bạn với cầm thú và tôi chỉ tin cầm thú, chứ không tin người nữa. Hai mươi năm qua , tôi không giết cầm thú mà chỉ giết người. Tôi ăn chay ăn rau cỏ, tuyệt đối không ăn thịt cầm thú. Trái lại tôi rất thích ăn thịt người.

Thuý Sơn nghe nói rùng mình:

– Thảo nào, lúc y gảy khúc Quảng Lăng Tán, tiếng đàn nghe bi đát đến thế và y có võ công tuyệt thế như vậy mà trên giang hồ này không ai biết tới tên tuổi y. chắc hai mươi năm trước y đã gặp một việc rất thê thảm nên bây giờ y mới chán ghét người đời như vậy.

Chàng thấy Tạ Tốn tàn nhẫn mà sanh lòng oán ghét, nhưng bây giờ chàng thấy Tạ Tốn kể rõ như vậy, bỗng sanh lòng thông cảm và thương hại. Chàng ngẫm nghĩ giây lát , liền lên tiếng hỏi:

– Tạ tiền bối bấy nhiêu lâu chắc tiền bối đã trả được mối thâm thù đại hận rồi phải không?

Tạ Tốn đáp:

– Chưa! Kẻ thù của tôi là người võ công rất cao, tôi vẫn còn kém y.

Thuý Sơn và Tố Tố không hẹn mà nên, cùng đồng thanh kêu ủa một tiếng và nói:

– Người đó là ai? Y lại giỏi hơn tiền bối ?

Tạ Tốn đáp:

– Việc GÌ tôi phải nói lên tên họ của y ra cho hai vị biết, để mà mang nhục vào thân? Nếu không vì mối thâm thù đại hận này, việc gì tôi phải mất công đi cướp thanh bảo đao Ðồ Long? Việc gì tôi phải khổ tâm để nghĩ ngợi những bí mật của bảo dao đó? Nàng không hiểu tai sao tôi vừa gặp như đã mến ngay, cứ theo tính nết ngày thường của tôi tôi quyết không để cho hai vị sống tới bây giờ, và không sống thêm vài năm nữa. Tại sao tôi lại phá thuờng lệ như thế?

Có lẽ là số trời run rủi cũng nên.

Tố Tố vội hỏi;

– Sao lại sống thêm vài năm nữa?

Tạ Tốn lạnh lùng đáp:

– Chờ khi nào tôi thấu rõ được những bí mật trong thanh dao, và sắp rời khỏi hoang đảo là tôi sẽ giết hai vị. Tôi nghĩ muộn ngày nào, hai vị được sống thêm một ngày.

Tạ Tốn liền đỡ lời:

– Hừ, con dao này chỉ nặng nề, sắc bén, lửa đốt không cháy, chớ có bí mật gì đâu? Còn câu hiệu lịnh mà thiên hạ nói rằng ai cũng phải tuân theo chỉ ý nói con dao này có thể xưng vương xưng bá với tất cả các vũ khí trong thiên hạ thôi.

Tạ Tốn thở dài đáp:

– Nếu quả thật như vậy, chúng ta sẽ sống trên hoang đảo suốt đời mất.

Nói tới đó, y đột nhiên tỏ vẻ rầu rỉ và thất vọng. Sỡ dĩ y có thái độ ấy là vì y cho rằng nếu mấy câu đó giản dị như lời giải của Tố Tố vừa rồi, thì y sẽ không còn hy vọng trả thù được nữa.

Thuý Sơn thấy thần sắc Tạ Tốn biến đổi như vây, định lên tiếng an ủi vài lời. Ngờ đâu Tạ Tốn đột nhiên thổi tắt ngọn nến và nói:

– Ði ngủ đi!

Tốï Tố quần áo mỏng mảnh, chịu không nổi gió lạnh ngoài khoang thổi vào, mình mẩy chân tay run lẩy bẩy. Thấy vậy, Thuý Sơn bèn khẽ hỏi:

– Hân cô nương thấy lạnh phải không?

Tố Tố giọng run run đáp:

– Em còn chịu nổi, không sao .

Thuý Sơn cởi cái áo dài ra đưa cho nàng và nói:

– Cô nương lấy cái áo này mặc cho đỡ lạnh.

Cảm động vô cùng, Tố Tố đáp:

– Khỏi cần, anh không thấy lạnh sao?

Thuý Sơn trả lời

– Tôi không sợ lạnh.

Tố Tố đỡ cái áo của chàng và phủ luôn lên vai. Nàng thấy trong áo có hơi ấm của chàng

(thiếu hai trang)

Tựa vào vai mình, mùi thơm nhẹ nhàng bay lên đưa tận mũi.

Chàng đang định nói vơi nàng mấy lời ân ái, nhưng sực nghĩ: “Kẻ địch trước mắt sao ta không cầm lòng được? Chẳng lẽ ta đã quên hét những lời dặn của ân sư hay sao? Dù nàng với ta có yêu nhau thật, nàng là ân nhân của Dư Tam ca ta thật nhưng nàng xuất thân từ tà giáo, hành vi không được chánh đáng, vậy ta cần thưa cùng ân sư hay rõ là phải được ân sư cho phép nhờ người làm mai mối đưa sính lễ, cưới hỏi đường hoàng. Chớ ta không nên ở trong bóng tối nghĩ những trò nhơ nhuốc ấy” .

Nghĩ tói đó, chàng liền ngồi phắt dậy khẽ nói với Tố Tố:

– Bây giờ chúng ta cần phải hạ kẻ địch mới mong thoát thân.

Tiếng đang say mê đắm đuối trong bể tình, bỗng nghe chàng nói, ngẩn người ra và nói:

– Sao cơ.

Thuý Sơn trả lời:

– Dù chúng ta ở trong hoàn cảnh ngặt nghèo, nhưng cũng phải hành sự một cách quang minh chính đại. Nhân lúc y ngủ say mà ra tay tấn công lén thì không phải là hành vi của một đấng đại trượng phu. Ðể anh đánh thức y dậy, rồi tỷ thí chưởng lực với y một phen. Lúc ấy em dùng kim châm bắn vào yếu huyệt của hắn. Chúng ta hai địch một dù có đắc thắng cũng không hay ho gì, nhưng võ công của chúng ta đối với y hơn kém quá xa, chúng ta đành phải hai đấu một vậy.

Lời nói của chàng nhỏ như tiếng muỗi vo ve, và chàng lại kê miệng sát tận tai nàng mà nói, ngờ đâu Tố Tố chưa kịp trả lời thì Tạ Tốn đang ở khoang sau, bỗng ha hả cười và lên tiếng:

– Các người giở trò đánh lén thì Tạ Tốn này tuy không bị các người hạ sát, nhưng các người cũng còn có hy vọng thắng. Chớ hai người mà đòi đương đầu một cách quanh minh chính đại để bảo tồn hiệp nghĩa môn phong của danh môn chính phái, tức là tự rước lấy cái khổ vào thân thôi.

Y nói vừa dứt lời, đã lanh lẹ lướt tới trước mặt Thuý Sơn nhắm ngực chàng đánh luôn một chưởng.

Trong lúc y nói chuyện, Thuý Sơn đã vận chân khí để hộ thân, nên khi Tạ Tốn giơ chưởng đánh lên, chàng liền giơ hữu chưởng ra dùng thế miên chưởng của sư môn mà đỡ.

Song chưởng của hai người va chạm chỉ nghe kêu “suỵt” rất khẽ.

Thuý Sơn cảm thấy ngực bị chấn động và chưởng của đối phương như bài sơn hải đảo đẹ mạnh xuống. Nhưng cánh

tay của chàng đã rút về sau tám tấc, khiến sự phòng thủ của chàng càng tiện lợi hơn. Tuy chàng biết không sao đả thương đối phương, nhưng dù Tạ Tốn vận sức chưởng như thế nào ,

nhất thời không phá nổi chưởng lực phòng thủ của chàng.

Tạ Tốn đẩy luôn ba lần chưởng lực và lấy làm lạ là chưởng của Thuý Sơn tuy yếu nhưng không suy đuối, không kiệt sức, mà chưởng lực của y càng nặng và mạnh bao nhiêu thì Thuý Sơn càng dẻo dai hơn. Lúc ấy thuyền dưới chân hai người kêu lách cách vị chịu không được sức tỷ thí của hai bên hình nh sắp gảy vậy. Nếu hai người còn tăng thêm sức

mạnh thì đáy thuyền thế nào cũng bị lủng.

Lúc ấy, Tạ Tốn giơ tả chưởng lên, nhắm đầu Thuý Sơn đè mạnh xuống.

Thuý Sơn giơ cánh tay lên dùng thế Hoàng Gia Lim Lương (xà ngang đỡ trần nhà) chống đỡ, thì cảm thấy sức mạnh âm nhu tấn công phía trước ngực của đối phương tới liên miên bất tuyệt và sức mạnh của địch ở trên đầu đè xuống nặng ngàn cân, mạnh như vũ bão.

Chàng thấy song chưởng của Tạ Tốn đồng thời phát sinh ra hai kình lực tương phản và oai mãnh khôn tả. Người có võ công như vậy quả trong đời chàng chưa nghe nói bao giờ. Cũng may võ công của Võ Ðang sở trường về liên miên và kín đáo, sức dẻo dai hơn các môn phái khác. Tuy võ công của hai người hơn kém nhau rất xa, Thuý Sơn vốn dĩ đứng ở vị trí kẻ bại nhưng chàng vẫn vận tâm pháp của sư môn ra, dùng sức đối phương làm tản mát sức đối phương, nên chỉ bốn lạng mà có thể chống đỡ nổi ngàn cân. Vì thế nhất thời Tạ Tốn không sao hạ nổi Thuý Sơn. Hai người cầm cự giây lát, Thuý Sơn mồ hôi toát ra như mưa vừa lo âu vừa nghĩ thầm: “Tại sao Hận cô nương không ra tay hại y , lúc này y đang vận toàn lực tấn công ta, nếu Hân cô nương dùng kim châm bắn bào yếu huỵet của y dù không thắng y ít nhứt cũng phải thâu tay lại chống đỡ. Chỉ cần một cơ hội mỏng manh ta sẽ phản công ngay.”

Còn Tạ Tốn cũng nghĩ y dùng song chưởng tấn công, thế nào Thuý Sơn cũng bị trọng thương ngay. Ngờ đâu Thuý Sơn tuổi tác còn trẻ mà nội công phi phàm đến thế, chịu đựng khá lâu rồi mà vẫn chưa thua . Hai người vừa đấu chưởng lực với nhau vừa để ý đến hành động của Tố Tố. Ðang lúc vận khí chống đỡ, Thuý Sơn không dám mở miệng ra nói, còn

Tạ Tốn thì vẫn ung dung như thường và hỏi:

– Cô bé kia, sao không giơ tay giơ chân ra tấn công đi? Nếu kim trâm của cô bay ra khỏi tay, tôi sẽ lập tức nhấn mạnh chưởng lực, người yêu của cô sẽ không sống được đến một giờ.

Tố Tố liền đáp:

– Tạ tiền bối, mau thâu chưởng lực lại ngay, chúng tôi bằng lòng theo tiền bối rồi.

Tạ Tốn hỏi Thuý Sơn:

– Còn Trương tướng công nghĩ sao?

Thuý Sơn lòng sổt ruột vô cùng, vẫn nghĩ thầm:”Ném phi trâm đi! Ném phi trâm đi! Dịp may duy nhất này, chỉ thoáng cái là mất liền, sao nàng để lỡ như vậy?”

Tố Tố xen lời:

– Tạ tiền bối mau thâu chưởng lại, bằng không tôi sẽ thí mạng với Tạ tiền bối ngay.

Sự thực, Tạ Tốn cũng sợ Tố Tố dùng kim trâm ném trộm. Vì khoang thuyền nhỏ hẹp, mà kim trâm lại nhỏ như sợi tơ, phát ra trong bóng tối như vô hình, không tiếng tăm, rất khó chống đỡ hay né tránh. Huống hồ hai tay y đang tấn công Thuý Sơn, nên y nghĩ thầm” “Cô bé này sợ oai ta, nên không dám ra tay. Nếu đến lúc nàng ra tay tấn công ta, có lẽ cả ba đều bị thương hết.”

Y định lên tiếng nói, nhưng Tố Tố đã lên tiếng trước:

– Sự thực tôi không có ác tâm hại tiền bối đâu.

Tạ Tốn lên tiếng:

– Cô lập thệ hộ Trương tướng công đi.

Ngẫm nghĩ giây lát, Tố Tố liền hỏi:

– Trương ngũ ca, chúng ta không phải là đối thủ của Tạ tiền bối. Chúng ta phải theo Tạ tiền bối ra hoang đảo năm sáu tháng gì đó. Với trí thông minh của Tạ tiền bối, thì nghĩ ra sự bí mật của con đao Ðồ Long không phải là chuyện khó. Vậy em lập thệ hộ anh nhé.

Thuý Sơn nghĩ thầm”Lập thệ làm quái gì, mau ném kim trâm đi”

Thấy Thuý Sơn không nói năng gì, Tố Tố liền tiếp:

– Chúng tôi Hân Tố Tố và Trương Thuý Sơn đều thề quyết chí ra đảo với Tạ tiền bối cho tới khi phát hiện sự bí mật của con dao Ðồ Long, nếu chúng tôi đem lòng phản trắc sẽ chết dưới đao kiếm.

Tạ Tốn nghe vậy vừa cười vừa nói:

– Người học võ như chúng ta, chết dưới đao kiếm không có gì lạ cả.

Tố Tố nghiến răng mím môi thề lại:

– Nếu chúng tôi giữa đường phản bội Tạ tiền bối sẽ không sống quá hai mươi tuổi. Như thế tiền bối đã mãn ý chưa?

Tạ Tốn nghe xong cười ha hả thu chưởng lại. Thuý Sơn tuy thoát được sức nặng của đối phương, nhưng đã uể oải ngồi phịch xuống ván thuyền.

Tố Tố vội quẹt lửa thắp đèn lên soi, thấy mặt Thuý Sơn nhợt nhạt không còn chút máu và hơi thở yếu ớt, thì lo âu vô cùng, hai hàng lệ từ từ tuôn dài trên má.

Tạ Tốn vừa cười vừa nói:

– Ðệ tử phái Võ Ðang quả thật danh bất hư truyền, đáng được xưng hùng xưng bá ở võ lâm Trung nguyên .

Tố Tố móc trong túi lấy khăn ra lau mồ hôi cho Thuý Sơn.

Thuý Sơn đang hận nàng bỏ lỡ dịp may, không dùng kim trâm đánh lén kẻ địch, nhưng lúc này thấy nàng hai hàng nước

mắt rơi lã chã, mặt nàng lộ vẻ lo âu, và sự quan tâm của nàng rất chân thật nên cảm động vô cùng, thở dài một tiếng, lại định an ủi nàng vài câu, bỗng trước mắt tối sầm, rồi chàng mơ mơ màng màng, hầu như bất tỉnh.

Chàng bỗng nghe Tố Tố la lớn:

– Này họ Tạ,ngươi đã làm cho Trương ngũ ca ta mỏi mệt đến chết ngất như thế này, ta phải thí mạng với ngươi một phen mới được.

Nhưng chàng bỗng nhiên nghe Tố Tố vÀ Tạ Tốn đồng thời thất thanh la lớn, trong tiếng hét của hai người có xen lẫn tiếng gió thổi, sóng nổi gió đập rất mạnh, hình như phong ba bão táp nổi lên. Chàng thấy lạnh buốt, miệng mũi đều có nước muối tràn vào, chàng đang mơ màng, bị lạnh tạt vào mặt thức tỉnh ngay.

Chàng tự hỏi:

“Có lẽ thuyền đắm”

Chàng không biết bơi, nên hãi sợ vô cùng, liền nín hơi gượng đứng dậy, thấy thân thuyền nghiêng về phía trái, nước tràn vào và chỉ nghe cuông phong thổi ào ào, hình như trời đổ đất sụp. Chàng không hiểu làm sao cả, bỗng nghe Tạ Tốn quát:

– Trương Thuý Sơn, mau ra đuôi thuyền giữ chắt lấy lái.

Tiếng quát của y như sấm động, tuy giữa cơn gió bão ào ào mà vẫn nghe ró giọng uy nghiêm.

Thuý Sơn không kịp nghĩ ngợi tung mình chạy ra phía sau thuyền, thoáng thấy thoáng thấy một bóng đen tung lên: gã lái đã bị làn sóng bạc lôi cuốn ra ngoài thuyền và bắn đi xa mấy trượng chìm xuống đáy bể .

Thuý Sơn chưa đi tới đàng lái, một làn trận sóng như bờ tường đánh ập tới, khiến những ván gỗ bay tung toé.

Chàng phải giở hết tài năng ra, hai chân đứng trên mặt thuyền, vững như đóng đinh, nhờ vậy mới khỏi bị làn sóng đó cuốn đi.

Chờ cho làn sóng qua rồi, chàng nhanh chân đi tới cạnh lái, giơ tay nắm chặt lấy chiếc lái trong khi con thuyền đang tròng trành. Chàng bỗng nghe tiếng kêu “lạc cạch”, thì ra Tạ Tốn đã múa chiếc Lang Nha Bổng đánh gảy hết cột buồm trước mũi thuyền và giữa thuyền.

Hai cột buồn đó lôi cả hai tâm buồm rơi xuống mặt biển, nhưng thế gió quá lớn, cái buồm ở phía sau thuyền không chịu nổi, chiếc thuyền vẫn lắc lư như người say rượu.

Tạ Tốn vội chạy đến định hạ nốt chiếc buồm đó. Nhưng dù võ công của y có lợi hại đến đâu trước oai lực của thiên nhiên, y cũng đành bó tay.

Y thấy hạ mãi không được tấm buồm đó, liền lớn tiếng mắng chửi:

– Lão tặc kia! Mi cứ thổi những gió quái quỉ này làm gì?

Y thấy nếu còn do dự, thì chiếc thuyền sẽ bị lật úp nên giơ tay bổng lên đánh gãy nốt.

Ba cột buồm bị đánh gãy, chiếc thuyền lênh đênh trên mặt sóng không khác gì du hồn chỉ theo gió mà phiêu lưu.

Thuý Sơn lớn tiếng gọi:

– Hân cô nương ở đâu?

Chàng gọi luôn mấy tiếng mà không nghe tiếng trả lời của Tố Tố, tiếng kêu của chàng sau cùng có xen lẫn tiếng khóc.

Ðột nhiên chàng thấy có một bàn tay nắm lấy đầu gối mình sau một làn sóng phủ qua đầu.

Liền đó có một người ôm ngang lưng chàng rồi giơ tay khẽ ôm lấy cổ chàng và khẽ nói:

– Trương ngũ ca anh nhớ em đến thế ?

Nhận đúng tiếng của Tố Tố, Thuý Sơn cả mừng, tay phải nắm chặt lấy lái, đưa tay trái ra ôm lấy ngang lưng nàng mà nói:

– Ða tạ trời đất!

Mỗi lần sóng lớn đánh tới, cái chết gần kề, Thuý Sơn lo ngại cho sự sống còn của Tố Tố hơn là của mình. Chàng vừa mừng rỡ vừa kinh hãi và nghĩ thầm: “nàng vẫn ở cạnh ta đây, có rơi xuống bể đâu!”

Tố Tố liền nói:

– Trương ngũ ca ơi, có chết thì ta cùng chết một chỗ!

Nếu gặp nhau ở cảnh ngộ tầm thường, hai người dù yêu thương nhau tới đâu cũng không thể hoà hợp với nhau một nhịp điệu nhanh như thế được. Lúc này, cả hai người ghì chặt lấy nhau, mặc dù xung quanh tối đen như mực, chiếc thuyền tròng trành như sắp bị sóng đánh vỡ hai lòng đều cảm thấy sung sướng vô cùng.

Sau khi đối chưởng với Tạ Tốn, Thuý Sơn đã mỏi mệt đến kiệt sức, nhưng giờ đây có ân tình của Tố Tố khích lệ,chàng cảm thấy tinh thần phấn khởi khởi lại, nên dù sóng to gió mạnh đến đâu, chàng vẫn lái được thuyền.

Những người chèo câm điếc đều bị sóng gió lôi cuốn, rơi cả xuống biển. Cũng may chiếc thuyền đó rất kiên cố, tuy ván và nóc thuyền đã bị sóng gió lôi cuốn đi hết mà thân thuyền vẫn trơ trơ.

Trên trời mây đen phủ kín, mưa xuống như trút bốn bề sóng nổi cao như núi. Lúc ấy ba người không sao phân biệt ra phương hướng, vả lại dù có phân biệt Nam Bắc Ðông Tây nhưng cột buồm đã gãy hét, cũng không sao lái điều kiện con thuyền theo ý muốn.

Tạ Tốn dọn dẹp đằng sau mũi xong, liền đi tới phía sau và nói:

– Chú em họ Trương tài ba thật. Bây giờ hãy nhường cho tôi cầm lái, hai người nên vào trong khoang nghỉ ngơi lấy sức. Thuý Sơn đứng dậy trao tay lái, rồi cầm tay dắt Tố Tố định bước đi vào trong khoang. Bất ngờ một con sóng to đánh tới, chàng cùng Tố Tố bị bắn

(xin lỗi, truyện thiếu hai trang)

Thuý Sơn đi ra phía sau thuyền và nói:

– Cám ơn Tạ Tiền bối đã cứu chúng tôi thoát nạn.

Tạ Tốn lạnh lùng đáp:

– Tướng công nói câu ấy hãy còn hơi sớm, vì tánh mạng của ba chúng ta chín muơi phần trăm vẫn còn trong tay lão tặc thiên kia.

Từ thuở bé đến giờ, Thuý Sơn chưa nghe ai nói tới hai chữ “tặc thiên” bao giờ, nên nghĩ thầm:” người ghét đời đến nên giận cả trời”

Rồi chàng sực nghĩ lại chiếc thuyền nhỏ này lênh đênh trên biển cả, chắc không còn hy vọng gì trở về đất liền được.

Chàng đã yêu Tố Tố, nên càng lưu luyến thời gian gấp bội. Và chàng thấy Tạ Tốn gọi trời là lão tặc thiên cũng không quá đáng.

Chàng thở dài một tiếng, rồi đỡ tay cho Tạ Tốn, cầm chặt tay lái. Cầm cự với sóng gió một đêm, Tạ Tốn cảm thấy mỏi mệt, liền vào trong khoang nghỉ ngơi.

Tố Tố ngồi cạnh Thuý Sơn , ngẩng mặt lên nhìn trăng sao trên trời. Nàng hướng về phía Bắc định tìm sao Bắc Ðẩu. Sau khi tìm kiếm thấy vì sao đó rồi, nàng mới hay thuyền đang đi về phía Bắc, liền nói với Thuý Sơn:

– Ngũ ca, thuyền của chúng ta đang đi về phía Bắc đấy.

Thuý Sơn đáp:

– Phải. Tốt hơn hết là đi về phía Tây. Về phía đó chúng ta mới có hy vọng trở về quê hương.

Tố Tố ngẩn người ra giây lát, rồi hỏi tiếp:

– Nếu thuyền này cứ thẳng về phia Ðông chúng ta sẽ di tới đâu?

Thuý Sơn liền đáp:

– Hướng Ðông là biển cả vô tận, chỉ phiêu lưu về phía đó bảy tám ngày nữa là chúng ta sẽ hết nước uống.

Tố Tố đang say đắm trong hoàn cảnh trớ trêu, không muốn nghĩ tới những chuyện xui xẻo, nàng nói với Thuý Sơn:

– Em nghe nói ở biển Ðông có một ngọn núi tiên. Trên núi có những tiên môn phái trường sinh bất tử. Chưa biết chừng chúng ta phải phiêu lưu tới núi tiên, được gặp các vị tiên đẹp đẽ.

Nói tới đó, nàng ngẩng đầu lên nhìn dải ngân hà và tiếp

– Chưa biết chừng thuyền chúng ta phiêu lưu tới dãy ngân hà cũng nên. Lúc đó chúng ta sẽ điều kiện gặp Ngưu lang Chức nữ gặp nhau trên cầu chim thước.

Thuý Sơn vừa cười vừa nói:

– Chúng ta sẽ tằng Ngưu Lang chiếc thuyền này để khi nào chàng muốn gặp chức nữ thì chèo thuyền qua ngân hà mà gặp nàng, khỏi phải đợi tới mùng bảy , một năm một lần như trước.

– Anh tặng Ngưu lang chiếc thuyền này rồi khi chúng ta muốn gặp nhau thì làm cách nào?

– Trên trời,dưới đất, nhân gian đáy biển, bất cứ ở đâu chúng ta cũng gần nhau thì chiếc thuyền này có ích lợi gì đâu?

Tố Tố cười, mặt như hoa nở, cầm tay Thuý Sơn vuốt ve hoài.

Hai người đắm đuối trong tình ý tốt đẹp, hình như có rất nhiều lời muốn nói vói nhau, là lại cảm thấy khỏi cần nói nửa lời.

Lát sau, thấy Tố Tố im lặng không nói, Thuý Sơn cúi đầu nhìn mặt nàng mới hay hai mắt nàng đang đẫm lệ, kinh ngạc vô cùng, vội hỏi:

– Em nghĩ ngợi gì thế?

Tố Tố khẽ đáp:

– Trên trời,dưới đất, nhân gian đáy biển em vẫn được gần anh, nhưng sau này khi chúng ta chết đi thì anh sẽ được lên thiên đàng, còn em phải xuống địa ngục.

Thuý Sơn an ủi:

– Em chớ nghĩ vớ vẩn như vậy.

Tố Tố thở dài một tiếng rồi tiếp:

– Em tự biết đời em làm rất nhiều điều ác, chém giết không biết bao nhiêu người vô tội, Thuý Sơn bỗng giật mình kinh hãi, cảm thấy hai người chánh tà khác xa, khó mà nên vợ nên chồng, những ngày gần đây, hai người đã yêu nhau rất khắng khít, hơn nữa, đang ở trên biển mênh mông, cửu tử nhất sinh thì nghĩ tời những điều đó làm gì, nên chàng an ủi nàng:

– Từ giờ, em biết cải tà qui thiện, tích nhiều công đức vào thì sẽ khỏi bị lo âu về tương lai.

Cổ nhân đã dạy “Thiếu mạc như chỉ qua năng cửi”

Tố Tố im lặng một hồi rồi bỗng lên tiếng khẽ hát một khúc “Tình ca” cổ.

Tạ Tốn nằm trong khoang thuyền bỗng lớn tiếng khen ngợi:

– Bài ca hay lắm. Hân cô nương còn hợp ý tôi hơn là Trương tướng công là người giả nhân giả nghĩa.

Tố Tố đáp:

– Tôi với tiền bối là người ác sau này nhận hậu quả không được tốt.

Thuý Sơn khẽ nó:

– Nếu em bị hậu quả không tôt thì anh cũng không tốt gì hơn em.

Tố Tố vừa kinh hãi vừa mừng rỡ, chỉ nói được hai tiếng:

– Ngũ ca.. Nàng không sao tiếp thêm.

Sáng hôm sau, Tạ Tốn dùng Lang Nha Bổng đánh chết một con cá 10 cân. Lang Nha Bổng đó phía đầu có gai nhọn, dùng để đánh cá có thể nói là bách phát bách trúng.

Ba người nhịn đói hai ngày, nên ăn cá sống, cũng thấy ngon vô cùng.

Trên thuyền không có nước ngọt, ba người đành phải ép nước cá ra để uống cho đỡ khát.

Thuỷ triều chảy về hướng Bắc, nên chiếc thuyền cứ trôi theo giòng nước. Hễ tới khuya, sao Bắc đẩu lại hiện ra trên mũi thuyền chiếu chói lọi. Còn ban ngày, mặt trời mọc ở bên trái và lặn ở bên phải.

10 mấy ngày liền, thuyền trôi không thay đổi phương hướng. Khí hậu càng ngày càng lạnh, nhờ có nội công tinh thâm, Tạ Tốn và Thuý Sơn còn chịu được, riêng Tố Tố không chịu đựng nổi, nên càng ngày càng tiều tuỵ. Tuy Trương Thuý Sơn và Tạ Tốn đã cởi ào ngoài ra cho nàng mặc, mà nàng vẫn còn thấy lạnh. Nàng gượng cười ra vẻ làm vui can đảm chống chọi với tiết trời, Thuý Sơn cũng phải ái ngại cho nàng. Chàng chỉ nghĩ thuyền cứ trôi về phía Bắc như thế này thì vài ngày nữa là nàng sẽ chết rét. Ngờ đâu trời không diệt người, chiếc thuyền đột nhiên trôi tới gần một đàn hải báo.

Tạ Tốn dùng Lang Nha Bổng đánh chết mấy con, rồi ba người lột da phủ lên mình.

Da hải báo quả là thứ da rất ấm, thịt lại ngon, nên ba người hoan hỉ vô cùng. Ðêm hôm sau, ba người ở mũi thuyền nói chuyện phiếm, Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Trên thế gian này, tốt nhất là loại cầm thú nào?

Rồi ba người đều khúc khích cười và cùng dáp:

– Hải báo!

Ðang lúc ấy, bỗng nghe có mấy tiếng lỏm bỏm, tiếp theo là tiếng Long cong.

Cả ba ngẩn ngời, Tạ Tốn biến sắc nói:

– Băng nổi.. Băng nổi..

Ðoạn y thọc cây Lang Nha Bổng xuống dưới nước máy cái quả nhiên va chạm những tảng băng rất cứng rắn. Ba người trong long cảm thấy giá lạnh như hàn băng.

Vì ai nấy cũng biết nếu thuyền trôi càng về phía Bắc càng gặp những tảng băng tuyết nổi lênh đênh tren mặt biển. Rồi thế nào thuyền cũng bị những tảng băng này giữ chặt, không sao trôi đi được nữa. Tới lúc đó tánh mạng ba người sẽ hết. Ðêm hôm đó, ba người chỉ nghe tiếng “long cong” của các tảng băng va vào nhau liên miên.

Sáng sớm hôm sau, ba người đã thấy những tảng băng nổi trên mặt biển to bằng cái chậu.

Tạ Tốn gượng cười nói:

– Tôi si tâm vọng tưởng, muốn nghiên cứu cho ra bí mât của thanh bảo đao Ðồ Long, không ngờ lại tới biển băng và làm người băng. Bây giờ thì danh chánh ngôn thuận, tôi đã làm băng nhân cho hai vị.

Tố Tố mặt đỏ bừng, giơ tay nắm chặt tay của Thuý Sơn .

Tạ Tốn tay cầm con dao Ðồ Long, hậm hực nói tiếp:

– Bây giờ, thà ta cho ngươi xuống Long cung sâu muôn trượng để ngươi tìm Ðồ Long mẹ của ngươi.

Y định nén con dao xuống biển nhưng y sực nghĩ lại không nỡ vứt đi, liền thở dài một tiếng , ném thanh đao vào trong khoang thuyền.

Thuyền lại trôi về phía Bắc bốn ngày nữa, những băng nổi trên mặt biển đã to như cái mặt bàn hoặc bằng căn phòng nhỏ.

Ba người biết không sao thoát khỏi nên không nghĩ đến chuyện sống chết nữa. Ðêm hôm ấy, ba người đang yên lành trong giấc ngủ thì bỗng có tiếng kêu “ùm” thật lớn, thân thuyền bị chấn động rất mạnh.

Tạ Tốn bình tĩnh vội la lớn:

– Hay lắm Hay lắm, đã va phải núi băng rồi.

Thuý Sơn và Tố Tố nhìn nhau gượng cười, rồi ôm chặt lấy nhau. Hai người cảm thấy dưới chân, nước giá buốt đang dâng lên tới bắp đùi. Hai người biết thuyền bị thủng.

Tạ Tốn lại la lớn:

– Chúng ta mau nhảy lên núi băng, sống thêm ngày nào hay ngày nấy. Lão tặc thiên muốn ta chết ngay, nhưng ta nhứt định không chịu chết vội.

Thuý Sơn va Tố Tố nhảy tới đằng mũi thuyền, thấy núi băng ở phía trước, dưới ánh sáng trăng chói lọi và đẹp vô cùng. Tạ Tốn nhảy lên trên một tảng băng ở bên rìa núi và chìa lang nha bổng ra đón hai người lên.

Hai người vừa lên được trên núi băng thì thuyền đã dần dần chìm lỉm xuống đáy biển.

Tạ Tốn trải tấm da báo trên mặt băng, rồi ba người sát cánh nhau ngồi. Núi băng đó tựa như một khoảng núi nhỏ trên lục địa, bề ngang rộng chừng 10 bảy 10 tám trượng, bề dọc chừng năm mươi trượng, rộng hơn chiếc thuyền của ba người nhiều.

Tạ Tốn ngẩng mặt lên trời rú một tiếng thật dài rồi nói:

– Ở trên thuyền chúng ta buồn chết được, bây giờ ở trên núi băng hình như thích thú lắm.

Tuy núi băng rất trơn, nhưng bước đi của Tạ Tốn vững chắc như đi trên đất bằng.

Núi băng đó cũng thuận gió mà trôi thẳng về phía Bắc, Tạ Tốn vừa cười vừa nói:

– Lão tặc thiên đã tặng chúng ta đến gặp Bắc Cực Tiên ông.

Hình như Tạ Tốn chỉ cần có người bên cạnh là đủ sung sướ¨ng, dù trời có sụp đổ đi nữa cũng không sợ hãi.

Trong ba người, chỉ có Thuý Sơn là cau mày buồn rầu vì tình cảnh trước mắt.

Núi băng lại trôi về phía Bắc bảy tám ngày nữa. Ban ngày phản chiếu ánh mặt trời da thịt của ba người bị cháy xém, đau đớn vô cùng. Vì thế, ba người lấy da hải báo phủ lên đầu nằm ngủ. Ðêm tối, ba người mới thức dậy bắt cá săn hải báo. Có một điều lạ là khi núi băng trôi về phía Bắc, ba người cảm thấy ngày dài hơn đêm nhiều.

Thuý Sơn và Tố Tố chịu không nổi hoàn cảnh ấy nên mặt mũi tiều tuỵ vô cùng. Còn Tạ Tốn thì tinh thần cũng trở nên thất thường, hai mắt tia ra những ánh sáng chói lọi. Thỉnh thoảng y lại nhìn lên trời mẵng chửi cho tới khi mỏi miệng mới thôi.

Một đêm nọ, vì ban ngày mất ngủ, Thuý Sơn đang ôm tấm da hải báo ngủ say, bỗng nghe Tố Tố kêu la:

– Buông tôi ra! Buông tôi ra!

Thuý Sơn nhảy phắt lên thì Tạ Tốn đang ôm chặt Tố Tố, mồm thở khò khè tựa như một con dã thú đang gầm gừ. Mấy ngày gần đây, Thuý Sơn thấy thái độ của Tạ Tốn thay đổi nhiều, lòng đã lo ngại, nhưng chàng không ngờ một võ lâm tiền bối như y mà lại giở trò phi lễ với một thiếu nữ!

Chàng vừa kinh hãi vừa tức giạn, tung mình nhảy tới quát:

– Có chịu buông ra không?

Tạ Tốn vừa cười vừa đáp:

– Dù sao chúng ta cũng phải chết, hà tất phải nói tới lễ phép quái gì? Trên lục địa, họ Tạ đã không tin cái trò lễ nghĩa liêm sĩ đói lừa người ấy, huống hồ ngày nay.

Thuý Sơn lên tiếng:

– Nếu tiền bối không buông tay, tôi thí mạng với tiền bối ngay.

Tạ Tốn cười nhạt hỏi lại:

– Nàng là người thế nào của ngươi, ai khiến ngươi dính tới việc này?

Y vừa nói hai tay vừa ghì chặt thêm. Thuý Sơn hậm hực đáp:

– Nàng là vợ tôi, tôi là chồng nàng. Tạ tiền bối nên rõ đại trượng phu lúc sống phải quang minh, lúc chết mới được thảnh thơi. Tuy trên núi băng này không có người thứ tư rõ biết, nhưng mình làm việc đê tiện phải hổ thẹn với lương tâm.

Tạ Tốn cười ha hả và đáp:

– Tại hạ xưa nay không biết cái gì là thiện ác. Ta thấy Hân cô nương đẹp như hoa nở thì chiếm đoạt cho được, dẫu ngươi là chồng của nàng, cũng phải đứng sang bên và ngoan ngoãn đứng yên đó mà nhìn. Nếu ngươi nói thêm một câu nào nữa, ta dùng chưởng đánh ngươi ngã ngay xuống dưới băng.

Thuý Sơn nghe Tạ Tốn nói như vậy, liền la lớn:

– Ðược lắm! Chúng ta cùng chết một thể!

Ðoạn chàng vạn sức và cánh tay phải, nhằm sau lưng Tạ Tốn đánh tới.

Tạ Tốn chỉ giơ tay về phía sau chống đỡ, thế mà Thuý Sơn loạng choạng lui về phía sau.

Núi băng trơn, không sao đứng vững được, chàng té ngã ngay.

Tạ Tốn lại giơ chân phải lên, nhắm lưng chàng mà đá tới.

Thuý Sơn biến thế rất lẹ, dùng tay chống mạn một cái, thân mình vọt phắt lên, bèn giở chuởng ra điểm vào các yếu huyệt ở đầu gối của đối phương. Tay chàng chưa động, Tạ Tốn đã giơ hữu chưởng lên nhắm vào đầu chàng đánh tới, tay trái thì ôm chặt lấy ngang lưng Tố Tố.

Tố Tố vội giơ hai ngón tay trái ra điểm vào yếu huyệt ở yết hầu Tạ Tốn, nhưng Tạ Tốn không thèm chống đỡ, cứ vận hết chưởng lực mà nhắm đầu Thuý Sơn đánh xuống.

Thuý Sơn giơ song chưởng lên đỡ lấy chưởng của địch, bỗng cảm thấy khó thở. Tuy trong bóng tối, Tố Tố nhắm huyệt rất trúng. Hai ngón tay của nàng điểm trúng ngay huyệt yết hầu của Tạ Tốn, ngờ đâu cổ y vừa cứng vừa dai, khiến ngón tay của nàng cảm thấy tê buốt.

Nàng kinh hãi vô cùng và nghĩ thầm: “Dù người có luyện kim chung chảo va thiết bố sam mà bị điểm huyệt cũng không chịu nổi hai ngón tay của ta. Không hiểu sao người này lại có tiềm lực đẩy bắn được ngón tay của ta ra thật võ công của lão quá kỳ lạ, bình sinh ta chưa nghe bao giờ?

Lúc ấy nàng đang bị Tạ Tốn ôm chặt tay phải bị kẹp dưới nách của y, chỉ có tay trái là được tự do. Nàng điểm huỵệt không hiệu quả bèn nhìn vào mặt Tạ Tốn thì thấy dưới ánh sáng phản chiếu của núi băng, hai mắt y đỏ như máu, như xẹt lửa vậy. Nàng sực nhớ lúc còn nhỏ theo cha vào núi săn có thấy một con hổ bị thương nặng mà vẫn cố cầm cự, hai mắt hổ lúc bấy giờ cũng giỗng mắt Tạ Tốn.

Nàng bỗng nghĩ:

“Sao lúc thường y nho nhã và lễ phép, tuy tính tình hơi quái dị một chút, nhưng dẫu sao y cũng là một kỳ nam tử văn võ song toàn. Hôm nay y đột nhiên có những cử chỉ vô lễ, có lẽ bị kích thích thái quá cũng nên.

Ðoạn nàng thấy phía Bắc có một ánh sáng ngũ sắc loé lên rất đẹp. Với giọng nhu mì, nàng khẽ nói:

– Tạ tiền bối hãy nghỉ giây lát và nhìn xem cảnh trời rất đẹp như cảnh tiên.

Tạ Tốn liền quay về phía Bắc nhìn thấy những tia sáng chói lọi nọ, bỗng rùng mình một cái, buông Tố Tố ra. Ðồng thời Thuý Sơn cũng cảm thấy chưởng lực của y giảm hẳn.

Tạ Tốn khoanh tay ra phía sau, quay người về phía Bắc, rồi leo lên cao đứng nhìn về phía có ánh sáng chói lọi, đứng ngắm nghía một hồi. Thì ra lúc này ba người đã sắp tới bắc cực rồi. Ánh sáng ngũ sắc đó là một kỳ cảnh của Bắc cực.

Tạ Tốn là người rất bác học mà cũng không biết tại sao lại có những ánh sáng đẹp như vậy.

Thuý Sơn cầm tay Tố Tố, trống ngực hai người vẫn còn đập mạnh.

Ðêm hôm đó, Tạ Tốn cứ đứng yên nhìn về phía Bắc cho tới sáng hôm sau, khi ánh sáng ngũ sắc đó lẫn khuất mới thôi.

Y có vẻ hổ thẹn với cử chỉ đêm hôm trước, nhưng y cũng không nhắc tới mà cũng không dám nhìn Tố Tố.

Lời ăn tiếng nói lại hoà nhã như trước.

Mấy ngày hôm sau, núi băng vẫn cứ trôi về phía Bắc.

Tạ Tốn luôn mồm mắng chửi trời xanh và tánh nết của y cũng điên cuồng lên.

Thỉnh thoảng hai mắt của y lại tia ra những tía sáng hung ác.

Tuy Thuý Sơn và Tố Tố không nhắc đến chuyện cũ nhưng cả hai lúc nào cũng ngấm ngầm đề phòng, chỉ sợ đột nhiên y giở thú tánh.

Một hôm, sắp tới giờ tuất, mặt trời ngừng ở phía tây, mãi mà không lặn xuống đáy biển.

Ðột nhiên Tạ Tốn tung mình nhảy lên chỉ mặt trời lên tiếng mắng chửi:

– Cả thái dương kia, mi cũng hà hiếp ta. Tắc thái dương kia, nếu ta có cung tên. Ta sẽ bắn thủng ngay.

Mắng chửi xong, y nhặt một miếng băng to bằng quả đấm, nhắm mặt trời ném liền.

Thuý Sơn và Tố Tố nhìn nhau kinh hãi và đều nghĩ thầm:

– Người này khoẻ thật, mới ném tảng băng đi xa như vậy. Nếu chúng ta thì chỉ ném được nửa đường là cùng.

Luôn một hồi, Tạ Tốn đã ném 10 mấy tảng băng mà sức ném vẫn không suy giảm chút nào.

Y thấy ném mải mà không trúng được mặt trời, lửa giận nổi lên, vừa nhảy vừa đá lung tung.

Tố Tố thấy vậy liền khuyên:

– Tạ tiền bối hãy nghỉ ngơi giây lát, giận thái dương làm gì cho mệt.

Tạ Tốn quay lại, hai mắt đỏ ngầu, nổi đầy gân máu.

Tố Tố thấy vậy kinh hãi, gượng cười một tiếng.

Tạ Tốn đột nhiên la lớn nhảy lại ôm chặt lấy nàng và quát tháo:

– Bóp chét mi! bóp chét mi!

Tố Tố hình như bị một vòng sắt xiết chặt lấy thân.

Thuý Sơn thấy vậy vội kéo tay Tạ Tốn để gỡ cho Tố Tố, nhưng không sao nhúc nhích được một ly. Chàng thấy Tố Tố đã trợn mắt lè lưỡi, sắp nghẹt thở đến nơi, liền vung quyền đánh vào thần đạo huyệt ở trên lưng Tạ Tốn một đấm. Ngờ đâu chàng cảm thấy tay mình đấm vào sắt đá.

Tạ Tốn vẫn gầm gừ như một mãnh thú, hai tay ôm chặt Tố Tố.

Thuý Sơn liền lớn tiếng nói:

– Nếu tiền bối không buông thì tại hạ sẽ dùng khí giới đối phó.

Thấy Tạ Tốn không thèm trả lời, chàng liền rút phán quan bút ra điểm vào hai yếu huyệt ở vai và khuỷ tay trái của Tạ Tốn một cái.

Tạ Tốn lợi hại thật, vì người thường bị điểm huyệt như vậy cánh tay bị phế tức thì, nhưng y chỉ cảm thấy tê tái bèn quay tay phải lại chớp luôn cây phán quan bút của Thuý Sơn mà ném ra xa.

Nhân đó Tố Tố liền chui thoát ra khỏi cánh tay của Tạ Tốn. Nhưng Tạ Tốn đã giơ tả chưởng đánh vào đầu Thuý Sơn, còn tay phải nhắm ngực của Thuý Sơn chộp tới, chỉ nghe soẹt một tiếng là miếng da hải báo trên ngực Thuý Sơn đã bị xé rách một mảnh.

Thuý Sơn tự biết nếu chàng giở khinh công ra tránh né thì Tố Tố thể nào cũng bị đối phương bắt được, nên liền giở miên chưởng ra, để rút chưởng lực của Tạ Tốn.

Ngờ đâu, bàn tay của chàng vừa đụng vào Tạ Tốn thì bị nắm chặt, không sao rút ra được.

Chàng đành vận nội lực để phản kháng nhưng chàng cảm thấy đầu óc choáng váng tâm thần bất định. Lần này là lần thứ ba, Thuý Sơn đấu chưởng lực với y mà hai lần trước tình hình không như thế này.

Có lẽ mấy ngày hôm nay vì trí óc của y rối loạn, nên có sự biết đổi lạ lùng như thế.

Tạ Tốn chế ngự được Thuý Sơn rồi, vừa lôi vừa kéo chàng đi để đuổi bắt Tố Tố.

Tố Tố vừa tung mình nhảy lên, hai chân chưa kịp xuống đất thì Tạ Tốn đã giơ chân lên đá mấy miếng băng nhỏ bay tới, trúng vào đùi bên phải của nàng. Nàng chỉ kêu được hai tiếng “ối cha” liền ngã lăn ra.

Tạ Tốn đột nhiên dùng chưởng lực đánh bắn Thuý Sơn ra ngoài xa mấy trượng. Chỗ Thuý Sơn rơi xuống ở ngay rìa núi băng, vì quá trơn nên chàng trượt chân ngã xuống biển liền.

Thuý Sơn kêu thầm “nguy tai”. Chàng vội giơ cái móc bạc bên trái ra móc vào mép núi băng, mượn thế nhảy trơ lên vừa nghĩ thầm: “Chắc lúc này Tố Tố đã lọt vào tay tên quỉ đó rồi”

Không ngờ dưới ánh sáng trăng, chàng lại thấy Tạ Tốn hai tay ôm mắt rên rỉ kêu đau, còn Tố Tố thì nằm gục dưới đất. Chàng vội chạy lại đỡ dậy. Tố Tố rỉ tai Thuý Sơn:

– Em … em đã ném mù hai mắt ..

Nàng nói chưa dứt, Tạ Tốn đã thét lên một tiếng như hổ gầm, xông ngay lại.

Thuý Sơn ôm Tố Tố lăn ra xa mấy vòng tránh né.

Hai người nghe ở chỗ vừa rồi có mấy tiếng :Lốc cốc. Thì ra Tạ Tốn đã thọc 10 ngón tay vào trong núi băng và khi đứng dậy, hai tay y đang nâng một tảng băng hơn trăm cân và y đang lắng nghe để nghe tiếng động, xem Thuý Sơn và Tố Tố ở đâu để ném tảng băng vào hai người.

Tố Tố đang định nhảy lên để tránh né Thuý Sơn đã túm lưng nàng, rồi hai người cùng núp cả vào trong cái khe núi băng không dám thở mạnh. Sau khi ném tảng băng, Tạ Tốn vẫn đứng yên lắng tai nghe hình như muốn tìm chỗ ẩn thân của hai người.

Thuý Sơn thấy hai mắt của y nhỏ những dòng máu tươi, nên biết trong lúc nguy cấp, Tố Tố đã dùng kim trâm bắn mù hai mắt y rồi. Lúc đang đam mê y không quan tâm mới phải trúng kim trâm.

Tuy vậy y vẫn linh mẫn, hễ nghe một chút tiếng đọng la nhảy xổ lại ngay.

Cũng may có tiếng sấm, tiếng gió và tiếng băng va chạm vào nhau, che lấp tiếng thở của hai người, nên y mới không biết hai người ẩn núp ở đâu.

Nếu ở trong tình hình khác có lẽ hai người không sao thoát khỏi y.

Lắng nghe giây lát, Tạ Tốn vẫn không biết chỗ của hai người ẩn núp. Y cảm thấy hai mắt đau nhức khôn tả và trước mặt chỉ thấy tối đen, y vừa cuống giận vừa sợ hãi.

Hồi thứ 16
Tiên Cảnh Cực Lạc

Tạ Tốn bỗng la lớn một tiếng, rồi cứ múa chân múa tay đánh đập lung tung, tiếng động làm váng cả tai Thuý Sơn và Tố Tố.

Hai người nằm dưới khe ôm chặt lấy nhau kinh hãi đến biến sắc vì những tảng băng lớn cứ bay qua đầu liên tiếp, tiếng kêu vù vù. Họ cũng biết nếu trúng phải một tảng băng cũng đủ tan xương nát thịt ngay.

Nhảy nhót, đấm đá lung tung một hồi, Tạ Tốn vẫn không sao biết được chỗ ẩn nấp của hai người. Thời gian đó, Thuý Sơn và Tố Tố cảm thấy dài hằng mấy năm, Tạ Tốn thấy ném mãi mà không trúng hai người, bỗng lên tiếng nói:

– Trương tướng công và Hân cô nương, vừa rồi chỉ vì nhứt thời hồ đồ mà tôi nổi tánh khùng lên, xúc pham tới hai vị, mong hai vị đừng trách.

Lời nói của y rất ôn hoà lễ phép. Thái độ của y trở lại như lúc thường. Nói xong y ngồi xuống để đợi hai người trả lời. Thuý Sơn hành động thường chú trọng đến hai chữ nhân nghĩa, nhưng chàng cũng tinh khôn vô cùng. Còn Tố Tố thì hay sử dụng quỉ kế nên trước tình thế hung hiểm này, hai người đâu dám lên tiếng trả lời.

Tạ Tốn nói luôn mấy lần như vậy không nghe hai người trả lời, bèn đứng dậy thở dài một tiếng và tiếp:

– Nếu hai vị không chịu tha thứ cho tôi, tôi cũng không còn cách gì nữa.

Nói xong y đứng lên hô hấp một hồi, Thuý Sơn sực nghĩ tới chuyện đã xảy ra trên núi Bàn Sơn Ðảo trước khi dùng tiếng rú làm cho mọi người ngây ngất chết giấc, y cũng đã hô hấp mạnh như vậy. Chàng định bảo Tố Tố xe vạt áo ra bịt tai, nhưng đã muộn rồi. Chàng không còn nghĩ ngợi gì nữa, vội kéo ngay Tố Tố rồi cùng lăn xuống dưới đáy biển.

Tố Tố chưa hiểu gì cả, định lên tiếng hỏi thì tiếng rú của Tạ Tốn đã bắt đầu vang lên. Thuý Sơn vội kéo nàng lặn xuống dưới nước, chỉ cần che được hai tai chứ không quản ngại gì đến sự giá lạnh nữa. Tay trái của Thuý Sơn vẫn cầm lấy cây móc bạc móc lấy rìa núi băng, tay phải nắm lấy tay Tố Tố. Tuy hai người đã lặn sâu xuống đáy nước mà vẫn còn nghe văng vẳng tiếng rú của Tạ Tốn. Như vậy đủ thấy tiếng rú đó lợi hại biết bao. Bui băng vẫn từ từ trôi về phía Bắc, và lôi kéo hai người theo. Thuý Sơn cũng mừng thầm, vì vừa rồi thỉ mất cây thiết bút, chứ không mất cây móc bạc, nếu không có móc bạc thì hai người đã chìm xuống đáy biển từ lâu rồi. Một lát sau, hai người lại ngửng đầu, đầu mũi và miệng ra ngoài mặt nước để hô hấp. Hai người hô hấp mấy lần như vậy, tiếng rú của Tạ Tốn mới dứt. Y rú như vậy rất hao tổn chân lực, y cũng cảm thấy mỏi mệt, nên không nghĩ gì tới sự giết chóc Thuý Sơn và Tố Tố nữa., bèn ngồi trên mặt băng mà luyện võ công để lấy lại sức lực không để ý tới hai người nữa, thấy vậy Thuý Sơn ra hịêu cho Tố Tố rồ hai người leo lên núi băng, rồi rút ít lông hải báo nhét vào lỗ tai.

Thì ra hai người vẫn còn sợ tiếng rú của Tạ Tốn, chỉ phát ra một tiếng động nhỏ thì sẽ mang hoạ vào thân ngay, nên buồn rầu nhìn nhau.

Lúc ấy tiết trời đã thay đổi hẳn, hai người không biết đã đến gần Bắc Cực, nơi đây ban ngày sáu tháng liền, rồi ban đêm suốt sáu tháng.

Tố Tố bị hơi lạnh ngấm vào tim, không sao chịu đựng nổi hai hàm răng cứ đánh bò cạp kêu cạch cạch. Ngờ đâu tiếng động khẽ như vậy mà vẫn lọt vào tai Tạ Tốn, y bèn quát lớn một tiếng rồi cầm cây lang nha bổng xông lên đánh liền. Nhưng Thuý Sơn và Tố Tố phòng bị từ trước nên vội nhảy sang bên tránh né, chỉ nghe kêu bùng một tiếng thật lớn, chiếc lang nha bổng đã đánh mạnh vào chỗ trống làm cho bảy tám tảng băng lớn bị đánh văng ra bể. Thấy sức đánh quá mạnh, Thuý Sơn và Tố Tố đều kinh hãi , nhìn nhau tỏ vẻ sợ sệt.

Tạ Tốn vẫn múa lang nha bổng xông tới tấn công hai người.

Cả hai người phải lui về phía sau tránh né, nhưng họ lụi vài bớc tới rìa sau núi băng Tố Tố kinh hãi la lớn:

– Nguy tai!

Thuý Sơn đã lẹ tay nắm lấy cánh tay của nàng nhảy luôn lên không. Hai người vẫn còn nghe tiếng kêu “bình bình” và thấy những mảnh băng vụn bắn lên, rơi vào lưng. Lúc nhảy ra khỏi nũi băng, Thuý Sơn đã nhắm một tảng băng lớn để hạ xuống.

Tạ Tốn nghe hai người đã nhảy xuống biển, bèn dùng lang nha bổng phá ít băng vụn để ném theo về phía hai người. Nhưng hai mắt y đã mù, y không thấy rõ, cứ ném một cách loạn xạ.

Thuý Sơn và Tố Tố cứ đứng trên tảng băng, mặc cho dòng nước đẩy trôi đi. Vì tảng băng đó không lớn nên trôi rất mau. Hai người càng nhìn càng thấy núi băng trên ấy có Tạ Tốn càng phút càng xa dần.

Lúc trời sắp tồi, hai người quay đầu lại thì thấy Tạ Tốn chỉ là một chấm đen nhỏ thôi. Và tảng núi băng đó vẫn toả ra những tía sáng lấp lánh.

Tảng băng chở hai người trôi không bao lâu tới một núi băng nhỏ. Cả hai người bèn dùng tay bơi đưa tảng băng đến gần núi băng đó, rồi trèo lên, Thuý Sơn gượng cười nói:

– Nếu trời không tuyệt chúng ta, tại sao lại cứ bắt chúng ta chịu khổ mãi như thế này. Thế nào, em có khoẻ không?

Tố Tố đáp:

– Chỉ tiếc chúng ta không đem theo một ít thịt hải báo để ăn cho đỡ đói. Chẳng hay cái móc bạc của anh có còn đó không?

Hai người cứ hỏi nhau mà không ai nghe ai nói gì., vì bốn lỗ tai đã nhét đầy lông hải báo.

Lúc này, hai người mới sực nhớ ra vộ moi lông hải báo ra.

Thoát khỏi nạn, hai người thấy yêu nhau hơn. Thuý Sơn nói:

– Tố Tố dù chúng ta phải chịu chết trên núi băng này, cũng không bao giờ rời nhau.

Tố Tố nói:

– Em xin hỏi Ngũ ca câu này, mong anh đừng lừa dối em. Nếu ở trên lục địa, và không trải qua đại nạn này, mà em nhứt tâm nhứt trí yêu anh, thì anh có thật yêu em không?

Thuý Sơn ngẩn người giây lát, rồi giơ hai tay gãi đầu một hồi rồi đáp:

– Anh chắc chúng ta không được âu yếm như thế này đâu. Vả lại thế nào chúng ta cũng gặp phải nhiều trở ngại, vì môn phái của chúng ta khác nhau.

Tố Tố thở dài một tiếng rồi đáp:

– Em cũng nghĩ như vậy, nên lúc ở trong thuyền, lần đầu tiên anh đấu chưởng lực với Tạ Tốn, có mấy lần em định dùng kim trâm giết chết y để giúp anh, nhưng rốt cục em vẫn không ra tay..

Thuý Sơn ngạc nhiên hỏi:

– Tại sao thế? Anh cứ tưởng ở trong bóng tối em không thấy rõ sợ ném trúng anh.

Tố Tố khẽ đáp:

– Không phải thế, vì em sợ giết chết Tạ Tốn rồi hai chúng ta sẽ về đại lục và lúc ấy anh sẽ bỏ rơi em.

Thuý Sơn khẽ gọi:

– Tố Tố!

– Có lẽ trong lòng anh vẫn còn giận em vì việc ấy?

Nhưng lúc ấy em chỉ mong được gần anh luôn. Em muốn chúng ta sẽ đi đến một hoang đảo nào đó không có bóng người, rồi chúng ta đoàn tụ ở đấy mãi mãi. Sau Tạ Tốn bắt hai chúng ta cùng đi rất hợp ý nguyện của em nên em mới lập thệ.

Thuý Sơn không ngờ Tố Tố yêu mình một cách tha thiết như vậy trong lòng rất cảm động và khẽ nói:

– Tố Tố, anh không trách gì em đâu.

Tố Tố dựa vào lòng chàng, ngửng mặt lên nhìn vào hai mắt chàng và tiếp:

– Ông xanh đưa chúng ta vào địa ngục giá lạnh này, em không oán hận chút nào, trái lại còn mừng rỡ nữa là khác. Em chỉ mong núi băng này đừng quay vể phía Nam.

A, nếu một ngày kia chúng ta có thể quay về Trung Nguyên, và nếu sư phụ anh cũng ghét em hay cha em định giết anh thì anh tính sao?

– Cha em là..

– Bạch Mi Ưng Vương Hân Thiên Chính, giáo chủ Bạch Mi Giáo.

– Em yên lòng, anh đã nói là chúng ta yêu nhau tha thiết quyết sống bên nhau trọn đời thì cha em dù hung ác tới đâu cũng không nỡ ra tay giết hại con rể của mình.

Hai mắt Tố Tố tia ra hai luồng ánh sáng, hai má đỏ bừng, bèn hỏi:

– Anh nói thật hay đùa em?

– Tố Tố, bây giờ chúng ta kết thành vợ chồng ngay.

Thế rồi hai người quì xuống vái trời, Thuý Sơn lớn tiếng khấn:

– Hoàng thiên chứng chiếu hôm nay đệ tử là Trương Thuý Sơn và Hân Tố Tố xin thề kết thành vợ chồng, hoạ phúc cùng chịu suốt đời không ai phụ ai cả.

Tố Tố cũng khấn:

– Xin trời phù hộ cho chúng con.

(Xin lỗi chuỵen thiếu bốn trang)

– Nếu đốt rừng, ngọn lửa không thể nào cao như thế được.

Thuý Sơn thở dài một tiếng rồi đáp:

– Chúng ta cứ việc lần tới đó, sông chết do số trời. Nếu trời không bắt chúng ta phải chết rét mà bắt chúng ta chết cháy thì cũng đành.

Sự thật, ngọn lửa bốc lên cao ở đó là một ngọn núi lửa gần Bắc Cực.

Thuý Sơn và Tố Tố càng trôi tới gần càng thấy nước bể nóng.

Hai người trôi thêm một ngày và một đêm nữa mới tới được chân núi lửa.

Hai người mới hay nơi đây là một cái đảo lớn, cỏ mọc xanh rì. Tại Tây bộ đảo ấy có những tảng đã lởm chởm hình thù rất quái dị .

Thuý Sơn đá đi khắp cả Trung Nguyên, nhưng chưa thấy ngọn núi nào kỳ đến thế, chàng như si cuồng, say sưa ngắm nhìn mãi. Những tảng đã lởm chởm là những phiến thạch kết tinh lâu ngày, thành những tảng đá dị hình.

Còn Ðông bộ hòn đảo là một cánh đồng mênh mông, tuy ở Bắc Cực nhưng nhờ có hơi ấm của núi lửa nên cây cỏ mọc um tùm, có những kỳ hoa dị thảo không hề thấy ở Trung Nguyên. Lại có một đàn hươu đang ăn cỏ.

Tố Tố ngắm nhìn giây lát, đột nhiên nhảy phắt lên, hai tay ôm chặt cổ Thuý Sơn và la lớn:

– Ngũ ca, chúng ta đã tới non tiên.

Thuý Sơn cũng khoan khoái vô cùng, hai mắt lim dim, sung sướng đến nối không nói nên lời. Ngoài tiếng động của núi lửa kinh người, chung quanh yên tĩnh lạ lùng không có vẻ gì là ghê rợn.

Tố Tố vội nói:

– Nguy tai! Chúng ta không thể đi tới đảo được.

Vì núi băng chổ hai người trôi tới gần đảo thì bị dòng nước ở phía đảo đẩy lui lại khiến núi băng tạt về phía Bắc.

Thuý Sơn vội dùng chưởng đánh vỡ một tảng băng lớn, đẩy xuống dưới nước, kế cả hai leo lên tảng băng đó, dùng tay bơi ngược dòng vào đảo.

Ðàn nai hoa lộc thấy người tới trợn mắt lên nhìn chớ không có vẻ gì là sợ hãi.

Tố Tố từ từ tiến đến gần, đưa tay lên vuốt lưng một con hươu mấy cái và nói:

– Nếu có thêm mấy con hạc nữa thì em bảo nơi này là Cực Lạc tiên cảnh.

Nàng vừa nói xong, thấy dưới chân mềm nhũn, liền ngã lăn ra đất. Thuý Sơn cũng thất kinh kêu to:

– Tố Tố

Thuý Sơn vừa la vừa chạy lại, định đỡ nàng dậy, ngờ đâu cũng loạng choạng mấy cái, không sao đứng vững.

Bỗng nghe có tiếng kêu ùm ùm, mặt đất rung động, thì ra núi lửa lại phun lửa.

Hai người phiêu lưu tren mặt biển mấy chục ngày, bị sóng đánh lênh đênh, khiến đầu óc lúc nào cũng như ngây ngất điên đảo.

Lúc này cả hai người lên tới mặt đất, nên bước đi không được vững, đột nhiên mặt đất lại rung động, cả hai mới cùng ngã lăn ra.

Hai người còn đang sợ hãi, sau thấy không có gì khác lạ mới tươi cười cùng đứng dậy.

Hai người đã mỏi mệt, liền nằm luôn trên bãi cỏ, ngủ vùi hơn bốn tiếng đồng hồ.

Lúc tỉnh lại vẫn thấy mặt trời chưa xuống núi. Thuý Sơn liền nói:

– chúng ta hãy tìm xem ở đây có người không, và quan sát coi có độc trùng hay mãnh thú

không?

Tố Tố đáp:

– Cứ xem đàn hươu nai hoa thuần hậu như vậy, đủ biết đảo tiên này bình yên .

Thuý Sơn tiếp lời:

– Anh cũng biết như vậy, nhưng dàu sao chúng ta cũng phải tìm bái kiến các vị tiên ông ở nơi này.

Tuy ở trên núi băng lúc nào Tố Tố cũng sửa soạn đầu tóc và quần áo chỉnh tề.

Lúc này lên đảo, nàng lại càng sửa soạn cẩn thận hơn, nàng còn chải tóc cho Thuý Sơn rồi cả hai mới cùng nhau đi tìm tiên ông.

Tuy nàng cầm thanh kiếm đã bẻ cong còn tiếng thì bẻ một cành thông để là gạy phòng khi bất trắc.

Hai người giở khinh công đi từ Nam tới Bắc, chạy một hơi được hai mươi dặm. Lúc này hai người được tung tăng trên cánh đồng mênh mông, trong lòng khoan khoái vô cùng.

Suốt dọc đường hai người chỉ thấy những đồi cao ngoài những cổ thụ cao chót vót chỉ thấy những kỳ hoa dị thảo. Thỉnh thoảng có những con chim lớn những con thú nhỏ từ trong bụi cây bay lên và chạy ra con nào con nấy có vẻ hiền lành.

Hai người chạy qua một cái rừng lớn thấy phía Tây Bắc có một ngọn núi đá, dưới chân núi có một thạch động.

Tố Tố liền hỏi

– Cảnh sắc nơi đây tuyệt đẹp.

Ðoạn nàng liền chạy lên thạch động.

Thuý Sơn liền vội khuyên can:

– Tố Tố cẩn thận một chút.

Chàng chưa nói dứt lời đã thấy một bóng trắng thấp thoáng, rồi một con gấu trắng ở trong động xông ra như một con bò mộng.

Tố Tố giật mình kinh hãi vội nhảy lùi về phía sau.

Con gấu đứng chồm dậy, đưa hai chân trước vào mặt Tố Tố. Nàng vội giơ thanh kiếm móc lên chém vào sau vai con gấu đó. Bình thường nàng vẫn sử dụng quen trường kiếm, bây giờ thanh kiếm đó đã bị bẻ cong, ngắn mất một đoạn. Trong lúc hoảng hốt, nàng không nhớ tới nên chém hụt. Trong khi nàng định chém nhát thứ hai, thì con gấu trắng đã đạp trúng thanh kiếm, thanh kiếm rơi ngay xuống đất.

Thuý Sơn vội la lên:

– Tố Tố lùi ra xa!

Chàng vừa nói vừa múa cành cây xông lên đánh ngay đầu gối con thú một cái nghe lách cách mấy tiếng, làm cành cây gãy đôi và chân con gấu cũng què liền. Con gấu trắng bị thương nặng, vừa đau vừa kêu rú lên chấn động cả sơn cốc.

Ðột nhiên tựa như một người rừng, con gấu múa nanh vuốt, xông lên vồ Thuý Sơn.

Tố Tố nhặt thanh kiếm móc, đang định tiến lên giúp đỡ.

Thuý Sơn vội la:

– Mau quăng kiếm lên không.

Tố Tố không hiểu Thuý Sơn bảo làm thế có nghĩa gì, ngơ ngác giây phút, nhưng nàng vẫn làm theo lời Thuý Sơn bảo.

Thuý Sơn bèn nhún chân nhảy lên dùng khinh công thế vân tung tung mình lên cao hơn trượng, tay trái bắt thanh kiếm, lúc ấy một tay cầm kiếm , một tay dùng gậy ngắn, chàng giở thế bí quyết chữ “Phong” ra, từ trên cao đâm bổ xuống, nhắm đầu con gấu trắng điểm tới.

Thế võ đó của chàng mạnh vô cùng, nên cành cây đâm sâu vào đầu con thú mấy tấc.

Con gấu trắng rú một tiếng kinh thiên động địa rồi lăn mấy vòng nằm ngửa trên đất chét liền.

Tố Tố vỗ tay nói:

– Khinh công đẹp quá! Bút pháp hay quá.

Nàng vừa khen xong, bỗng nghe Thuý Sơn thất kinh la lớn:

– Mau nhảy sang đây!

Tố Tố nghe giọng của Thuý Sơn có vẻ kinh hãi, không kịp hỏi lại cứ nhảy xổ tới ngã luôn vào lòng chàng rồi mới quay lại nhìn thì thấy đã có bảy con gấu trắng thật lớn đứng xếp hàng tại chỗ của nàng vừa đứng, con nào con nấy cũng đang nhe nanh múa vuốt, trông rất dễ sợ. Thì ra chúng nghe tiếng con gấu bị giết kêu rú mà tới cứu viện.

Vừa rồi Thuý Sơn giết con gấu trắng như lấy đồ trong túi, nhưng đối phó một lần bảy con không phải là dễ.

Thuý Sơn la tiếp:

– Chạy mau!

Chàng vừa nói vừa kéo Tố Tố rồi giở hết khinh công quay đầu lại chạy ngay.

Những con gấu trắng rất cục mịch nhưng chúng chạy rất lẹ. Tất nhiên dù chúng nhanh đến đâu cũng không sao bằng hai người được. Nhưng chúng vẫn không chịu buông tha hai người vãn tiếp tục đuổi theo.

Thuý Sơn nói:

– Chúng ta đành chạy ra bờ bể, chưa biết chừng phải nhảy ùm xuống nước trốn tránh là khác.

Tố Tố hỏi:

– Mấy con gấu trắng biết bơi không?

Thuý Sơn lắc đầu đáp:

– Anh không rõ lắm, chỉ mong chúng không biết bơi.

Hai người vừa nói vừa cắm đầu chạy.

Tố Tố đột nhiên la lớn:

– Nguy tai!

Thuý Sơn ngạc nhiên hỏi:

– Chuyện gì thế?

Tố Tố đáp:

– Anh có biết gấu trắng sống bằng thức ăn gì không? Hồi nhỏ em nghe một ông cụ kể cho biết gấu trắng rất thích ăn cá.

Thuý Sơn vội dừng chân lại hỏi;

– Ăn cá ?

Rồi chàng nghĩ thầm: “Nều gấu trắng thích ăn cá thì phải biết bơi, chúng ta có nhảy xuống bể cũng không thoát khỏi chúng rượt theo”

Trong lúc chàng chưa nghĩ ra được diệu kế.

Tố Tố bỗng ngạc nhiên hỏi:

– Ủa sao những con gấu ấy lại chạy ở phía trước mặt chúng ta thế này?

Nàng vừa nói xong, Thuý Sơn đã thấy sáu con gấu trắng chạy tới, chàng liền nói:

– Không phải đâu, chúng ta trước sau gì cũng bị chúng bao vây, nói tới đó, chàng thấy bên cạnh núi có một cây thông rất lớn, liền tung mình nhảy lên, hai chân móc vào cành người đu ngược xuống.

Tố Tố nhảy lên mắm hai tay chàng rồi cả hai leo lên trên ngọn, chỗ cao bảy tám trượng.

Tố Tố liền nói:

– Chỉ mong gấu trắng không biết leo cây thôi.

Thuý Sơn đáp:

– Dù chúng có biết leo cây, cũng không sợ. Chúng lên con nào, ta giết con nấy, khỏi bị bao vây như ở dưới mặt đất.

Chàng vừa nói dứt, phía đằng trước sáu con, phía đằng sau bảy con tất cả mười ba con đều qui tụ dưới gốc cây, ngẩng lên nhìn hai người, giận dữ gào thét, làm đinh tai nhức óc hai người. Hình như chúng chỉ muốn đánh chết hai người để trả thù cho con gấu bị chết mới hả dạ.

Thuý Sơn vội bẻ một cành cây sử dụng như một cây thương rồi nhắm một con gấu lao xuống, nghe bốp một tiếng, cành cây dã cắm sâu vào mắt con gấu đó.

Con gấu đau đớn gầm thét, giơ tay lên rút cành cây ra, rồi như điên như cuồng, húc vào cây thông một cái thật mạnh. Thuý Sơn bẻ cành cây thứ hai định ném xuống nữa, ngờ đâu lũ gấu trắng đã khôn ngoan hơn trước đều cúi đầu né tránh được. Cành cây của chàng ném trúng lưng của chúng không ăn thua gì cả.

Tiếp theo đó, cả mười ba con gấu trắng đều nhe nanh ra cắn gốc cây, cắn một hồi, chúng lại húc.

Thấy chúng vừa cắn vừa húc, hai người biết thế nào chỉ lát nữa thôi thế nào chúng cũng húc đổ được cây cổ thụ.

Thuý Sơn khẽ thở dài nói:

– Không ngờ vợ chồng chúng ta không chết ngoài bể, mà lại chết trong bụng đàn gấu này, thì thật oan uổng quá.

Tố Tố cúi đầu nhìn thấy dáng điệu hung hăng của mười ba con gấu trắng rất khủng khiếp, nàng sợ hãi vô cùng.

Nàng thấy cách xa chừng bảy tám trượng có một cây thông khác liền nói với Thuý Sơn:

– Ngũ ca, anh giở khinh công ra nhảy xuống đất, rồi nhảy luôn một cái lên cành cây bên kia đi!

Thuý Sơn cũng đã nghĩ tới tới nước đó rồi, nhưng chàng đã nghĩ nếu làm như vậy thì chỉ một mình chàng thoát thân được thôi, chớ không sao kèm theo Tố Tố mà nhảy sang bên kia được.

Chàng lắc đầu đáp:

– Không được! Anh không thể nhảy xa như thế .

Tố Tố lại nói:

– Anh để mặc em, cứ việc nhảy sang bên đó đi. Thà vậy còn hơn cả hai người cung chịu chết bên cây này ?

– Chúng ta đã lập thệ rồi. Dù trên trời hay dưới đất chúng ta cũng không xa nhau. Không khi nào anh để em ở bên này chịu nạn một mình.

Tố Tố nghe chàng nói, cảm động vô cùng, nước mắt trào ra, muốn khuyên chàng nữa, nhưng lời ra tới cổ họng thì tắc nghẹn. Lúc ấy thân cây rung chuyển, bầy gấu trắng đã sắp húc đổ được thân cây.

Tố Tố thất thanh la lớn.

Ngờ đâu từ đằng xa bỗng có một tiếng kêu thanh thoát vọng tới rất kỳ lạ vì đó không phải là tiếng hú mà giống như là tiếng đàn hay tiếng gió thổi vào lá tre, cũng từa tựa như tiếng khí giới va chạm nhau.

Ðàn gấu trắng nghe tiếng đó, con nào con nấy cũng run lẩy bẩy.

Thuý Sơn và Tố Tố ngạc nhiên nhìn nhau.

Tiếp theo, Tố Tố cất tiếng kêu “Cứu chúng tôi với, đàn gấu trắng đang định giết chúng tôi!” đằng xa, tiếng kia vọng lại như để trả lời, tiếng kêu đó bay tới nhanh hơn cả chim bay thoáng cái hai người đã thấy trên cây ở phía trước mặt có một con thú như trái cầu lửa nhảy sang cành nơi hai người đang đứng.

Lúc này hai người mới thấy rõ đó là một con vượn, cao chừng một thước tây, trừ bộ mặt trắng xoá như tuyết, còn lông khắp người đều đỏ hỏn.

Hai mắt con vượn vàng khè và lóng lánh thật dễ thương.

Thoạt tiên, Tố Tố thấy đàn gấu trắng hãi sợ tiếng kêu đó, nàng chắc là một quái vật hung ác hơn lũ gấu trắng đó nhiều, trong lúc vô kế khả thi, nàng kêu để dụ con vật đó tới, ngờ đâu lại là một con vượn đẹp.

Hồi thứ 17
Ngọc Diện Hoả Hầu

Nàng mừng rỡ vô cùng, liền giơ tay ra vẫy.

Con hoả hầu ở trên đảo này chưa hề gặp người bao giờ, thấy hai người tướng mạo rất đẹp, ngỡ hai người là đồng loại của nó, nên giơ tay ra vuốt tay Tố Tố.

Nàng liền chỉ đàn gấu trắng ở dưới chân và nói:

– Lũ gấu tai quái kia định căn chúng tôi, người đuổi chúng nó đi đi.

Con ngọc diện hoả hầu rất khôn ngoan, tuy không biết nghe tiếng người nhưng thấy Tố Tố chỉ trỏ là hiểu được ngay, bèn rú lên một tiếng, rồi tung mình nhảy xuống gốc cây, hai tay túm lấy đầu một con gấu, xé mạnh một cái, óc con gấu phọt ra ngay. Nó moi bọ óc của con gấu đem lên cành cây đưa cho Tố Tố, hình như mời nàng thưởng thức vậy.

Hai người thấy con ngọc diện hoả hầu chỉ giơ tay xé một cái đầu con gấu nứt ra làm đôi, đủ thấy sức mạnh và móng tay bén nhọn của nó lợi hại hơn bất cứ con mãnh thú nào. Quả thật là một thần thú hiếm có trên thế gian.

Tố Tố không dám ăn bộ óc gấu còn nóng hổi ấy, nhưng nàng sợ mích lòng con hoả hầu đành phải cầm lấy bộ óc gấu mà gượng cắn một miếng rồi đưa ngay cho Thuý Sơn. Ngờ đâu ăn vào miệng, nàng mới thấy óc gấu ngon khôn tả, ngon hơn cả óc dê óc cá nhiều.

Nàng vội cướp bộ óc mà Thuý Sơn đang ăn, vừa cười vừa nói với con hoả hầu:

– Cám ơn! Cám ơn!

Con hoả hầu lại tung mình xuống dưới gốc cây chỉ trong nháy mắt, nó đã đem được lên hai bộ óc gấu nữa, đưa một bộ cho Thuý Sơn tự ăn một bộ, có vẻ ngon lành. Có điều rất lạ là đàn gấu không dám kháng cự và cũng không dám đào tẩu, cứ nằm phục xuống đất run sợ cho con hoả hầu tha hồ giết hại.

Tố Tố thấy vậy, vừa cười vừa nói:

– Chú hoả hầu, chú giết hết lũ gấu ác ấy cho tôi . nếu chú không tới cứu có lẽ giờ đây hai chúng tôi đã bị đàn gấu này ăn thịt rồi.

Con hoả hầu vâng lời rồi nhảy xuống lần lượt giết hết 10 con gấu kia.

Lúc này Thuý Sơn với Tố Tố mới dám nhảy xuống.

Hai người cùng nghĩ: ” Trừ con hoả hầu này, dù là mãnh hổ hay sư tử thấy bấy nhiêu gấu trắng cũng phải cao bay xa chạy, chớ đâu dám vào giết chúng như giỡn chơi vậy” .

Thấy 10 ba cái xác gấu nằm la liệt dưới đất, Thuý Sơn phải động lòng thương và nói:

– Giết một cảnh cáo trăm, còn thì xua đuổi chúng đi cũng được, hà tất phải giết hết làm gì ?

Tố Tố đang mải dắt tay con hoả hầu đi, tỏ vẻ thân thiện với nó, chợt nghe Thuý Sơn trách như vậy, giật mình nghĩ thầm:” Ngũ ca không bằng long ta hạ thủ quá nhiều, vậy từ nay ta phải thay tâm đổi tánh mới được” .

Ðoạn nàng vừa cười vừa nói:

– Lúc này anh lại thương lũ gấu rồi. Nếu không có chú hoả hầu tới cứu thì chúng có thương hại chúng ta không?

Thuý Sơn đáp:

– Nếu chúng ta cũng tàn nhẫn như bầy gấu trắng thì chúng ta có khác gì chúng đâu?

Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Thú dữ có con lành. Anh xem chú hoả hầu này chẳng hạn, sức mạnh hơn anh và còn đẹp trai hơn anh nữa.

Thuý Sơn cũng cười theo:

– Ối chà, em không sợ anh ghen hay sao?

Hai người đã thoát nạn lớn và khỏi chết, nên vừa cười vừa nói đùa với nhau, thích thú vô cùng.

Ngọc diện hoả hầu cứ nhảy quanh hai người cũng tỏ vẻ vui lây.

Hình như từ lâu nó sống cô độc trên hòn đảo này nay bỗng gặp được bạn thân tới thăm.

Thuý Sơn lại nói:

– Không biết trong thạch động kia có gấu con không? Chúng ta vào thử xem.

Tố Tố bèn dắt tay con hoả hầu ỷ có nó làm hộ vệ nên cứ đi thẳng vào trong động.

Trong động rất rộng, sâu chừng tám chín trượng ở khoang giữa có một lố hổng tựa như một cái cửa sổ, ánh sáng mặt trời chiếu vào. Trong thạch động có rất nhiều phân gấu, hôi thúi vô cùng.

Tố Tố bịt mũi lại nói:

– Hang này tốt thực, phải cái hôi thúi không sao chịu được.

– Khó gì! Chúng ta cứ quét rửa sạch sẽ, chỉ năm bữa nửa tháng là hét múi hôi ngay.

Tố Tố nghĩ thầm:” Từ nay ta cũng chàng ăn ở trên đảo này, qua những ngày tháng vô cùng vô tận, cho tới chết mới thôi!” Nàng vừa mừng vừa đau lòng khôn tả.

Thuý Sơn bẻ cành cây bó thành cây chổi thật lớn bắt đầu quét phân gấu.

Tố Tố cũng giúp một tay.

Con hoả hầu tinh khôn cũng bắt chước quét dọn, nhưng càng quét càng bừa bãi thêm. Thấy nó là ân nhân đã cứu mình thoát chết, hai người để mặc cho nó phá phách thoả thích.

Quét dọn sạch sẽ, hai người vẫn còn ngửi thấy mùi hôi thối.

Tố Tố nói:

– Nếu gần đây có suối thì ta lấy nước lên rửa cho thật sạch, nhưng chúng ta làm sao có thùng mà đi lấy nước đây?

Thuý Sơn vội nói:

– Anh có cách.

Ðoạn chàng khuân mấy tảng băng lớn lên để trên đỉnh động, chổ có ánh sáng mặt trời chiếu vào.

Tố Tố thấy Thuý Sơn có sáng kiến như vậy liền vỗ tay khen ngợi :

– Hay lắm.

Những tảng băng bị ánh sáng mặt trời chiếu vào tan ra thành nước chảy xuống dưới động.

Thế là hai người đã có nước rửa sạch hang.

Tố Tố dùng kiếm xẻ thịt và mỡ gấu để thành đống.

Nơi đó, tuy có núi lửa nhưng dầu sao cũng thuộc miền Bắc Cực tiết trời vẫn giá lạnh, nên thịt để năm bảy tháng vẫn không hư.

Làm xong thịt gấu, Tố Tố thở dài một tiếng nói:

– Nếu chúng ta có một bếp lửa để thui bàn tay gấu để ăn thì ngon biết bao!

Thuý Sơn ngước nhìn ngọn núi đang phun lửa liền đáp:

– Lửa chẳng có kia là gì ? Nhưng chỉ tiếc ngọn lửa lớn quá. Dầu sao chúng ta cũng phải nghĩ ra cách đem lửa ấy về đây.

Ðêm đó hai người ăn một bữa óc gấu no nên rồi leo lên cây ngủ.

Sáng hôm sau, Tố Tố thức dậy, chưa mở hẳn hai mắt đã nói:

– Thơm quá, thơm quá.

Ðoạn nàng liền leo xuống dưới gốc cây ngửi thấy mùi thơm ở trong động xông ra bèn cùng .

Thuý Sơn dắt tay nhau vào thạch động mới hay con hoả hầu đã hái rất nhiều hoa thơm cỏ lạ đem về, chất thành đống giữa thạch động.

Lúc ấy nó đang cầm những bông hoa tung đi tung lại, nhảy nhót tỏ vẻ thích thú lắm.

Tố Tố bình sinh rất yêu hoa thơm cỏ lạ, nay bỗng thấy con hoả hầu hái về nhiều như thế , tất nhiên mừng rỡ vô cùng. Thuý Sơn nói:

– Em hãy xếp sự vui mừng đó qua một bên, anh có một việc muốn nói vói em .

Tố Tố thấy chàng có vẻ nghiêm nghị hoài nghi vô cùng liền hỏi:

– Có việc gì thế?

– Anh nghĩ ra cách lấy lửa rồi.

– Tưởng là việc gì quan trọng, vậy anh nói mau cho em nghe đi .

– Miệng hoả diệm sơn bốc lửa rất lớn, chúng ta không sao tới gần được, bây giờ chúng ta có cách là dùng vỏ cây, kết thành một sợi dây thừng lớn, phơi khô rồi đem..

Tố Tố vỗ tay khen:

– Hay lắm! Hay lắm! Rồi chúng ta cột một hòn đá vào đầu giây thừng mà tung vào miệng hoả diệm sơn, để cho lửa cháy dây, thế là chúng ta lấy được lửa ngay.

Hai người ăn thịt sống đã lâu, nên rất nóng lòng lấy được lửa. Thế rồi hai người ra tay bóc vỏ cây kết thành một sợi dây thừng dài hơn trăm trượng.

Ngày thứ tư, sợi dây đó mới thực sự khô, hai người đem cuộn dây thừng đó vể phía núi lửa.

Miệng hoả diệm sơn trông không xa mấy, nhưng hai người đi hơn bốn mươi dặm mà vẫn thấy chưa tới.

Hai người càng đi càng thấy nóng, thoạt tiên họ cởi hết áo da hải báo ra, sau cùng, chỉ còn một cái áo đơn mà vẫn còn thấy nóng. Hai người đi được hơn một dặm nữa đã thấy miệng khô mồ hôi toát ra như tắm và thấy nới ấy không có một ngọn cỏ xanh.

Thuý Sơn kê vai vác cuộn dây thừng lớn đi sau, thấy tóc của Tố Tố cũng đã bắt đầu quăn lên, trong lòng rất ái ngại và nói:

– Em đợi anh ở đây, mình anh lên được rôøi.

Tố Tố nũng nịu đáp:

– Anh nói như thế nữa, em không chịu đâu! Thà suốt đời ăn thịt sống chớ không khi nào em để anh một mình mạo hiểm đi lấy lửa như vậy.

Thuý Sơn mỉm cười, rồi hai người tiếp tục đi hơn một dặm nữa.

Lúc này cả hai đều thở hông hộc như bò rống.

Tuy nội công rất tinh thâm, Thuý Sơn cũng cảm thấy hoa mắt đầu óc choáng váng.

Chàng vội nói:

– Thôi chúng ta hãy ngừng lại ở đây và cố hết sức tung dây thừng lên, nếu không tung được thì cũng đành vậy.

Tố Tố liền xen lời:

– Nếu không lấy được lửa, thì chúng ta sẽ làm người rừng ăn lông ở lỗ vậy, chớ biết phải làm sao bây giờ.

Nói tới đây nàng đã loạng choạng suýt ngã vội bám lấy Thuý Sơn, đứng vững lại được.

Thuý Sơn lượm một hòn đá, cột vào đầu dây thừng rồi nín hơn cố sức chạy mấy trượng vội quát lớn một tiếng:

– Ði!

Tuy sợi dây thừng đó dài trăm trượng nhưng vẫn còn cách miệng hoả diệm sơn khá xa.

Hai người đứng đợi chờ mãi mà không thấy sợi dây đó bốc cháy.

Hai người chờ một lúc lâu đã thấy hai măt nóng như bị thiêu.

Thuý Sơn thở dài một tiếng và nói:

– Phương pháp lấy lửa này đã thất bại. Chúng ta đành phải rút lui va theo phương pháp của cổ nhân , dùi cay hay đánh đá để lấy lửa vậy.

Tố Tố cũng nản chí vô cùng, bèn đứng dậy, đang định gọi con hoả hầu quay về, nhưng nàng thấy con hoả hầu đó đang bắt chước Thuý Sơn nhặt đá ném lên trên ngọn núi lửa có càng ném càng thích thú và không có vẻ gì sợ nóng cả.

Nàng sực nghĩ một điều: ” Có lẽ con hoả hầu này chịu được sức nóng của núi lửa chăng ?”

Ðoạn nàng gọi:

– Chú hoả hầu ơi, chú có thể đem sơiï dậy thừng này lên trên miệng núi châm lửa cháy lên không?

Nàng vừa nói vừa đưa tay ra dấu cho con hoả hầu làm theo. Nàng làm hiệu như vậy ba lần con hoả hầu hiểu ý cầm sợi dây chạy lên một mạch lên trên miệng núi lửa.

Con hoả hầu đi rồi, hai người lai hối hận chỉ sợ nó không biết gì tới gần lửa quá sẽ bị chết cháy nên Tố Tố đã vội gọi lớn:

– Chú hoả hầu ơi, mau quay trở lại.

Nàng vừa kêu xong, đã thấy đầu sợi dây thừng bốc khói và con hoả hầu đang kéo sợi dây thừng bốc lửa đó quay trở lại. Trước sau không đầy nửa tiếng đồng hồ, thật là nhanh chóng vô cùng.

Tố Tố chạy lên mấy bước đón con thú ôm vào trong lòng.

Còn Thuý Sơn châm mấy bó đuốc đã đem theo sẵn vào lửa ở sợi dây thừng tiếp được lửa rồi, hai người mới để ý nhìn con hoả hầu, thấy lông của nó không bị cháy xém một sợi nào cả. Cả hai người ngạc nhiên vô cùng.

Thế rồi hai người cùng con hoả hầu vui vẻ trở về động.

Tố Tố châm lửa vào đống củi, không bao lâu đống củi đó đã cháy to khiến hang động ấm áp như giữa tiết trời xuân.

Trên thế gian này bất cứ con dã thú nào cũng rất sợ lửa, riêng con hoả hầu này lại rất thích nghịch lửa cứ lăn đi lộn lại trên đống lửa mà không bị cháy một sợi lông nào cả. Thấy vậy Thuý Sơn sực nghĩ tới xưa kia sư phụ chàng có kể một câu chuỵen tương tự như vậy bèn đem kể lại cho Tố Tố nghe:

– Sư phụ anh nói, có một thứ chuột, tên là hoả thử lông dài hơn tấc, vào lửa không việc gì người ta lấy lông của nó dệt thành vải thứ vải đó gọi là hoả hầu hoàn bố. Thứ vải này lúc dơ, lấy nước rửa không sạch phải bỏ vào lửa thiêu đốt một hồi thì sạch sẽ như mới. Anh chắc chú hoả hầu này cũng như con hoả thử vậy.

Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Khi nào chú hoả hầu rụng lông em sẽ lấy những lông đó dệt thành hoả hoan bố may cho quần áo cho anh nhưng chờ tới khi lông của chú hoả hầu rụng đủ để dệt vải cũng ít ra phải hai ba trăm năm trường. Như vậy anh phải sống lâu như vậy mới được.

Có lửa rồi, hai người nấu băng thành nước, và nướng thịt gấu ăn. Từ khi phiêu lưu trên mặt biển tới giờ, hai người chưa hề được ăn một bữa thịt chín nào cả. Lúc này được ăn một bàn tay chú gầu thui chín, cả hai cảm thấy thơm và ngon vô cùng, hai người ăn nhanh quá suýt nhai cả lưỡi.

Con hoả hầu chỉ ăn óc gấu thôi, chứ không biết ăn thịt như hai người. Ngoài ra nó phải kiếm trái cây ăn thêm.

Tối hôm đó, trong hang động mùi thơm của những bông hoa ngào ngạt, ánh sáng lửa chiếu lạp loè. Từ khi kết thành vợ chồng đến giờ, mãi tới đêm hôm đó hai người mới hưởng lạc thú của tuổi xuân.

Sáng sơm hôm sau, Thuý Sơn ra ngòài cửa động ngắm cảnh trong lòng đang thảnh thơi, thì bỗng thấy xa xa, trên những tảng đá lởm chởm có một bóng người to lớn sừng sững đang đứng sừng sững chàng nhận ra ngay là Tạ Tốn, trong lòng kinh hãi khôn tả.

Trải qua bao nhiêu giông ba bão táp, chàng với Tố Tố mới đến được hòn đảo này, tưởng sẽ được an cư lạc nghiệp nơi đây, nhưng ngờ đâu tên ma đầu ấy lại theo dõi tới đây.

Chàng vừa ngẫm nghĩ vừa đứng như một tượng đá, không hề cử động chút nào. Sau thấy Tạ Tốn đang loạng choạng đi tới, đoán chắc sau khi bị mù, không sao bắt được thú và hải báo để ăn như trước, nên y mói bị đói rét như vậy và gầy còm đến nỗi không còn hơi sức như thế kia.

Chàng thấy y đi được vài trượng, liền ngã nằm thẳng cảng ra đất.

Thuý Sơn vội chạy vào động, Tố Tố thấy chàng vào nũng nịu gọi:

– Ngũ ca, Ngũ ca.

Nàng chợt thấy sắc mặt của Thuý Sơn rất nghiêm nghị nen không dám hỏi tiếp nữa, Thuý Sơn vội hỏi:

– Tên Tạ Tốn đến rồi đấy.

Tố Tố giựt mình rồi hỏi khẽ:

– Anh đã thấy rồi ?

Nhưng nàng nhớ lại Tạ Tốn đã bị mù, long mới bớt hốt hoảng, liền hỏi tiếp:

– Chúng ta là người mắt sáng, chẳng lẽ không đối phó nổi với một tên mù sao? Huống hồ bây giờ chúng ta có thêm chú hoả hầu nứa.

Thuý Sơn gật đầu nói:

– Vì y quá đói mà y chết giấc.

Tố Tố cướp lời:

– Chúng ta tới gần đó xem sao.

Ðoạn nàng xé bốn mảnh giẻ ở tay áo ra đưa hai mảnh cho Thuý Sơn rồi cả hai nhét vào lỗ tai.

Tay cầm trướng kiếm tay dắt hoả hầu, nàng cùng Thuý Sơn ra khỏi động, tới cách chỗ Tạ Tốn chừng độ hơn bảy tám trượng.

Thuý Sơn liền lên tiếng hỏi:

– Tạ tiền bối có muốn ăn cái gì cho đỡ đói không?

Tạ Tốn đột nhiên nghe có tiếng người, mặt tỏ vẻ kinh hãi và mừng rỡ. Về sau y nhận ra tiếng của Thuý Sơn , nét mặt liền sa sầm một lát rồi y mới gật đầu.

Thuý Sơn liền ném cho y một miếng thịt gấu chớ không đến gần:

– Tạ tiền bối hãy bắt lấy.

Tạ Tốn gượng ngồi dậy theo hơi gió, giơ tay ra bắt luôn miếng thịt, rồi đưa lên miệng từ từ ăn. Thuý Sơn thấy Tạ Tốn là một đại hán hùng mạnh như rồng như hổ, nay bị đói rét đến nỗi suy nhược như thế.

Tạ Tốn ăn hết nửa miếng gấu lớn, liền nằm phục xuống đất ngủ ngay, Thuý Sơn đốt lửa cạnh đó để y khỏi bị rét và cũng để cho quần áo y mau khô.

Ngủ đến trưa hôm sau, Tạ Tốn mới thức dậy lên tiếng hỏi;

– Ðây là nơi nào?

Hai vợ chồng Thuý Sơn ngồi cạnh đó thấy y ngồi dậy và lên tiếng hỏi vội móc miếng giẻ ở tai ra để nghe, Thuý Sơn đáp:

– Ðây là một hòn đảo ở Bắc Cực, không có một bóng người.

Tạ Tốn “ủa” một tiếng,ngẩn người ra nghĩ ngợi một lát rồi tiếp:

– Như vậy chúng ta không còn hy vọng trở vể Trung Nguyên nữa phải không?

Thuý Sơn đáp:

– Còn tuỳ lòng trời quyết định.

Tạ Tốn liền lớn tiếng mắng chửi:

– Trời là cái quái gì? Cẩu thiên tặc thiên cường đạo thiên thì có!

Y luôn mồm chửi rủa, chửi chán, y lại đưa miếng thịt gấu lên ăn và hỏi:

– Hai người định đối xử với ta ra sao.

– Tạ tiền bối, vợ chồng chúng tôi.

Tạ Tốn hỏi:

– Ủa hai người thành vợ chồng rồi à?

Mặt Tố Tố đỏ bừng, nhưng có vẻ đắc chí liền đáp;

– Vạn sự nhờ Tạ tiền bối tác thành, Tạ tiền bối không khác gì ông tơ bà nguyệt chúng tôi rất cảm tạ tiền bối.

Thuý Sơn đỡ lời tiếp:

– Chúng tôi bắn mù mắt tiền bối nên bị lương tâm cắn rứt vô cùng, nhưng việc đã qua thì dù ăn năn cũng không cứu vãn được. Nếu số trời đã định chúng ta sống trên hoang đảo này và suốt đời chúng ta không có hy vọng về Trung Nguyên nữa, thì vợ chồng chúng tôi xin phụng dưỡng tiền bối mãi mãi.

Tạ Tốn gật đầu thở dài đáp:

– Ðành chịu vậy chớ biết làm sao bây giờ.

Thuý Sơn lại nói:

– Vợ chồng chúng tôi tình thâm nghĩa trọng thề cùng sinh cùng tử, nếu bịnh khùng của tiền bối tái phát mà tiền bối giết một trong hai chúng tôi thì người thứ hai sẽ phải chết theo.

Tạ Tốn vội đỡ lời :

– Theo lời Ngũ hiệp nếu hai vợ chồng Ngũ hiệp đều chết cả mà tôi lại mù, thì trên hoang đảo này cũng không sao sống được, phải không?

Thuý Sơn đáp:

– Ðúng thế!

Tạ Tốn lại tiếp:

– Bbiết vậy sao hai người còn nhét giẻ vào lỗ tai làm gì?

Thuý Sơn và Tố Tố nhìn nhau cả cười, vội lấy những mảnh giẻ trong tai ra và cũng kinh hãi nghĩ thầm:

– Người này tuy mù nhưng hai tai rất thính, nếu không phải trên đảo hoang này thì cũng chẳng cần chúng ta phụng dưỡng .

Thuý Sơn thấy Tạ Tốn là một người bác học, liền yêu cầu y đặt cho hòn đảo một cái tên.

Tạ Tốn nói:

– Hòn đảo này có những tảng đá băng từ vạn năm đến giờ và có ngọn núi lửa rất đặc biệt, vậy chúng ta gọi là “băng hoả đảo .

Từ đó trở đi, ba người an cư lạc nghiệp vói con khỉ lông vàng ở trên đảo.

Hai vợ chồng Thuý Sơn trồng trọt ở cạnh hang, lấy đất nắn bát đĩa và hấp lò, lần lần có đủ cả đồ dùng hàng ngày.

Tạ Tốn không còn cãi vã với hai người nữa, suốt ngày chỉ cầm thanh dao Ðồ Long, cúi đầu ngẫm nghĩ.

Vợ chồng Thuý Sơn thấy y tội nghiệp như vậy thỉnh thoảng cũng khuyên y đừng để ý đến sự bí mật trong bảo đao làm gì.

Nhưng Tạ Tốn trả lời:

– Tôi cũng biết tìm ra được bí mật của bảo đao cũng vô ích, vì mình phải ở mãi trên hoang đảo này. Tuy nhiên suốt ngày tôi rảnh rỗi, không biết làm gì cho hết thời gian nên mới nghĩ ngợi để tiêu khiển thôi.

Hai người nghe y nói cũng có lý nên không khuyên can nữa.

Cách hang của ba người chừng nửa dặm có một cái động nhỏ.

Thuý Sơn tốn 10 ngày quét dọn bài trí thành một căn nhà đủ tiện nghi cho Tạ Tốn ở. Thoáng cái đã mấy tháng. Vào một hôm, hai vợ chồng Thuý Sơn dắt tay nhau ra dạo chơi ở một khu rừng rậm rạp, cây cao chọc trời.

Thuý Sơn định vào bên trong dò xét nhưng con hoả hầu cứ kêu chít chít và lắc đầu hoài, hình như báo cho hai người biết là vào trong đó rất nguy hiểm.

Tố Tố có vẻ lo âu bèn nói:

– Chú hoả hầu này cản trở, vậy ta không nên vào trong đó làm gì Thuý Sơn lấy làm lạ nghĩ thầm:

– Tố Tố xưa nay là người rất tò mò, sao gần đây nàng có vẻ thẫn thờ lười biếng, không muốn dính líu tơi việc gì cả?

Nghĩ tới đó, chàng lên tiếng hỏi:

– Em có thấy khó thở không? Em có được khoẻ không?

Tố Tố xấu hổ hai má đỏ bừng khẽ đáp:

– Không sao cả!

Thuý Sơn thấy nàng có vẻ e lệ lại hỏi tiếp.

Tố Tố vừa cười vừa nói :

– Trời xanh thấy chúng ta buồn tẻ nên cho thêm một người xuống với chúng ta cho vui vẻ..

Thuý Sơn ngơ ngác một hồi rồi như chợt hiểu ra, mừng rỡ vô cùng liền hỏi:

– Em có thai phải không?

Tố Tố vội nói:

– Anh nói khẽ chứ, người ta nghe thì sao?

Nói xong cau ấy, nàng cũng phì cười, vì nơi đây chỉ có hai vợ chồng nàng thôi, có người thứ ba nào đâu mà nghe.

Tiết trời đã biết đổi, lúc bấy giờ ngày thì ngắn, đêm thì dài, khí hậu ngày càng rét mướt hơn trước nhiều.

Tố Tố càng ngày càng thấy mỏi mệt, mọi việc nấu nướng khâu vá cứ phải gượng làm.

Ðêm hôm đó, đã tới ngày khai hoa nở nhuỵ, bên đống lửa hồng, hai vợ chồng đang ngồi tựa lưng nhau trò chuyện.

Tố Tố liền nói:

– Ngũ ca thử đoán xem em sẽ sinh trai hay gái?

Thuý Sơn đáp:

– Nếu sinh gái thì thế nào cũng giống em, va sinh trai thì giống anh. Nhưng dù em sinh trai hay gái thì anh cũng vui mừng cả.

– Không em muốn con của chúng ta sẽ là trai, vậy anh hãy đặt tên cho con trước đi.

Thuý Sơn “ứ” một tiếng nhưng nghĩ mãi không ra được một cái tên nào cho thích hợp .

Tố Tố lại nói:

– Mấy hôm nay hình như anh có tâm sự gì, em thấy anh ngơ ngẩn suốt ngày.

– Có gì đâu em. Chỉ vì anh nghĩ mình sắp làm cha nên trong long vui sướng quá thành ngớ ngẩn đấy thôi.

Tuy chàng vừa cười vừa nói, nhưng Tố Tố vẫn thấy chàng có vẻ lo âu.

Tố Tố vốn là người thông minh, liền dùng giọng êm dịu hỏi:

– Có việc gì mà anh lại giấu em? Anh làm vậy em thêm lo sợ. Anh đã thấy có gì bát lợi cho chúng ta chăng?

Thuý Sơn thở dài đáp:

– Anh chỉ mong những điều lo âu đó sẽ không thành hiện thực, mấy ngày nay anh thấy Tạ tiền bối khác thương lắm.

– Em cũng thấy sắc mặt của y càng ngày càng có vẻ hung ác, hình như y sắp phát khùng lên vậy.

Thuý Sơn gật đầu ròi tiếp:

– Có lẽ y nghĩ mãi không tìm ra được sự bí mật của con dao Ðồ Long, mới đâm ra phiền não cũng nên?

Nước mắt của Tố Tố chảy dài trên má, nhưng Thuý Sơn đã trấn an nàng:

– Anh đã có kế hoạch em đừng lo, kể từ ngày mai, chúng ta dọn vào động mà ở, đào một cái hố sâu bên ngoài động, lấy lông gấu và đốt mềm phủ lên.

– Kế rất hay, nhưng hằng ngày anh phải ra ngoài săn ban, nếu bị y hành hung thì sao?

– Một mình anh thì dể đào tẩu lắm, hễ thấy tình thế hơi bất lợi là anh leo lên trên suờn núi.

Y đã mù, làm sao đuổi theo kịp anh.

Sáng sớm hôm sau, Thuý Sơn liền đào một cái hố sâu ở ngoài động vì không có cuốc xẻng chàng chỉ dùng cành cây nên tốn khá nhiều công phu và thời gian , liền trong bảy ngày mới đào được có ba trượng.

Chàng thấy Tạ Tốn càng ngày càng có vẻ khác thường, thỉnh thoảng cứ cầm con dao Ðồ Long múa tít lên.

Thấy vậy chàng cố công đào cho cái hố sâu thêm nữa, chàng định đào sâu tới năm trượng thôi, rồi chàng trồng những cây nhọn và để những mẩu đá lởm chởm ở dưới đáy hang.

Cái hố đó bên trên rộng bên dưới hẹp nếu Tạ Tốn toan xông vào động thì sa hố liền.

Ngày hôm đó, vừa ăn xong bữa trưa, Tạ Tốn cứ lẩn quẩn ở bên ngoài động, thấy vậy, Thuý Sơn không dám đào nữa, sợ y nghe tiếng sinh nghi. Nhưng chàng cũng không dám ra ngoài .

Tạ Tốn cứ luôn mồm mằn chửi trời đến chửi Ðông Hải quan âm, chửi Diêm Vương thập điện và chửi cả Tam Hoạng Ngũ Ðế, Nghiêu thuấn, không chừa một ai.

Thuý Sơn chỉ yên lặng nghe Tạ Tốn chửi, đến khi Tạ Tốn chỉ đến tên sư phụ chàng là Trương Tam Phong chàng mới nổi giận định lên tiếng cãi lại thì bỗng Tạ Tốn quát lớn một tiếng và tiếp:

– Trương Tam Phong là người không ra gì, đệ tử của y là Thuý Sơn lại càng tệ hơn, ta phải vào giết y rồi mới nói chuyện.

Ðoạn y cầm con dao lướt vào trong động, Thuý Sơn vội theo vào. Nhưng Tạ Tốn đã rơi xuống hố.

Dưới hố chưa trồng cây nhọn và đá lởm chởm nên Tạ Tốn không bị thương, chỉ giật mình kinh hãi thôi.

Thuý Sơn vội lấy hai cành cây cạnh đó , chỉ chờ Tạ Tốn vừa leo lên là chàng nhắm đầu y đánh xuống ngay.

Ngờ đâu Tạ Tốn nghe tiếng gió lẹ làng bắt được cành cây giựt mạnh một cái.

Thuý Sơn buông cành cây ra nhưng hổ khẩu tay của chàng đã nứt và gan bàn tay đá bị cành cọ sát máu tươi chảy ròng ròng. Nhưng Tạ Tốn lại té xuống hang.

Lúc ấy, Tố Tố sắp ở cữ, nàng đang đau bụng từ sáng nên nằm trong động. Thoạt tiên thấy Tạ Tốn cứ quanh quẩn ở ngoài cửa động, nàng đã biết Tạ Tốn có ý định gì rồi.

Sau nàng lại thấy Tạ Tốn xông vào và té xuống hố, Thuý Sơn dùng cành cây đánh rốt cục bị Tạ Tốn cướp mất cành cây. Trong lúc tình thế nguy cấp, Tố Tố không còn biết đau bụng nữa vội chụp thanh trường kiếm để cạnh ném cho Thuý Sơn.

Thuý Sơn bắt được thanh trường kiếm nghĩ thầm:

– Tên này võ công cao siêu hơn ta gấp bội, y còn leo lên lần nữa, nều dùng kiếm chém y thì thế nào y cũng cướp được ngay .

Nghĩ tới đó, chàng hoảng sợ, về sau đột nhien nghĩ ra một kế:

– Mắt y đã mù, sở dĩ cướp được khí giới của ta là nhờ nghe tiếng gió của khí giới.

Chàng vừa nghĩ tới đó đã nghe Tạ Tốn ha hả cười.

Chàng nhắm chỗ y sẽ nhảy lên giơ mũi kiếm để yên nơi đó mà đón. Chỉ nghe soẹt một tiếng , Tạ Tốn nhảy lên vừa quát thật to.

Thì ra mũi kiếm đã ngập vào trán y sâu chứng mấy tấc, bởi thế nhảy của Tạ Tốn rất mạnh nên mũi kiếm mới đâm vào sâu như vậy.

Tạ Tốn lại té nhào xuống hố. Nhờ biết thế lẹ nên y chỉ bị thương nặng thôi, bằng không y đã bị mũi kiếm đâm sâu vào cổ họng là chết ngay.

Thuý Sơn đứng ở miệng hố thấy thanh trường kiếm vẫn cắm ở trán Tạ Tốn, rung động không ngừng và máu tươi chảy ra rất nhiều.

Tạ Tốn rút thanh trừơng kiếm ra rồi xé vạt áo buộc vết thương lại.

Y thấy đầu óc choáng váng, cũng tự biết đã bị thương nặng, lại càng phát khùng thêm không còn đắn đo e dè gì cả, bèn rút thanh đao Ðồ Long ra giơ lên cao múa tít để bảo vệ đỉnh đầu rồi nhún mình nhảy lên lần thứ ba.

Thuý Sơn vội vàng nâng một tảng đá lớn , ném xuống liền, nhưng tảng đá đã bị thanh đao Ðồ Long gạt băng ra hai bên và Tạ Tốn đã lẹ làng thảy lên đứng trên miệng hố, rồi xông tới tấn công Thuý Sơn.

Chàng vừa lùi vừa đau lòng không tả, vì chàng đinh ninh hôm nay là ngày mà chàng cùng Tố Tố sẽ lìa dương thế về tay Tạ Tốn mà không thấy được mắt đứa con sắp chào đời.

Tạ Tốn sợ vợ chồng Thuý Sơn lén chạy qua cạnh y để ra khỏi động thì y không sao đuổi theo kịp nên tay phải cầm bảo đao, tay trái cầm trường kiếm y múa thế võ đại khái đại hợp khiến trong vòng hai trựơng vuông đều bị đao kiếm của y phong bế. Y đoán chắc hai vợ chồng Thuý Sơn không sao đào tẩu được long mừng không tả. đang lúc ấy bên trong động có tiếng khóc “oa oa” của đứa hài nhi mới ra đời vọng ra.

Tạ Tốn giật mình dừng lại lắng nghe tiếng trẻ nít khóc.

Thuý Sơn và Tố Tố biết đại nạn đã tới nên cả hai không để ý đến Tạ Tốn mà cứ chăm chăm nhìn vào đứa con mới lọt lòng mẹ, một đứa bé trai, cứ múa tay múa chân lớn tiếng gào khóc.

Hai vợ chồng Thuý Sơn nghĩ, nếu lúc này Tạ Tốn chỉ múa đao chém là cả hai vợ chồng cùng đứa con đều vong mạng.

Hai vợ chồng không nói nửa lời, cũng không nhìn đì nơi khác, vì họ thấy được hưởng thêm phút nào sung sướng đoàn tụ phút nào hay phút nấy.

Hai vợ chồng lấy làm mãn nguyện vì sự mong muốn đã thành, là trước khi nhắm mắt được thấy đứa con yêu quí chào đời.

(xin lỗi chuyện thiếu hai trang)

– Trương phu nhân nói rất phải, đời chúng ta kể như đã bỏ đi nhưng đứa trẻ này chúng ta không thể để nó sống cô quạnh và chết già trên hoang đảo này mà không được hưởng lạc thú nào của đời người. Vậy chúng ta phải nghĩ hết mưu kế và tận hết nhận lực để đưa nó về được Trung thổ mới nghe.

Tố Tố cả mừng, thân mình run rẩy, vội đứng dậy.

Thuý Sơn liền đỡ và kinh hãi nói:

– Tố Tố em hãy nằm xuống nghỉ đi.

– Không, chúng ta phải vái lạy Tạ tiền bối mấy lạy để cảm ơn tiền bối đã đối xử rất tốt với chúng ta.

Tạ Tốn vội xua tay:

– Khỏi cần! khỏi cần! Chẳng hay đã đặt tên cho đứa nhỏ này chưa?

Thuý Sơn đáp:

– Tại hạ sẽ đặt bừa cho nó cái tên Niệm Từ. Học vẫn của Tạ tiền bối uyên bác vậy tại hạ muốn tiền bối đặt tên cho nó một tên khác.

Tạ Tốn vừa ngẫm nghĩ vừa lẩm bẩm:

– Trương Niệm Từ . Trương Niệm Từ. Cái tên hay lắm, không cần phải đổi nữa.

Tố Tố sực nghĩ:

– Không ngờ quái nhân này thích con nít như vậy, nếu ý coi con ta như con y, thì chúng ta không sợ y giết hại nó.

Ðoạn nàng nói:

– Tôi yêu cầu tiền bối một việc, mong tiền bối không từ chối.

– Việc gì thế?

– Tôi mong tiền bối nhận đứa nhỏ này làm con nuôi. Sau này lớn lên nó sẽ cung phụng tiền bối như cha ruột vậy. Nếu nó được tiền bối dạy cho võ công suót đời nó sẽ không bị người hà hiếp. ngũ ca có tán thành ý kiến em không?

Thuý Sơn trả lời:

– Nên lắm! Nên lắm! Mong tiền bối chấp nhận.

Tạ Tốn rầu rĩ đáp:

– Con trai tôi bị người ta quật chết thân thể nát nhừ như một đống thịt vụn. Hai vị không được thấy đấy thôi.

Thuý Sơn và Tố Tố đưa mắt nhìn nhau vì cả hai cảm thấy lời Tạ Tốn có vẻ điên khùng, nhưng hai người lại nghĩ tới cảnh ngộ bi đát của y mà thông cảm và tỏ vẻ thương tiếc, Tạ Tốn lại tiếp:

(thiếu một trang)

Học được võ công của quái nhân đó. Phàm là cha mẹ, hễ thấy có lợi ích cho con dù phải hy sinh tất cả thì cũng vui lòng.

Nàng ẵm con lên, đưa cho Tạ Tốn và hỏi:

– Tạ tiền bối có thích ẵm nó không?

Tạ Tốn vội giơ tay ra ẵm đứa bé vao lòng, vui đến ứa nước mắt hai cánh tay run run nói:

– Phải, Trương phu nhân mau ẵm nó đi. Hình dạng tôi như thế này, nó thấy thì phải chết khiếp.

Sự thật đứa bé mới lọt lòng chưa đầy nửa ngày, đã hiểu gì đâu.

Tạ Tốn nói như vậy chứng tỏ y yêu thương đứa bé vô cùng.

Tố Tố mỉm cười và nói:

– Thương nó thì cứ ẵm thêm một chút nữa. Say này thằng bé lớn lên tiền bối sẽ đưa nó đi chơi quanh khắp các nơi kia mà.

Tạ Tốn lẩm bẩm:

– Thằng bé đã đói, phu nhân cho nói bú đi, tôi xin phép ra ngoài trong chốc lát.

Mắt y đã mù, dù Tố Tố có cho con bú trước mặt y cũng không sao. Lúc nổi khùng thì y định giở trò phi lễ, nhưng trái lại, lúc tỉnh táo y vẫn là một kể quân tử nho nhã.

Thuý Sơn xen lời:

– Tạ tiền bối.

Tạ Tốn vội ngắt lời:

– Không! Chúng ta đã là người nhà với nhau rồi thì từ nay trở đi hai vợ chồng đừng gọi tiền bối hay hậu bối lôi thôi. Bây giờ tôi có ý kiến này, chi bàng ba chúng ta kết nghĩa anh em với nhau, càng lợi cho đứa bé nhiều.

Thuý Sơn đáp:

– Tiền bối là bậc cao nhân, vợ chồng chúng tôi còn kém xa, tuy tiền bối cho phép như vậy .

Chúng tôi chỉ em không được xứng đáng đó thôi.

Tạ Tốn vội trả lời:

– Ngũ hiệp là người có học võ sao lại hủ hoá đến thế. Tôi gọi vợ chồng là Ngũ đệ và hai người gọi tôi là đại ca có được không?

Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Em gọi anh là đại ca trước, anh với em kết nghĩa anh em nếu nhà em còn gọi anh là tiền bối, em cũng là tiền bối của anh ấy vậy.

Thuý Sơn vộ đỡ lời:

(truyện thiếu 4 trang)

Lên tám tôi sẽ bắt đầu dạy cho nó thì vừa. Tôi chỉ dạy hai năm là các người có thể về Trung thổ được rồi.

Tố Tố ngạc nhiên hỏi:

– Tại sao đại ca lại bảo chúng tôi trở về Trung Thổ được rồi? Còn đại ca?

Tạ Tốn đáp:

– Mấy năm nay ngày nào tôi cũng để ý đến hướng gió và chiều nước chảy. Hình như mỗi năm cứ đến mùa đêm dài là có gió Nam thổi tới, và thổi luôn trong máy mươi đêm ngày không phá khuấy thì các người có thể về được đấy.

Tố Tố lại hỏi:

– Nhưng, không lẽ đại ca lại không đi với chúng tôi sao?

Tạ Tốn đáp:

– Tôi đã mù về Trung thổ làm gì?

Tố Tố tiếp:

– Dù đại ca không đi chúng tôi cũng quyết không để đại ca ở lại. Và thằng Vô Kỵ cũng đòi cho được cha nuôi cùng đi, để chiều chuộng nó.

Tạ Tốn thở dài một tiếng rồi đáp:

– Tôi đã thương nó 10 năm cũng đủ lắm rồi. Lúc nào lão tặc thiên cũng muốn phá khuấy tôi nếu để nó ở vói tôi lâu hơn nữa thế nào lão tặc thiên cũng giận lây rồi sẽ mang hoạ vào thân.

Tố Tố nghe Tạ Tốn nói bắt rùng mình, nhưng nàng sực nghĩ lại đó chỉ là lời bất thần thôi nên cũng không quan tâm tới nữa.

Thuý Sơn truyền dạy võ công cho con, toàn những môn căn bản luyện nội công.

Vì chàng thấy thằng nhỏ hãy còn bé, cốt sao cho nó có sức khỏe dồi dào.

Tới năm Vô Kỵ lên năm, Tố Tố bắt nó học võ.

Lúc nào dạy không để cho vợ chồng Thuý Sơn đứng cạnh xem.

Theo đúng qui củ của võ lâm, không cần Tạ Tốn lên tiếng, vợ chồng Thuý Sơn cũng phải xa lánh.

Vả lại vợ chồng Thuý Sơn cũng không bao giờ khảo sát võ công của Vô Kỵ tiến bộ ra sao, vì vợ chồng chàng rất tin tưởng Tạ Tốn.

Thời gian thấm thoát thoi đưa, thoáng cái đã hơn 10 năm kể từ khi Vô Kỵ chào đời. Trong thời gian ấy Tạ Tốn không đếm xỉa đến thanh đao Ðồ Long. Ngờ đâu một đêm ngẫu nhiên Thuý Sơn không sao ngủ được, đi ra bên ngoài tản bộ cho mát. Dưới ánh trăng, chàng thấy Tạ Tốn ngồi xếp bằng trên đất.

( thiếu hai trang)

Còn Không Kiến đại sư quả là một vị cao tăng, võ công danh khí tuy không bàng hai người sư đệ là Không Trí và Không Tính, nhưng theo nhận xét của ngu huynh , Không Trí và Không Tính còn kém Không Kiến nhiều.

Thuý Sơn thấy Tạ Tốn không kính ngưỡng một người nào không ngờ lại khen phục Không Kiến đại sư, chàng cũng ngạc nhiên và nói :

– Chắc Không Kiến đại sư ẩn cư trong chùa thanh tu, ít đi lại trên giang hồ, nên ít người biết võ công cao siêu tới mức nào.

Tạ Tốn ngẩng mặt lên trời giây lát rồi lầm bầm tự nói:

– Tiếc thay! Tiếc thay! Một vị kỳ tài cái thế của võ lâm mà bị ta đánh luôn 10 bao quyền, chết hết sức oan uổng. Võ công của đại sư cao thật nhưng không ngờ đại sư hủ hoá đến thế? Nếu lúc đó đại sư ra tay chống đỡ thì làm gì ta còn sống sót tói bây giờ.

Thuý Sơn lại hỏi:

– Chẳng lẽ võ công của vị cao tăng đó cao siêu hơn đại ca nhiều sao?

Tạ Tốn đáp:

– Ngu huynh làm sao sánh bằng! Ngay đệ tử của đại sư cũng còn giỏi hơn ngu huynh nhiều.

Thuý Sơn càng ngạc nhiên, trong lòng có vẻ không tin và nghĩ thầm:

– Ân sư ta võ học đã hãn hữu, nhnưg đem so với Tạ Tốn, chỉ hơn nữa mức là cùng. Nếu các đệ tử của Không Kiến

đại sư võ nghệ cao siêu hơn Tạ Tốn nhiều, thì chẳng hoá ra những người đó còn giỏi hơn ân sư ta hay sao?

Tạ Tốn hình như biết rõ ý nghĩ thầm kín của Thuý Sơn liền lên tiếng nói:

– Chú không tin phải không? Ðược lắm, chú hãy kêu Vô Kỵ ra đây, để ngu huynh kể cho nó nghe chuyện này.

Thuý Sơn nghĩ thầm:

– Ðêm đã khua, Vô Kỵ đã ngủ say rồi bây giờ còn gọi nó ra đây nghe chuyện, có ích lợi gì cho nó đâu.

Nhưng chàng vẫn không dám trái lời Tạ Tốn liền quay về động gọi con dậy.

Vô Kỵ nghe nghĩa phụ cho gọi mừng rỡ vô cùng, liền gọi mẹ dậy đi theo.

Thế là vợ chồng Thuý Sơn và đứa con đem đến cạnh Tạ Tốn.

Tạ Tốn dõng dạc nói:

– Vô Kỵ, không bao lâu nữa con sẽ về Trung thổ.

Vô Kỵ ngạc nhiên:

– Trung thổ là gì hả nghĩa phụ?

Tạ Tốn xua tay bảo Vô Kỵ đừng ngắt lời, rồi tiếp :

– Nếu bè gỗ của chúng ta rủi ro chìm xuống đại dương hay bị gió bão phiêu bạt, thì không nói làm gì, còn nếu về được trung thổ thì nghĩa phụ chỉ dặn con điều này : ” Lòng người đời rất thâm hiểm, trừ cha mẹ con con đừng tin ai hết. Vì ai cũng định hãm hại con đó”. Chỉ tiếc lúc cha còn nhỏ không được ai khuyên bảo như vậy. Hà ! Hà! Dù có ai khuyên cha đi nữa cũng cha chắc lúc bấy giờ cha nghe theo.

Năm cha lên 10, thì có căn duyên mà cha được làm môn hạ của một người rất có tên tuổi trên võ lâm. Sư phụ thấy cha có tư chất hơn người nên đặc biệt cưng cha và truyền dạy võ công hết cho cha. Hai thầy trò coi như cha con ruột. Ngũ đệ , này, lúc bầy giờ ngu huynh kính ái sư phụ vô bờ bến, cũng như ngũ đệ kính ngưỡng Trương tôn sư vậy. Năm hai mươi ba tuổi, ngu huynh rời khỏi sư môn, trở về vói gia đình. Không bao lâu, ngu huynh lấy vợ, sinh con. Gia đình rất âm cúng đời sống thật hạnh phúc.

Hai năm sau, sư phụ của ngu huynh qua làng, có ghé vào nhà thăm ngu huynh, ở chơi vài ngày. Ngu huynh với gia đình đều khẩn khoản tiếp đãi ân cần. Trong những lúc nhàn rỗi, sư phụ lại còn giả có đức độ trong võ lâm, nên đâu có ai ngờ y là người lòng lang dạ thú. Hôm rằm tháng bảy, sau khi rượu chè xong, sư phụ bỗng giở trò phi lễ với vợ ngu huynh.

Thuý Sơn và Tố Tố đông thời là lên kêu” ủa” một tiếng, vì chuyện vì chuyện sư phụ hãm hiếp vợ của một đệ tử chưa hề xảy ra trong võ lâm bao giờ.

Tạ Tốn nói tiếp:

– Tất nhiên vợ của ngu huynh không chịu kêu la ầm ỹ. Cha của ngu huynh nghe vội chạy vào trong phòng. Lúc ấy sư phụ thấy chuyện đã bại lộ, liền dùng quyền đánh chết cha ngu huynh , liền sau lại giết cả mẹ ngu huynh và đứa con mới được một tuổi của ngu huynh và Vô Kỵ

Vô Kỵ nghe Tạ Tốn nói tới tên mình:

– Tạ Vô Kỵ nào thế, hở nghĩa phụ?

Thuý Sơn liền mắng;

– Im! để nghĩa phụ kể tiếp cho mà nghe!

Tạ Tốn lại nói:

– Ðứa con đẻ của cha cũng có tên là Vô Kỵ như con vậy. Sư phụ ta nắm lấy tay nó quật xuống đất, nát như một đống thịt vụn.

Vô Kỵ không sao nhịn được, lên tiếng hỏi:

– Thưa nghĩa phụ, anh ấy còn sống không?

Tạ Tốn đáp:

– Bị quật như thế thì sống làm sao được?

Tố Tố ra hiệu bảo con đừng hỏi nữa.

Tạ Tốn ngẩn người giây lát rồi tiếp:

– Lúc đó trông thấy tình cảnh thảm khốc ấy, ta hoảng sợ mất hết hồn vía. Ta không biết đối phó ra sao cho phải, vì hung thủ là ân sư của ta mà bình sinh ta quí mến nhất. Ðột nhiên ông ta đấm một quyền vào ngực ta, thế là ta chết giấc đi lúc nào không hay. Tới khi tỉnh, thì sư phụ ta đã bỏ đi từ lâu, ta chỉ thấy xác chết đầy nhà!

Cha mẹ vợ con em gái em trai cùng đầy tờ tât cả 10 ba người đều bị sư phụ ta đánh chết hết.

Có lẽ sư phụ ta cũng tưởng ta đã chết nên không hạ thủ nữa.

Sau một trận ốm nặng, ta khổ luyện võ công. Năm năm sau ta đi kiếm sư phụ để báo thù, nhưng võ công của ta còn kém lại mạng nhục vào thân. Sau đó ta chu du khắp thiên hạ tìm học với các danh sư.

Quả nhiên có công mài sắt có ngày nên công, ta tiến bộ hơn trước nhiều.

Ta lại đi kiếm sư phụ để trả thù, ngờ đâu võ công của ta giỏi thật, nhưng võ công của y mạnh hơn ta nhiều. Lần đó ta lại mang thương tích mà đi về. Sau ta lại khổ công tập luyện Thất Thương quyền, ba năm sau liền đã thành công. Ta tin tưởng là có thể ngang tài với những tay đệ nhất thiên hạ, sư phụ ta quyết không địch nổi ta. Lần thứ ba ta đi tìm kiếm thì y dọn nhà đi mất, không ai hay biết. Ta đi khắp giang hồ để kiếm y, nhưng không sao tìm ra tung tích y. Ta tức giận vô cùng, liền đi tới đâu cướp bóc gian dâm giết người phóng hỏa tới đó. Mỗi khi kết liễu một vụ án ta để lại tên họ của sư phụ ta tại đó.

Thuý Sơn và Tố Tố lại kêu “ủa” một tiếng. Tạ Tốn lên tiếng hỏi:

– Ngũ đệ và hiền muội có biết sư phụ của ngu huynh không?

Tạ Tốn gật đầu đáp:

– Có phải đại ca là đệ tử Hỗn Nguyên phích lịch Thủ Thành Khôn không?

Thì ra hai năm trước đây, từ Liêu Ðông tới Lãnh Nam, trong nửa năm trời, liên tiếp xảy ra hơn ba mươi vụ, nhiều hào kiệt có tên tuổi đột nhiên bị giết một cách mờ ám, vụ nào hung thủ cũng để lại miếng giấy ghi tên Hỗn Nguyên Phích Lịch Thủ Thành Khôn. Người bị giết hại, hoặc là trưởng môn phái, hoặc là một lão anh hùng giao du rộng. Chỉ một vụ cũng đủ làm chấn động giang hồ huông hồ liên tiếp hơn ba mươi vụ.

Lúc ấy Võ Ðang Thất Hiệp thừa lệnh sư phụ xuống núi điều tra, nhưng không tìm ra manh mối.

Người trong võ lâm đều biết hung thủ cố ý gieo hoạ cho Thành Khôn vì Thành Khôn xưa nay là bạn tri kỷ của y nên ai cũng đoán hung thủ không phải là Thành Khôn nhưng không ai biết rõ là ai.

Nếu hôm nay Tạ Tốn không kể lại chuyện này thì Tố Tố và Thuý Sơn làm sao biết rõ được.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Ngu huynh mạo tên Thành Khôn đi giết người, gây ra các vụ như vậy là muốn bắt buộc y phải ra biện bạch, nhưng ngờ đâu y lại làm thinh mãi. Ðồng thời ngu huynh cũng nghĩ rằng : “Dù y có ẩn nấp nhưng một khi cả trăm cả ngàn người trong võ lâm đi kiếm thì chẳng phải có kết quả hơn một mình ngu huynh đi tìm ”

Tố Tố xen vào:

– Kế của đại ca rất hay, nhưng chỉ tội nghiệp cho những người bị đại ca giết oan mà thôi.

– Thế cha mẹ vợ con của ngu huynh bị Thành Khôn giết chẳng oan uổng sao? Vậy có ai thương tiếc đâu? Ngu huynh thấy hiền muội trước kia cũng nhanh nhẩu đấy, nhưng từ khi làm vợ Ngũ đệ tới giờ trong 10 năm tính nết đã thay đổi hẳn, suốt ngày mở mồm là nói những câu đạo đức hão huyền.

Tố Tố liếc mắt nhìn chồng, mỉm cười rồi đáp:

– Chẳng hay về sau đại ca có kiếm thấy Thành Khôn không?

– Không. Sau ngu huynh ở lại Lạc Dương chỉ gặp Tống Viễn Kiều thồi.

Thuý Sơn kinh ngạc hỏi:

– Có phải đại sư ca Tống Viễn Kiều của đệ không?

Tạ Tốn đáp:

– Phải. Chính người đứng đầu Võ Ðang Thất hiệp. Ngu huynh thấy tạo nên mấy chục vụ án làm đảo lộn cả giang hồ mà vẫn chưa tìm thấy sư phụ của ngu huynh là Thành Khôn

Vô Kỵ xen lời:

– Thưa nghĩa phụ, y đã làm như vậy, tại sao nghĩa phụ còn gọi y là sư phụ?

Tạ Tốn gượng cười đáp:

– Nghĩa phụ quen gọi như vậy từ hồi nhỏ, hơn nữa võ công của nghĩa phụ phần lớn do y truyền dạy thì tuy y là người rất tồi bại.

Tạ Tốn xoa đầu Vô Kỵ và thuật tiếp :

– Ðêm hôm đó ta ăn cơm tối xong đang ngồi trong khách điếm dưỡng thần. Ta biết Tống Viễn Kiều là người đứng đầu trong Võ Ðang Thất hiệp, tất nhiên võ công của y cao siêu hơn người nếu ta ra tay đánh hắn một thế mà không trúng, hoặc để y tẩu thoát hay chỉ đánh y bị thương nặng thôi thì hành tung của ta sẽ bị tiết lộ ngay và mưu kế của ta sẽ hỏng. Lúc ấy, hào kiệt trên giang hồ sẽ nổi lên đánh ta thì dù có ba đầu sáu tay ta cũng không sao địch lại. Ta có chết cũng không ân hận nhưng buồn mối oan cừu không sao trả được.

Vô Kỵ đột nhiên xen lời:

– Nghĩa phụ đã hư đôi mắt, không còn thấy gì nữa. Vậy khi con lớn lên sẽ luyện võ công cho giỏi và đi trả thù thay cho nghĩa phụ.

Vô Kỵ vừa nói dứt, Tạ Tốn và Thuý Sơn không hẹn mà cùng đứng lên, quay mặt về phía Vô Kỵ trầm giọng hỏi:

– Vô Kỵ, con có lòng như vậy thật không?

Thuý Sơn và Tố Tố đều lo ngại thầm. Hai người dư biết người trong võ lâm xưa nay vẫn tôn trọng chữ tín nghĩa, đã hứa điều gì thì phải thực hiên cho kỳ được. Bây giờ Vô Kỵ còn nhỏ nhưng đã nhận lời trả thù cho Tạ Tốn, thì như đã mang gánh nặng vai cân lên vai.

Tạ Tốn là người tài ba xuất chúng mà con không sao trả thù được, Vô Kỵ là một đứa trẻ thơ cứ nhận lời bừa, khác gì dấn thân vào tuyệt địa.

Hồi thứ 18
Trở Về Trung Thổ

Nhưng Vô Kỵ đã lẹ miệng nói tiếp:

– Thưa nghĩa phụ,Vô Kỵ đã nhớ kẻ giết hại gia đình của nghĩa phụ và cũng giết y, không để cho người nào sống sót.

Thuý Sơn cả giận quát to:

– Vô Kỵ con nói gì thế? Người nào làm người ấy chịu. Tội ác của Thành Khôn dù lớn đến đâu, cũng do một tay y gây ra thì tại sao lại muốn giết những người vô tội?

Vô Kỵ vội đáp:

– Dạ ,cha nói rất phải.

Y sợ hãi không dám nói tiếp.

Tạ Tốn thấy thế liền thở dài:

– Người chết có biết gì là đau khổ. Chỉ một khi cả nhà bị giết, một mình người sống trơ trọi mới thấy cuộc đời đen tối. Lúc ấy, ta chưa rõ chân lý đó, nên hai lần đi kiếm sư phụ để báo thù. Ðáng lẽ ta nên giết cả nhà của y, để cho y sống cô độc một mình, ngày đêm đau khổ nhớ nhung vợ con, ta mới hả dạ.

Thuý Sơn vừa nghe vừa lắc đầu, nhưng chàng quá nể Tạ Tốn, nên không tiện cãi lại. Ðồng thời chàng cũng không muốn để cho Vô Kỵ ghi nhớ những lời lẽ độc ác ấy,nên liền lên tiếng nói lảng sang chuyện khác:

– Lần ấy,đại ca đấu với đại sư huynh của tiểu để, kết quả ra sao? Sao không thấy đại sư huynh thuật lại cho tiểu đệ nghe chuyện đó?

Tạ Tốn liền đáp:

– Tống Viễn Kiều có biết ngu huynh định giết y đâu và y chắc cũng chưa bao giờ nghe nói qua cái tên Kim Mao sư vương Tạ Tốn. Lúc ấy ngu huynh không đi kiếm y.

Thuý Sơn thở dài một tiếng và nói:

– Ða tạ trời đất.

Tố Tố mỉm cười và nói:

– Ngũ ca nên cám ơn đại ca Tạ Tốn mới phải.

Thuý Sơn và Vô Kỵ nghe Tố Tố nói vậy, bèn phì cười.

Tạ Tốn không cười tiếng nào, chỉ từ từ nói tiếp:

– Ðêm hôm đó ngu huynh ngồi trên giường điều hơi vận khí, sau lại ôn tập mấy lần Thất Thương Quyền. Chắc ngũ đệ chưa rõ Thất Thương quyền lợi hại ra sao. Chẳng hay ngũ đệ có muốn thưởng thức chăng?

Thuý Sơn chưa kịp trả lời,Tố Tố vội xen vào:

– Chắc Thất Thương quyền của đại ca thần diệu khôn tả, oai mãnh tuyệt luân? Sau đó tại sao đại ca không đi kiếm Tống đại hiệp?

Tạ Tốn cười đáp:

– Hiền muội sợ ngu huynh thử môn Thất Thương quyền sẽ làm chồng hiền muội bị thương phải không? Nếu quyền không được theo ý muốn của mình thì làm sao gọi được là Thất Thương quyền?

Y vừa nói vừa đứng dậy đi tới cạnh một cổ thụ, quát lớn một tiếng tựa như sấm, rồi đánh luôn một quyền vào thân cây.Theo công lực của Tạ Tốn mà luận, quyền đó không đánh gẫy cây làm đôi thì cũng đánh lõm vào thân cây thật sâu. Ngờ đâu,khi y thâu quyền lại, mọi người thấy thân cây không suy suyển chút nào.

Tố Tố đau lòng và nghĩ thầm:

– Ðại ca ở trên đảo chín năm nay, không hề luyện tập võ công, tất nhiên công lực phải mất hết.

Nàng sợ Tạ Tốn đau lòng, nên giả bộ lớn tiếng khen ngợi.

Tạ Tốn hỏi:

– Tố muội khen có vẻ gượng gạo lắm! Có phải hiền muội tưởng võ công của ngu huynh không bằng thủa xưa phải không?

Tố Tố đáp:

– Ở trên hoang đảo nơi cực Bắc này, quanh đi quẩn lại chỉ có bốn chúng ta, hà tất phải luyện võ công làm gì?

Tạ Tốn hỏi Thuý Sơn:

– Còn ngũ đệ, chú có nhận thấy kết quả ảo diện của môn quyền ấy không?

Thuý Sơn đáp:

– Ðệ thấy quyền của đại ca phát ra rất mạnh, nhưng khi đánh vào thân cây, cả lá cây cũng không hề rung động nên thắc mắc vô cùng. Ðừng nói ai, thằng Vô Kỵ đấm một quyền, ít ra cành cây cũng rung động một hồi.

Vô Kỵ bèn la lớn:

– Con đánh được.

Nói xong, nó vội chạy tới trước cây cổ thụ, đấm luôn một quyền. Quả nhiên những cành trên cây rung động như cái lò so vậy.

Tạ Tốn liền rút thanh bảo đao Ðồ Long ra chém mạnh vào thân cây một nhát, nửa thân cây rơi xuống mặt đất.

Tạ Tốn bèn thâu đao lại nói:

– Hai em thử xem oai lực Thất Thương quyền của ngu huynh ra sao?

Hai vợ chồng Thuý Sơn và Vô Kỵ chạy lại xem chỗ vừa bị chém, thấy đa số gân mạch ở giữa thân cây đã bị đứt làm đôi, còn một số thì bị cong queo lại như bị vò nát, hiển nhiên là thế quyền của Tạ Tốn vừa rồi,bên trong bao hàm mấy thứ kình lực khác nhau.

Hai vợ chồng Thuý Sơn thán phục vô cùng. Thuý Sơn lại nói:

– Ngày hôm nay đại ca làm nhiều việc khiến tiểu đệ sáng mắt ra rất nhiều.

Tạ Tốn có vẻ đắc chí đáp:

– Thế quyền của ngu hunh vừa rồi, bên trong bao hàm bẩy kình lực khác nhau. Nếu kẻ địch chịu đựng nổi kình lực thứ nhất thì không thể chịu đựng nổi kình lực thứ hai và dù có chịu đợc kình lực thứ hai đi nữa cũng không sao chịu nổi Thất Thương quyền. Có phải ngũ đệ bảo môn quyền đó quá ác độc phải không?

Vô Kỵ vội hỏi:

– Chẳng hay nghĩa phụ sẽ truyền dạy cho con môn Thất Thương quyền đó không?

Tạ Tốn lắc đầu đáp:

– Không.

Vô Kỵ tỏ vẻ thất vọng, định yêu cầu nhưng Tố Tố vừa cười vừa nói:

– Vô Kỵ sao con ngu ngốc thế? Con phải biết võ công của nghĩa phụ tinh thâm biết bao, nếu con chưa có nội công thượng thặng, thì làm sao luyện được môn quyền đó?

Vô Kỵ đáp:

– Nếu vậy chờ đến khi con luyện nội công tới mức thượng thặng, lúc ấy nghĩa phụ sẽ dạy cho con nhé?

Tạ Tốn vẫn lắc đầu và đáp:

– Môn Thất Thương quyền này,con không nên luyện tập. Vì trong thân thể của mỗi người đều có âm dương nhị khí kim mộc thuỷ hỏa thổ ngũ hành. Tâm thuộc hoả, phế thuộc kim, thận thuộc thuỷ, tỳ thuộc thổ, can thuộc mộc, nếu con luyện môn Thất Thương quyền này, thì con phải bị thương ở bảy thứ đó trong người trước nhất. Chính vì nghĩa phụ tập luyện môn Thất Thơng quyền này mà tâm mạch bị thương, thỉnh thoảng phát khùng lên.

Lúc bấy giờ, Thuý Sơn và Tố Tố mới rõ vì sao Tạ Tốn là một người văn võ song toàn mà thỉnh thoảng cứ phát khùng, không khác gì cầm thú.

Tạ Tốn lại nói:

– Nếu nội lực của ta luyện tới mức bằng Không Kiến đại sư hay Võ Ðang Trương chân nhân, rồi hãy luyện môn Thất Thuơng quyền này, thì có lẽ ta không đến nỗi bị tổn thương như thế, dù có bị tổn thương, cũng chỉ ngoại thương thôi, không sao cả. Nhưng vì năm xưa ta nóng lòng báo thù nên giết luôn bảy người mới cướp được cuốn Thất Thương quyền của các cao thủ phái Không Ðộng, rồi không nghĩ ngợi gì đến sự lợi hại, luyện tập ngay. Ta sợ để lâu,sư phụ ta chết yểu thì ta không trả thù được nữa. Tới khi ta nhận thấy nội tạng bị tổn thương rất nặng, không sao cứu vãn được, lúc ấy ta mới hiểu tại sao Không Ðộng có môn quyền lợi hại như thế mà không ai luyện thành công cả? Này Tố muội, sở dĩ ngu huynh gấp rút luyện môn quyền công đó là vì lúc phát quyền, thanh thế lẫm liệt có rất nhiều điểm lợi nên ngu huynh không suy tính gì cả, cố công luyện tập cho chóng thành công, vậy Tố muội có biết lý do gì không?

Tố Tố ngẫm nghĩ giây lát liền đáp:

– Có phải vì môn Thất Thương quyền tương tự với môn quyền Phích Lích gì đó của tôn sư phải không?

– Chính thế! Sư phụ ngu huynh biệt hiệu là Hỗn Nguyên Phích Lích thủ, chưởng phong của y bao hàm phong lôi, oai lực rất kinh người, nếu ngu huynh đem môn Thất Thương quyền ra đối địch với y, thế nào y cũng tưởng ngu huynh sử dụng võ công y đã truyền dậy. Quí hồ quyền lực đánh trúng người y, lúc ấy dù y có cảnh giác cũng đã muộn.

Ngũ đệ chớ có trách ngu huynh dụng tâm quá ác độc, ngũ đệ nên rõ bề ngoài của sư phụ ngu huynh trông rất thật thà, nhưng sự thật nội tâm y hiểm ác không lường. Nếu ngu huynh không dùng kế công độc dĩ độc thì mối thù của ngu huynh không sao trả được. Hà hà, bên trong còn nhiều chi tiết nữa. . .Hãy nói trở lại câu chuyện đêm hôm trước,ngu huynh luyện tâp ba lần Thất Thương quyền, rồi vượt tường đi kiếm Tống Viễn Kiều.

Ta nhảy ra khỏi bờ tường, thân mình chưa xuống tới mặt đất, đã cảm thấy đầu và vai có người vỗ một cái. Ngu huynh kinh ngạc vô cùng,vì với công lực của ngu huynh lúc ấy mà có người đụng tới vai mình nhưng vẫn chưa hay biết, thì đủ thấy người đó võ công cao siêu hơn ngu huynh nhiều. Vô Kỵ, con thử nghĩ xem, may mà người đó khẽ vỗ vào đầu vai của nghĩa phụ thôi chớ nếu y vỗ mạnh, có phải là ta bị thương nặng rồi không? Ta vội quay tay lại gạt quyền của đối thủ, chân trái vừa chạm đất, ta đã quay mình lại. Lúc ấy lưng ta vừa bị kẻ nọ khẽ vỗ một chưởng, rồi người đó khẽ thở dài một tiếng và nói:

– Bể khổ không bờ, chỉ có người biết hối cải là tới được bến thôi.

Vô Kỵ thấy Tạ Tốn nói vậy, thích thú vô cùng ha hả rồi tiếp lời nói:

– Nghĩa phụ, có phải người đó định đùa giỡn nghĩa phụ không?

Thuý Sơn và Tố Tố đã đoán ra được người đó là Không Kiến đại sư rồi.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Lúc ấy ta hoảng sợ khôn tả,vì người đó võ công cao siêu như thế, nếu muốn giết ta thì dễ như trở bàn tay. Ta nghe người đó nói tám chữ: “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn” chứa đầy từ bi, nhưng lòng ta lại phẫn nộ. Khi ta quay lại thì thấy một tăng nhân mặc đồ trắng đứng cách đó năm trượng. Ta thấy thân pháp của tăng nhân đó lanh lẹ không sao tưởng tượng được, ta lại tưởng lầm tăng nhân đó là một oan hồn đến đòi mạng liền quát hỏi:

– Yêu ma quỷ quái kia, có mau bước đi nơi khác không? Tạ Tốn này không biết sợ trời đất, khi nào sợ oan hồn giả quỷ như mi.

Tăng nhân áo trắng chắp tay thi lễ và nói:

– Tạ cư sĩ, lão tăng Không Kiến xin vái chào.

Ta nghe hai chữ Không Kiến, liền nhớ tới hai câu mà giang hồ thường đồn đại “Thiếu Lâm thần tăng, kiến văn trí tính”.

Ngu huynh liền lên tiếng hỏi thăm tăng nhân áo trắng: “Lão sư có phải là Không Kiến thần tăng của phái Thiếu Lâm đó không?”. Tăng nhân áo trắng liền đáp:

– Bần đạo không dám nhận hai chữ thần tăng đó. Chính bần đạo là Thiếu Lâm Không Kiến đây!

Ngu huynh liền hỏi:

– Tại hạ với đại sư không hề quen biết nhau, sao đại sư đùa cợt tại hạ như thế?

Không Kiến liền trả lời: “Bần tăng có dám đùa cợt cư sĩ đâu? Xin hỏi cư sĩ, đêm khuya khoắt thế này còn định đi đâu thế?”

Ngu huynh liền đáp: “Tại hạ muốn đi đâu là tuỳ ý tại hạ, có liên can gì đến đại sư?”

Không Kiến lại nói: ” Có phải đêm nay cư sĩ định đi giết Tống đại hiệp của phái Võ Ðang đấy không?”

Ngu huynh ngạc nhiên và kinh hãi vô cùng.

Không Kiến lại nói tiếp: “Có phải cư sĩ muốn gây ra một vụ án lớn lao làm chấn động võ lâm để khiêu khích cho Thành Khôn xuất đầu lộ diện để cư sĩ được trả mối cựu thù chăng?

Ngu huynh nghe y nói đến tên tuổi của sư phụ và ý định của ngu huynh như vậy, lại càng kinh hãi hơn. Phải biết việc sư phụ giết cả gia đình của ngu huynh cũng chưa hề nói cho người nào rõ, còn việc xấu này sư phụ đâu dám nói cho ai hay, như vậy tại sao Không Kiến biết rõ đến thế? Ngu huynh vừa kinh hãi vừa nói với Không Kiến đại sư rằng: “Nếu đại sư cho tại hạ biết tung tích của Thành Khôn ở đâu thì Tạ Tốn đây vui lòng làm trâu làm ngựa hầu đại sư suốt đời.

Không Kiến thở dài và đáp:

– Hành vi của Thành Khôn là một tội ác nghiệp chướng quá lớn, nhưng cư sĩ chỉ vì tức giận nhất thời mà giết hại bao nhiêu nhân vật võ lâm,cũng mang tội không lường.

Ngu huynh thấy y đa ngôn đa sự như vậy, định đánh cho một trận để cảnh cáo, nhưng sau nghĩ lại, biết võ công của mình còn kém y xa, ngu huynh liền đáp:

– Ðó là sự bất đắc dĩ, vì Thành Khôn ẩn trốn vô hình vô tung, trời đất bao la, tại hạ biết kiếm y ở đâu bây giờ?

Không Kiến gật đầu đáp:

– Bần tăng cũng biết cư sĩ vì uất ức mà hành động vô trí như vậy. Nhưng Tống đại hiệp là đồ đệ yêu quý của Trương chân nhân phái Võ Ðang, nếu cu sĩ giết y, mối hoạ sau này rất lớn.

Ngu huynh liền đáp:

– Mục đích của tại hạ là gây hoạ, càng gây hoạ lớn bao nhiêu, càng bắt buộc Thành Khôn phải xuất đầu lộ diện sớm .

Không Kiến đại sư lại tiếp:

– Nếu Tạ cư sĩ giết hại Tống đại hiệp, tất nhiên Thành Khôn phải xuất đầu lộ diện. Nhưng Thành Khôn ngày nay khác xưa kia nhiều, võ công của y giỏi hơn cư sĩ xa lắm. Như vậy mối thù cư sĩ vẫn không trả được đâu.

Ngu huynh vội đỡ lời:

– Thành Khôn là sư phụ của tại hạ,v õ công của y ra sao, tại hạ vẫn rõ hơn đại sư nhiều.

Không Kiến lắc đầu đáp:

– Y đã theo học một danh sư trong ba năm nay, võ công của y tiến bộ đến mức không thể tưởng tượng được.Tuy cư sĩ đã thành công vói Thất Thương quyền của phái Không Ðộng cũng không địch nổi y đâu.

Ngu huynh kinh ngạc vô cùng,vì Không Kiến đại sư chưa hề gặp mặt mình bao giờ mà tại sao nhất cử nhất chỉ của mình,y đều biết cả.?

Ngu huynh ngẩn người giây lát rồi hỏi :

– Tại sao đại sư biết rõ như vậy?

Y liền đáp:

– Chính Thành Khôn đã nói với bần tăng.

Tạ Tốn thuật tới đó,vợ chồng Thuý Sơn đồng kêu ủa một tiếng.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Bây giờ hai em nghe đã kinh dị như thế thì phải biết lúc ấy ngu huynh kinh ngạc đến đâu.

Ngu huynh bèn nhảy phắt người lên và quát hỏi:

– Tại sao Thành Khôn lại biết rõ như vậy?

Không Kiến đáp lại một cách rất thong thả:

– Trong mấy năm nay, Thành Khôn vẫn theo sát cư sĩ, và thay đổi hình dạng luôn luôn, mà cư sĩ không nhận ra đấy thôi.

Ngu huynh hậm hực đáp:

– Hừ, tại hạ không nhận ra y à? Dầu y có hoá thành tro bay theo tại hạ cũng nhận ra được!

Không Kiến lại tiếp:

– Vẫn biết Tạ cư sĩ là người rất thận trọng, nhưng trong mấy năm nay cư sĩ cứ mải luyện võ để trả thù,không lưu ý tới những việc xảy ra chung quanh. Cư sĩ đứng ở chỗ sáng, y núp trong bóng tối,l àm sao cư sĩ nhận ra y được.

Không Kiến nói rất có lý, vả lại y là một cao tăng tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, thì khi nào lại lừa dối ngu huynh, nên ngu huynh lại hỏi:

– Thế tại sao y không giết tại hạ cho rảnh chuyện?

Không Kiến đáp:

– Nếu y định tâm hại cư sĩ thì dễ như trở bàn tay thôi. Cũng như hai lần cư sĩ kiếm y để trả thù, hai lần cư sĩ đều thất bại, nếu y muốn giết cư sĩ thì hai lần đó cư sĩ đã mất mạng rồi. Tại sao lúc ấy y không hạ độc thủ? Và lúc cư sĩ đi cướp cuốn quyền phổ Thất Thương , cư sĩ đấu với ba vị cao thủ của phái Không Ðộng nhưng phái Không Ðộng có tất cả ngũ lão, vậy hai người nữa đâu? Tại sao bọn họ không cùng vây đánh cư sĩ một lúc, nếu ngũ lão cùng ra tay vây đánh,

liệu cư sĩ còn sống cho đến ngày nay không?

Ngu huynh tự hỏi:

– Hôm đó tại hạ đả thương Không Ðộng tam lão rồi, mới hay nhị lão kia cũng bị thương nặng,tại hạ thắc mắc vô cùng, cho tới ngày nay cũng còn không hiểu ai đã hạ độc thủ. Có phải ngũ lão huynh đệ tương tàn giết lẫn nhau không? Hay là có cao thủ ẩn danh nào núp trong ra tay giúp tại hạ? Chẳng lẽ nhị lão đó đã bị Thành Khôn đả thương?

Thuý Sơn và Tố Tố càng nghe thấy chuyện càng ly kỳ, đồng thời hai người thấy kinh hãi thầm.

Vì hai người cho Tạ Tốn đã lợi hại như thế mà Thành Không còn lợi hại hơn nhiều.

Tố Tố liền hỏi:

– Có phải nhị lão của phái Không Ðộng đã bị sư phụ của đại ca núp trong bóng tối đả thương không?

Tạ Tốn đáp:

– Ngu huynh đã hỏi Không Kiến , thì y liền đáp:

– Chẳng hay Không Ðộng nhị lão bị thương ra sao? Tạ cư sĩ có được mục kích không? Sắc mặt của nhị lão lúc đó ra sao, cư sĩ còn nhớ không?

Ngu huynh chợt nhớ lại Không Ðộng nhị lão nằm dưới đất, trên mặt nổi lên mấy vết huyết hồng, hiển nhiên là hai người đó đã dùng âm kình đánh người,sau bị đối thủ dùng Hỗn Nguyên Công phản công lại. Mà trong võ lâm chỉ có hai thấy trò ngu huynh biết Hỗn Nguyên Công thôi,chứ không ngời thứ ba.

Không Kiến đại sư thở dài một tiếng rồi tiếp:

– Sư phụ cuả cư sĩ vì quá say mà sanh tà dâm đến nỗi giết cả gia đình cu sĩ, sau khi tỉnh y cảm thấy lương tâm cắn rứt, nên cư sĩ hai lần ở chỗ báo thù mà y không giết cư sĩ. Về sau y còn theo sát cư sĩ và hai ba lần bị nạn, lại được y giải cứu cho.

Lúc ấy ngu huynh nghĩ lại ngoài vụ đấu với Không Ðộng ngũ lão, qủa thật còn hai lần ngu huynh đang lâm nguy thì bỗng nhiên kẻ địch tự dưng rút lui.

Không Kiến lại nói:

– Y tự biết tội của y rất nặng, nên y không dám yêu cầu cư sĩ tha thứ cho, chỉ mong thời gian xoá dần hận thù của cư sĩ. Nhưng y không ngờ cư sĩ càng ngày càng gây nhiều tai hoạ, càng giết nhiều người, hôm nay nếu cư sĩ lại đi giết Tống Viễn Kiều Tống Ðại hiệp thì ác nghiệp này không thể nào cởi mở đuợc.

Ngu huynh liền đáp:

– Họ Tống với tại hạ không liên can gì, tại hạ cũng không đi kiếm y nữa, mong đại sư gọi sư phụ tại hạ đến đây để tại hạ gặp gỡ một phen.

Không Kiến đáp:

– Y xấu hổ không dám gặp mặt cư sĩ. Hơn nữa, không phải bần tăng coi thường cư sĩ mà thật ra cư sĩ có gặp mặt y, mối thù này cũng khó trả xong. Vì võ công của y lúc này cao siêu hơn cư sĩ nhiều.

Ngu huynh hỏi:

– Ðại sư là một vị cao tăng đắc đạo đương thời, chẳng lẽ đại sư lại bảo tại hạ buông tay đừng trả thù nữa hay sao? Thì Không Kiến đáp rằng:

– Tình cảnh của cư sĩ thật quá bi đát, bần tăng cũng thông cảm lắm.

Nhưng tôn sư của cư sĩ vì quá say nên làm bậy, đó không phải tự bản ý của ông ta muốn như thế, huống hồ ông ta đã biết ăn năn hối cải thì bần tăng mong Tạ cư sĩ cũng nể tình thầy trò xưa kia mà tha thứ cho ông ta.

Ngu huynh thấy Không Kiến nói vậy, giận đến phát khùng và đáp:

– Nếu tại hạ địch không nổi y thì sẽ vui lòng cho y đánh chết, còn mối thù nầy nếu không trả được, tại hạ cũng không sống làm gì.

– Tạ cư sĩ nên rõ, võ công tôn sư đã tiến bộ hơn trước nhiều lắm. Dù cư sĩ đã luyện thành công Thất Thương Quyền nhưng không địch nổi ông ta đâu, nếu cư sĩ không tin hãy đánh thử với bần tăng mấy quyền xem sao.

– Tại hạ với đại sư có thù oán gì đâu, mà tại hạ đâu dám đả thương đại sư? Võ công của tại hạ tuy thấp thật, nhưng Thất Thương quyền nầy không phải là một môn quyền để chống đỡ đâu.

– Bây giờ bần tăng đánh cuộc với cư sĩ. Tôn sư đã giết mười ba người nhà của cư sĩ, bây giờ cư sĩ đánh tôi mười ba quyền. Nếu bị thương tôi sẽ buông tay và không dây dưa với việc này nữa và tôn sư cũng sẽ xuất hiện ra đây gặp cư sĩ. Bằng không, mối thù oán này xem như xong.

Ngu huynh trầm ngâm một hồi, chưa dám trả lời ngay,vì ngu huynh biết võ công của vị cao tăng rất cao siêu. Thất Thương quyền tuy lợi hại nhưng nếu không đả thương được ông ta có phải mối thù lớn kia không trả được không?

Không Kiến đại sư lại tiếp:

– Nói thật cho cư sĩ rõ là một khi bần tăng đã nhúng tay vào việc này thì quyết không để cho cư sĩ tàn sát những võ lâm đồng đạo vô tội nữa. Nếu cư sĩ có lòng hướng thiện, từ đây ngừng hành động mạo muội thì việc qua khứ coi như đã xoá bỏ. Nếu cư sĩ cứ tìm giết người vô tội thì chẳng lẽ những con cháu và người nhà của những người đã bị tàn sát lại không biết kiếm cư sĩ mà trả thù sao?

Ngu huynh nghe giọng nói của Không Kiến

???????????????????/

heo con chó. . .

Hai vợ chồng Thuý Sơn và Vô Kỵ đều nín lặng và nghĩ thầm:

– Tạ Tốn đã dùng quỷ kế để đánh chết vị cao tăng có đức từ bi đại lộ, quả thật thâm hiểm vô cùng.

Tạ Tốn lại nói:

– Không Kiến đại sư thấy ta khóc sướt mướt như vậy, lại mỉm cười và an ủi rằng: Người nào cũng phải chết một lần, cư sĩ hà tất đau lòng như vậy làm gì, sư phụ của cư sĩ sắp tới đây, cư sĩ phải trấn tĩnh để đối phó, chớ đừng lỗ mãng như đối với ta.

Lúc ấy ta cũng nhận thấy sau khi đánh mười ba quyền ta đã hao tổn hết thần lực mà địch lại sắp tới nơi nếu ta còn khóc nữa thì sẽ bị hao tổn tinh thần thêm, nên ta vội ngồi xuống, điều hoà hơi thở và lấy lại sức. Ngờ đâu chờ mãi cũng không thấy sư phụ ta tới, ta liền quay lại nhìn Không Kiến đại sư, mặt tỏ vẻ ngạc nhiên.

Lúc ấy Không Kiến đại sư hơi thở rất yếu, tiếng nói đứt đoạn:

– Không . . . không ngờ y . . y lại thủ tín. . .chẳng lẽ . . .có người cầm chân y chăng.

Ta cả giận quát hỏi:

– Ngươi đánh lừa ta để ta đánh chết người, mà sư phụ ta vẫn chưa ra đây để gặp ta.

Không Kiến lắc đầu và đáp:

– Bần tăng không lừa dối cư sĩ đâu.

Ta đang phát khùng, định lên tiếng mắng chửi y thêm một hồi nữa, nhưng về sau ta bỗng nghĩ lại, y lừa dối ta để ta đánh chết y mà y còn xin lỗi ta, thật là trái ngược. Ta hổ thẹn vô cùng, liền tiến tới trước mặt y quì xuống và nói:

– Ðại sư có tâm nguyện gì, tại hạ thế nào cũng vui lòng làm tròn theo ý đại sư.

Y chỉ mỉm cười đáp:

– Tâm nguyện của bần tăng là chỉ mong từ nay cư sĩ lúc nào định ra tay giết người thì nhớ tới bần tăng.

Vị cao tăng đó không những võ công tinh thâm, lại đại trí đại tuệ biết rõ hết hành vi của ta, y cũng muốn cho ta trở nên một con người lương thiện, không nghĩ gì đến sự báo thù là điều không sao làm được, nên y mới bảo ta khi nào giết người hãy nhớ đến y. Ngũ đệ, bữa nọ ngu huynh đấu chưởng lực với hiền đệ ở trong thuyền, sở dĩ ngu huynh không giết hiền đệ là vì ngu huynh chợt nhớ đến mấy lời trối trăng của Không Kiến đại sư đó.

Thuý Sơn không ngờ lúc đó mình khỏi chết là nhờ Không Kiến đại sư, nên chàng càng nghe ,càng tỏ vẻ kính mộ vị cao tăng đó.

Vô Kỵ liền lên tiếng hỏi:

– Nghĩa phụ, tại sao nghĩa phụ lại đấu chưởng lực với cha con?

Tố Tố vội xen vào:

– Hôm đó, nghĩa phụ với cha con thử sức với nhau, xem võ công của ai lợi hại đấy thôi.

Vô Kỵ có vẻ không tin lại hỏi tiếp:

– Nghĩa phụ, lúc đó mắt của nghĩa phụ đã mù chưa?

Tố Tố vội lên tiếng át lời Vô Kỵ và nói:

– Vô Kỵ con chớ nói bậy.

Tạ Tốn liền trả lời:

– Cha mù.Tại sao con lại hỏi vậy?

Vô Kỵ đáp:

– Chắc là cha con địch không nổi nghĩa phụ, nên mẹ con ra tay giúp, bắn mù mắt nghĩa phụ.

Thuý Sơn và Tố Tố lớn tiếng quát mắng:

– Vô Kỵ!

Thấy cha mẹ nghiêm khắc như vậy Vô Kỵ hãi sợ không dám nói tiếp.

Nhưng Tạ Tốn lại nói:

– Ngũ đệ và Tố muội chớ nên doạ nạt con trẻ. Vô Kỵ, con cứ việc nói đi.

Vô Kỵ đưa mắt lườm cha mẹ một cái rồi nói:

– Con . . . con . . .

Tạ Tốn liền tiếp lời:

– Con nói rất đúng ,lúc ấy cha con không địch lại nghĩa phụ, rồi mẹ con giúp cha con bắn mù mắt nghĩa phụ, nhưng chuyện này đã xảy ra lâu lắm rồi và cũng do lỗi ở nghĩa phụ mà ra, không thể trách cha mẹ con được. Chuyện này, có phải do mẹ con kể lại cho con nghe không?

Y cũng biết rõ Tố Tố không bao giờ nói cho Vô Kỵ biết, nhưng y hỏi thế tất nhiên hai người không tiện lên tiếng ngăn cản nữa, Vô Kỵ liền đáp:

– Không, mấy hôm trước đây mẹ nói sẽ dạy con ném kim châm, nhưng hôm sau không hiểu vì sao mẹ lại không dậy. Con đoán chắc thế nào cha con cũng ngăn cấm mẹ con. Vì sợ nghĩa phụ biết, trong lòng sẽ không vui.

Tạ Tốn ha hả cười và tiếp:

– Nè ngũ đệ và Tố muội, thằng Vô Kỵ thông minh gấp ta đến năm lần và gấp hai vợ chồng chú mười lần, như vậy về sau này nó lợi hại vô cùng.

Vợ chồng Thuý Sơn không hẹn mà đều giơ tay ra nắm lấy tay Vô Kỵ. Hai người tuy rất sung sướng, nhưng trong lòng cũng cảm thấy âm thầm lo âu. Thuý Sơn chỉ sợ con mình quá thông minh, sau này sẽ hư thân mất nết, còn Tố Tố thì sợ con mình chết yểu.

Vô Kỵ vừa cười vừa nói:

– Theo lời nghĩa phụ vừa nói thì nghĩa phụ thông minh hơn cha mẹ con gấp bội phải không?

Tạ Tốn đáp:

– Có lẽ còn hơn thế nữa.

Vô Kỵ lại hỏi:

– Rồi về sau lão hoà thượng có chữa được không?

Tạ Tốn thở dài một tiếng đáp:

– Chữa làm sao được, hơi thở của y càng ngày càng yếu ớt. Ta đã dùng chưởng đè chặt lấy linh đài huyệt của y, ta cố hết sức mình,định đem chân lực của mình để cứu y thoát chết nhưng cũng vô hiệu. Lúc ấy y bỗng thở dài một tiếng và hỏi ta rằng Sư phụ của ngươi vẫn chưa tới sao?

Tạ Tốn liền đáp:

– Không thấy y tới.

Y lại nói:

– Như vậy chắc sư phụ của cư sĩ không tới đâu.

Ta liền tiếp lời:

– Ðại sư yên trí, tại hạ sẽ không giết bừa bãi nữa đâu. Tại hạ chỉ mong y xuất hiện để tại hạ hỏi y ít lời thôi. Nếu y không ta mặt thì tại hạ có phải đi khắp chân trời góc biển cũng không nài miễn tìm được y mới nghe.

Hồi thứ 19
Trở Về Trung Thổ

Không Kiến nói tiếp:

– Tốt lắm! Tốt lắm! Nhưng võ công của cư sĩ còn kém Thành Khôn nhiều trừ phi..

nói tới đây, giọng của y càng thấp nhỏ dần, đền nỗi ta kề tai sát miệng y mới nghe y nói:

– Trừ phi.. cư sĩ kiếm được thanh đao Ðồ Long, tìm được sự bí mật trong đao nói tới câu đó, y tắt thở .

Chờ Tạ Tốn kể hết chuyện, Thuý Sơn mới rõ tại sao Tạ Tốn cứ muốn tìm tòi cho ra sự bí mật trong thanh đao Ðồ Long và tại sao bình thường Tạ Tốn là người rất nho nhã lễ phép mà lúc phát khùng lại có hành vi như cầm thú tại sao y có võ công tuyệt đến thế mà suốt ngày rầu rĩ.

Ba người kết nghĩa với nhau đã là mười năm, chuyện gì cũng kể cho nhau nghe hết, riêng có chuyện thân thế Tạ Tốn, mãi đến hôm nay y mới nói ra.

Tạ Tốn lại tiếp:

– Sau đó ta hay tin thanh đao Ðồ Long lọt về Vương Bàn Sơn đảo bèn vọi vàng tới đó cướp đoạt như chú thím đã biết rõ. Trước khi được con đao đó thì ta muốn kiếm cho được Thành Khôn. Nhưng sau khi cướp được rồi, ta lại sợ y kiếm gặp ta, vì thế ta mới đo kiếm một chỗ hẻo lánh để tìm cho ra sự bí mật của con đao này.

Vì sợ chú thím tiết lộ hành tung của ta, ta mới đem chú thím theo tới đây. Không ngờ thoáng cái đã được mười năm. Tạ Tốn ơi là Tạ Tốn, trong bấy nhiêu lần ngươi không làm xong việc gì cả.

Thuý Sơn lại hỏi:

– Như vậy, lúc Không Kiến đại sư sắp chết, vẫn chưa nói hết lời phải không? Theo lời đại sư thì phải tìm ra sự bí mật của thanh đao Ðồ Long, ông ta nói vậy là có ý nghĩa gì khác chăng?

Tạ Tốn đáp:

– Trong mười năm qua, bất cứ việc gì ngu huynh cũng đều nghĩ tới cả, nhưng không có việc gì phù hợp với lời nói của Không Kiến. Trong đao này thế nào cũng có một sự bí mật gì rất lớn, nhưng ngu huynh nghĩ mãi vẫn không tìm ra được. Vô Kỵ, con thông minh hơn ta nhiều, sau này thế nào con cũng tìm ra được sự bí mật đó.

Vô Kỵ bỗng hỏi:

– Thưa nghĩa phụ, Thành Khôn được bao nhiêu tuổi rồi?

Tạ Tốn biến sắc mặt đáp:

– Con hỏi vậy hợp lý lắm, kể ra năm nay y đã sáu mươi lăm tuổi rồi, như vậy mối oán cừu của ta không có hy vọng báo được.

Vợ chồng Thuý Sơn với Tố Tố đều biết rõ dù sau này Vô Kỵ cố tìm ra được sự bí mật của thanh đao Ðồ Long, luyện thành võ công cao siêu và trở về Trung thổ thì Thành Khôn đâu còn sống được tới lúc ấy?

Bốn người chuyện trò đến lúc trời sắp sáng, Tạ Tốn lại nói:

– Vô Kỵ, con đừng ngủ, để nghĩa phụ dạy thêm võ công cho con.

Vợ chồng Thuý Sơn đưa mắt nhìn nhau, biết không sao ngăn cản được liền dắt tay nhau trở về động.

Từ đêm hôm đó trở đi, Tạ Tốn không hề nhắc đến chuyện thù oán nữa. Y cứ gắng luyện tập cho Vô Kỵ và càng ngày càng nghiêm khắc.

Lúc ấy, Vô Kỵ mới lên chín, tuy là người tài giỏi thông minh, nhưng trong1 thời gian ngắn ngủi, bắt nó lĩnh hội hết những võ công hiếm có của Tạ Tốn thì làm sao thành công được. Nhưng Tạ Tốn không đếm xỉa tới vấn đề đó, hễ thấy Vô Kỵ học sai là y vừa đánh vừa chửi chớ không chiều chuộng như trước.

Tố Tố thấy con mình bị đánh đập như vậy, trong lòng rất thương xót, bèn nói với Tạ Tốn:

– Ðại ca thần công cái thế như vậy mà bắt Vô Kỵ trong năm ba năm luyện cho thành công những võ công của đại ca thì nó tài nào làm được? Chúng ta ở trên hoang đảo này còn rất nhiều thơì giờ, đại ca thủng thẳng dạy nó cũng được.

Tạ Tốn liền đáp:

– Ngu huynh có dạy nó luyện tập đâu. Ngu huynh chỉ bắt nó học thuộc lòng đó thôi.

Tố Tố ngạc nhiên hỏi tiếp:

– Thế ra đại ca không dạy Vô Kỵ luyện võ công ?

– Hừ, bắt nó luyện võ từng miếng một, có lẽ luyện tới khi nó đầu tóc bạc phơ cũng không học hết võ công của ngu huynh. Cho nên ngu huynh chỉ bảo nó nhớ trong đầu óc là đủ.

Tố Tố không hiểu ý nghĩa lời nói của Tạ Tốn, nhưng biết y hành sự việc gì cũng hơn người, nên làm thinh không dám can thiệp vào nữa, nhưng hàng ngày nàng vẫn thấy Vô Kỵ mang nhiều thương tích, chỉ biết ôm lấy nó mà khóc thôi. Không ngờ Vô Kỵ lại hiểu hơn mẹ, khuyên mẹ:

– Nghĩa phụ muốn cho con giỏi hơn nên đánh con đau như vậy là muốn con nhớ kỹ đó thôi .

Nửa năm sau, Tạ Tốn bỗng nói với vợ chồng Thuý Sơn:

– Ngũ đệ và Tố muội, chỉ còn bốn tháng nữa là có gió và nước thuỷ triều quay về phía Nam, chúng ta hãy bắt tay vào việc kết bè đi.

Thuý Sơn nghe nói mừng rỡ vô cùng liền hỏi:

– Ðại ca bảo làm bè gỗ để trở về Trung thổ phải không?

Tạ Tốn lạnh lùng đáp:

– Vấn đề này còn phải xem lão tặc thiên có chiều lòng ta hay không. Cổ nhân có câu: Mưu sự tại nhân thành bại tại thiên là thế. Nếu thành công thì trở về được Trung thổ, bằng không thì chết chìm giữa bể.

Theo ý của Tố Tố, sống trên hoang đảo này không khác gì thần tiên. Nàng thấy đời sống ở đây dễ chịu lắm, nên nàng không muốn trở về Trung thổ làm gì. Nhưng nàng nghĩ đến sau này Vô Kỵ lớn lên, còn phải lấy vợ đẻ con, nên cứ để nó sốn già và chết cô đơn trên hoang đảo, chẳng đáng tiếc lắm . Cũng vị điều đó, nàng mới vui vẻ ra tay kết bè với mọi người.

Tạ Tốn và Thuý Sơn suốt ngày vào trong rừng chặt cây lấy gỗ còn Tố Tố thì lấy gân cây để dệt thành buồm, kết thành thừng.

Vô Kỵ chạy tới chạy lui truyền tin hay đỡ đần cho ba người.

Cả con hoả hầu cũng ra tay giúp sức.

Chỉ vì không có đao búa, Tạ Tốn và vợ chồng Thuý Sơn hao tốn rất nhiều sức lực. Trong khi làm bè, Tạ Tốn cứ bắt Vô Kỵ đứng cạnh bên hỏi han về võ công để xem thằng bé có nhớ không.

Tố Tố và Vô Kỵ người hỏi kẻ trả lời đều dùng những khẩu quyết đặc biệt, vợ chồng Thuý Sơn không hiểu gì hết.

Cái bè phải làm hơn hai tháng mới xong, dựng một cột buồm lớn và một cột nhỏ, tốn thêm nửa tháng nữa. Tiếp theo đó, mọi người lại đi săn, ướp thịt muối để làm lương khô lấy da thú làm thành túi đựng nước. Ba người ở bên cạnh bờ biển lập một cái nhà lá để che tạm chiếc xuồng chỉ chờ trời có gió là thả bè xuống liền.

Lúc ấy Tạ Tốn với Vô Kỵ ngày đêm gần gũi nhau, lúc đi ngủ Tạ Tốn cũng bắt Vô Kỵ cùng ngủ chung.

Vợ chồng Thuý Sơn thấy Tạ Tốn quí con mình như vậy và dạy bảo một cách nghiêm đành nhìn nhau mà gượng

cười.

Vào một đêm Thuý Sơn đang ngủ bỗng nghe có tiếng gió khác lạ, liền ngồi dậy lắng nghe.

Chàng nhìn thấy luồng gió đó quả thật từ hướng Bắc thổi tới, liền gọi Tố Tố dậy và nói:

– Tố Tố em thử nghe xem,

Tố Tố còn đang mơ màng, chưa kịp trả lời đã nghe Tạ Tốn ở ngoài động gọi vào:

– Gió đã đỏi chiều. Lão tặc thiên đang thổi gió Bắc tới đây.

Sáng sơm hôm sau, hai vợ chồng Thuý Sơn vừa mừng vừa thu dọn đồ đạc nhưng cả hai đều nghĩ lại thời gian ở trên Băng Hoả Ðảo đã ngót mười năm trời, nen cả hai ai cũng lưu luyến. Khi dọn hết đồ đạc lên chiếc bè gỗ xuống bể, Vô Kỵ ôm con ngọc diện hoả hầu hắn nhảy lên trên bè trước tiên.

Tiếp theo là Tố Tố, còn Thuý Sơn dắt tay Tạ Tốn nói:

– Ðại ca, cái bè này đây chừng bảy thước, chúng ta cùng nhảy lên đi.

Tạ Tốn bỗng đáp:

– Ngũ đệ chúng ta vĩnh biệt từ đây, mong gia đình ngũ đệ bình an về Trung thổ.

Thuý Sơn nghe nói vậy giật mình kinh hãi, ngực như bị đánh một quyền rất mạnh., áp úng hỏi:

– Ðại ca… đại ca!

Tạ Tốn bèn lên tiếng an ủi:

– Ngu huynh cũng biết ngũ đệ là người rất nhân hậu, sau này phúc hoạ khôn lường, nhưng không ai có thể đoán biết hết những chuện trong tương lai, quí hồ ngũ đệ hãy cẩn thận thì hơn. Vô Kỵ đã học được hết võ công của ngu huynh, hơn nữa nó thông minh như vậy, sau này thế nào cũng thành công hơn chúng ta nhiều. Còn Tố muội muội là phái yếu nhưng không bao giờ nàng chịu kém ai đâu. ngu huynh lo ngại nhất là ngũ đệ.

Thuý Sơn đáp:

– Ðại ca nói gì thế, đại ca không theo cùng đi với chúng tôi sao?

Tạ Tốn nhanh nhảu trả lời:

– Mấy năm trước đây, ngu huynh há chẳng nói cho hiền đệ rồi rồi sao? Chẳng lẽ ngũ đệ đã quên?

Mấy lời đó tựa như tiếng sấm vang dội bên tai Thuý Sơn, khiến chàng nhớ ra, năm xưa Tạ Tốn có nói, là y sẽ một mình ở lại trên đảo. Chàng tưởng Tạ Tốn nói đùa, ngay như lúc kết bè Tạ Tốn cũng không hề lộ ra là mình có ý định ở lại ở trên đảo này. Ngờ đâu lúc lên đường, y mới cho hay. Thuý Sơn vội nói:

– Ðại ca, một mình đại ca ở lại đảo tịch mịch và thê lương này chịu sao nổi? Mau nhảy lên trên bè với em đi.

Nói xong chàng cố hết sức kéo Tạ Tốn, nhưng Tạ Tốn đứng yên như một cổ thụ, Thuý Sơn không sao lay chuyển nổi một bước.

Thuý Sơn bèn khẽ la lớn:

– Tố muội và Vô Kỵ, mau trở lên đây, đại ca bảo không đi cùng chúng ta đó.

Tố Tố và Vô Kỵ nghe nói cũng giật mình kinh hãi vội nhảy lên bờ biển.

Vô Kỵ hỏi:

– Tại sao nghĩa phụ không đi. Nếu nghĩa phụ không đi con cũng không đi đâu cả.

Sự thật là Tạ Tốn cũng không thể chia tay với ba người, y cũng biết phen này ba người đi rồi là không bao giờ gặp lại được thì một mình y ở trên hoang đảo này sống cô độc cũng bằng chết. Nhưng y suy nghĩ lâu rồi, nếu y đi cùng gia đình Thuý Sơn về Trung thổ thì kẻ thù của y hay biết sẽ đến quấu nhiễu và sẽ gây rất nhiều tai hoạ cho gia đình Thuý Sơn.

Tuy y là người rất ích kỷ nhưng lại có rất nhiều tình cảm. Từ khi kết nghĩa với Thuý Sơn và Tố Tố y thương hai người còn hơn là bản thân của . Còn đối với Vô Kỵ thì y quí hơn con đẻ. Y tự biết đã gây nên rất nhiều mối thù trên giang hồ, bất cứ là danh môn chính phái hay lục lâm hắc đạo có rất nhiều người đang muốn kiếm y giết cho hả dạ. Nếu xưa kia y chưa bị mù thì y không sợ gì hết, tự tin có thể đối địch được với những kẻ thù đó. Y cũng biết nếu lúc y bị kẻ địch vây đánh, vợ chồng Thuý Sơn tất không thể khoanh tay đứng yên được, mà một khi sự chiến đấu đã bùng nổi thì thế nào bốn người cũng bị hoạ lây và chết hết. Y đã suy tính mãi nhưng không dám cho vợ chồng Thuý Sơn hay, chờ đến khi chia tay y mới nói ra.

Tạ Tốn thấy Vô Kỵ thổ lộ mấy câu chân thành, lòng cũng cảm động vô cùng, bèn ẵm Vô Kỵ lên và khẽ hỏi:

– Vô kỵ, đứa con ngoan của ta, con hãy nghe nghĩa phụ nói, nghĩa phụ đã lớn tuổi, mắt lại mù ở đây cảm thấy dễ chịu hơn. Chớ nghĩa phụ về Trung nguyên, đi đâu cũng không được quen như ở đây thì chẳng sung sướng gì.

Vô Kỵ đỡ lời:

– Thưa nghĩa phụ, khi về tới Trung nguyên, con sẽ hầu hạ nghĩa phụ suốt ngay ở bên cạnh nghĩa phụ. Nghĩa phụ ăn uống gì con xin dâng tới liền, như vậy không sung sướng sao?

– Không, ta nhận thấy ở đây sung sướng hơn.

– Con cũng nhận thấy ở đây sung sướng

Nói tới đó, Vô Kỵ quay lại nói với vợ chồng Thuý Sơn:

– Thưa cha mẹ, chi bằng chúng ta cùng ở lại.

Tố Tố đáp:

– Ðại ca có điều chi lo ngại, xin cứ nói, chúng ta cùng tính toán. Nếu một mình đại ca ở lại đây, thì chúng tôi bất cứ người nào cũng không tán thành.

Tạ Tốn

– Ba người đối với ta tình nghĩa thâm trọng như vậy, thì khi nào họ can đảm bỏ ta mà đi!

Chỉ sợ nói tới mồm mép khô hết cũng không sao khuyen nổi họ, ta phải nghĩ cách khác thì họ mới rời khỏi đây.

Thuý Sơn bỗng nói:

– Phải chăng đại ca sợ kẻ thù quá nhiều liên luỵ đến chúng tôi phải không? Bốn chúng ta trở về Trung nguyên kiếm một nơi thật hoang vu và ít người tới để ẩn cư, không giao dịch với người ngoài. Như vậy có phải là yên ổn không ? Hay tốt nhất là lên ở trên núi Võ Ðang vậy? Ai cũng không ngờ Kim mao sư vương lên ẩn núi Võ Ðang.

Tạ Tốn nghe Thuý Sơn nói như vậy, vẻ mặt đầy kiêu ngạo đáp:

– Hừ đại ca của ngũ đệ tuy không ra gì nhưng không phải nhờ đến và dưới trướng của Trương chân nhân.

Thuý Sơn hối hận vì lỡ lời, bèn chữa lại:

– Võ công của đại ca không kém sư phụ của đệ? Vậy thì chúng ta trở về Hồi Cương Tây Tạng, hay ra ngoài sa mạc đâu đâu chẳng có nơi để cho chúng ta ở một cách tự nhiên.

Tạ Tốn tiếp lời:

– Trên thế gian này không có nơi nào hoang vu như hòn đảo này. Chẳng hay các người có đi hay không?

Thuý Sơn đáp:

– Ðại ca không đi chúng tôi cũng ở lại hết.

Tố Tố và Vô Kỵ cũng đều đông thanh:

– Chúng tôi đều ở lại đây cả.

Tạ Tốn thở dài một tiếng rồi nói:

– Thôi được, như vậy tất cả đều ở lại chờ ta chết đã rồi các người hãy đi cũng không muộn.

Thuý Sơn vội đỡ lời:

– Ðại ca nói rất phải. Chúng tôi ở trên đảo này đã được mười năm, dù chúng tôi có ở lại thêm năm mười năm nữa cũng không sao hà tất phải vội vàng.

Tạ Tốn bỗng quát lớn:

– Sau khi ta chết rồi, các người không có còn lý do lưu luyến nơi đây chớ?

Vợ chồng Thuý Sơn và Vô Kỵ đều ngạc nhiên, chỉ thấy Tạ Tốn rút thanh bảo đao Ðồ long ra kêu soẹt một tiếng rồi đưa đao vào cổ định cứa.

Thuý Sơn kinh hãi la lên:

– Chớ có chém phải Vô Kỵ.

Chàng tự biết võ công của mình không thể nào ngăn cản nổi Tạ Tốn nên chàng mới vội kêu đừng chém phải Vô Kỵ. Quả nhiên Tạ Tốn ngẩn người thâu ngay đao lại quát hỏi:

– Cái gì thế.

Thấy y đã cương quyết như vậy, Thuý Sơn biết có khuyên cũng vô ích nên chàng nức nở khóc và nói:

– Ðại ca đã quyết như vậy, tiểu đệ đành phải chấp nhận vậy.

Nói xong, chàng quì xuống lạy mấy lạy.

Trái lại Vô Kỵ lớn tiếng nói:

– Nghĩa phụ không đi con cũng không đi. Nghĩa phụ tự tử con cũng tự tử theo. Ðại trượng phu đã nói được là làm được. Nghĩa phụ kề dao vào cổ con cũng kề dao vào cổ theo.

Mấy lời của Vô Kỵ khiến Tạ Tốn không biết xử lý ra sao, liền nghĩ:

– Tuy tuổi của Vô Kỵ còn nhỏ, nhưng thằng nhỏ này ăn nói rất mực thước. Ta lấy cái chết ra uy hiếp, không ngờ nó cũng bắt chước ta uy hiếp lại ta.

Y vừa nghĩ vừa lớn tiếng nói:

– Tiểu quỉ không được ăn nói như vậy!

Ðoạn y túm cổ Vô Kỵ lên và tung mạnh thằng nhỏ xuống dưới bè, tiếp theo y lại nhanh tay tung cả Thuý Sơn và Tố Tố xuống bè nữa. Thấy ba người đã đứng yên trên bè gỗ, y liền lớn tiếng nói:

– Ngũ đệ, Tố muội, Vô Kỵ! Ba người thuận buồm xuôi gió mà trở về Trung thổ nhé!

Con ngọc diện hoả hầu cũng tung mình nhảy theo xuống bè.

Vô Kỵ lớn tiếng khóc lóc và kêu gọi:

– Nghĩa phụ! nghĩa phụ!

Tạ Tốn giơ ngang con đao lên đe doạ:

– Nếu con còn nhảy lên trên bờ này thì tình nghĩa của đôi ta sẽ cắt đứt từ đây!

Lúc ấy sóng bể rất lớn, chỉ trong giây lát đã đẩy cái bè gỗ ra ngoài xa.

Vợ chồng Thuý Sơn và Vô Kỵ thấy hình bóng của Tạ Tốn càng ngày càng xa nhỏ dần.

Thuý Sơn với Tố Tố biết người nghĩa huynh đã quyết tâm như vậy, có nói nhiều cũng vô ích đành phải giơ tay gạt lệ

ra đi. Chờ tời khi không còn thấy hình bóng Tạ Tốn nữa, ba người mới chịu quay mặt về phía trước.

Vô Kỵ nằm gục vào lòng mẹ, khóc tới lúc mỏi mệt mới thôi.

Cái bè gỗ cứ theo chiếu gió và chiều nước trôi thẳng về hướng Nam. Trên bể cả mênh mông tất nhiên Thuý Sơn không thể nào nhận ra được phương hướng, nhưng chàng cứ thấy hằng ngày mặt trời mọc lên ở phía tay trái và lặn ở phía tay phải. Tói đến, sao Bắc đẩu mọc ở phía sau lưng lập loè, mà cái bè gỗ cứ trôi đi không ngừng, chàng biết đất Trung nguyên càng ngày càng gần. Hai mươi ngày đầu, e sợ va chạm vào những tảng băng trôi, Thuý Sơn không dám giương buồm lên cho bè trôi nhanh. Tuy nhiên chiếc bè trôi chậm nhưng rất an toàn, mỗi khi va chạm vào tảng băng lớn là chỉ khẽ đụng một cái, bè gỗ lại lướt qua ngay.

Cho tới khi không còn thấy những tảng băng trôi chàng mới dám giương buồm lên. Nhờ sức gió Bắc thổi suốt ngày đêm nên bè gỗ chạy bằng buồm nhanh hơn trước gấp bội. Cũng may dọc đường không hề gặp trận bão nào, chàng yên chí có hy vọng trở về được Trung nguyen.

Trong một tháng trời vợ chồng Thuý Sơn chỉ sợ Vô Kỵ đau lòng nên không dám nhắc nhở tới chuyện Tạ Tốn.

Hôm đó, Tố Tố thấy mặt bể yên lặng chiếc buồm gió thổi nên căng thẳng, bè gỗ nhanh nhẹn tiến thẳng về phía Nam. Nàng nghĩ tới Tạ Tốn không sao nhịn được, bèn lên tiếng :

– Ðại ca không những võ công cao siêu mà lại biết cả thiên thời địa lý quả thật là một kỳ nhân.

Vô Kỵ bỗng lên tiếng hỏi:

– Thưa mẹ, cứ nửa năm trời thổi gió Nam nửa năm thổi gió Bắc, sang năm chúng ta trở lại Băng Hoả Ðảo thăm nghĩa phụ nhé.

Thuý Sơn mừng rỡ đáp:

– Vô Kỵ con nói rất phải, chờ tới khi con lớn lên trở thành người chúng ta lên miền Bắc .

Tố Tố đột nhiên chỉ về phía Nam la lớn:

– Cái gì kia thế?

Mọi người đều nhìn theo phía đó, thấy đằng xa có hai chấm đen như ẩn như hiện, Thuý Sơn kinh hãi hỏi:

– Chắc là cá kình? Nếu là cá kình tới đây phã bè gỗ thì chúng ta lâm nguy.

Tố Tố nhìn một lát rồi đáp:

– Không phải cá kình đâu. nếu là cá kình thì đầu phải có vòi nước phun lên chứ?

Ba nàng cứ nhìn hai chấm đen ấy mãi cho tới một tiếng đồng hồ sau, Thuý Sơn mới la lên:

– Thuyền đấy! thuyền đấy!

chàng sung sướng đến nỗi nhảy tung lên lộn hai vòng. Từ khi sinh Vô Kỵ tới giờ suốt ngày bận rộn, chàng chưa hề có hành động như trẻ con như vậy bao giờ, Vô Kỵ thấy cha như vậy cũng cười ha hả và bắt chước nhảy theo, lộn hai vòng như thế.

Tố Tố vội lấy củi và mỡ cá để thành một đống rồi đốt.

Bè lại đi được hơn một tiếng đồng hồ nữa, mặt trời đã xế chiều. Mọi người đá thấy rõ hai chấm đen đó là hai chiếc thuyền lớn.

Tố Tố bỗng run bây bẩy, sắc mặt thay đổi. Vô Kỵ thấy vậy ngạc nhiên hỏi:

– Mẹ làm sao thế

Ðôi môi của Tố Tố mấp máy mà nàng không nói ra lời.

Thuý Sơn cũng có vẻ hoảng sợ, vội nắm tay vợ để trấn an. Tố Tố thở dài một tiếng rồi mới nói được:

– Vừa về tới đã gặp liền.

Thuý Sơn vội hỏi:

– Cái gì thế?

Tố Tố đáp:

– Anh thử nhìn hai chiếc buồm đai xem.

Thuý Sơn nhìn một hồi thấy hai chiếc buồm phía trái có vẽ một bàn tay đỏ như máu, năm ngón tay giương ra trông rất quái dị, liền hỏi:

– Cái buồm của chiếc thuyền dó tại sao lại vẽ bàn tay đỏ kỳ lạ như vậy? Em nhận biết thuyền đó của ai ?

Tố Tố khẽ đáp;

– Thuyền của Bạch My Giáo , của cha em đấy!

Thuý Sơn liền nghĩ ngợi lung tung:

– Cha nàng là giáo chủ Bạch Mi Giáo, tà giáo đó chuyên làm những việc ác độc, vậy lúc ta gặp nhạc phụ nên đối xử ra sao? Ðối với cuộc hon nhân này, liệu ân sư có phê phán gì không?

Chàng đang nghĩ, thấy bàn tay Tố Tố ở trong mình đang run. Lúc này nàng cũng đang nghĩ ngợi nhiều chuyện lắm. Chàng liền hỏi vợ:

– Tố Tố con của chúng ta cũng lớn rồi, thì dù lên trời hay xuống đất, chúng ta cũng không bao giờ chia rẽ em nhé. như vậy em còn lo ngại gì nữa?

Tố Tố thở dài một tiếng , quay đầu tủm tỉm cười và khẽ nói:

– Chỉ mong anh thương thằng Vô Kỵ mà đừng có hành hạ khiến em đau lòng là em yên tâm rồi.

Xưa nay Vô Kỵ chưa hề thấy thuyền bao giờ nên y cứ ngắm hai chiếc thuyền đó hoài, nên y không để ý đến cha mẹ đang nói gì. Cái bè gỗ càng phút càng tới gần chiếc thuyền .

Nếu phương hướng không thay đổi thì chiếc bè sẽ đi tréo hướng với hai chiếc thuyền nọ.

Thuý Sơn vội hỏi vợ:

– Sao em không ra hiệu với hai chiếc thuyền đó, hỏi thăm tin tức của cha ra sao?

Tố Tố đáp:

– Khỏi ra hiệu làm chi. Chờ về tới Trung nguyên em sẽ dẫn anh và Vô Kỵ đi yết kiến cha.

Thuý Sơn thấy Tố Tố nòi vậy cũng phải, bèn đáp:

– Ừ, thế cũng được.

Vô Kỵ bỗng la lớn:

– Cha mẹ coi kìa. Người trên hai chiếc thuyền đang đánh nhau đấy.

Thuý Sơn ngửng lên nhìn thấy trong một chiếc thuyền nọ có anh sáng đao thấp thoáng và hình như có bốn năm người đang đấu với nhau.

Tố Tố có vẻ lo ngại nói:

– Không biết cha em có trên thuyền đó không?

Thuý Sơn vội đỡ lời:

– Khi bè chúng ta tời gần, chúng ta thử nhảy sang bên thuyền ấy xem sao.

Nói xong chàng co dây buồm để cho chiếc bè tiến thẳng về phía hai chiếc thuyền kia.

Hai tiếng đồng hồ sau, chiếc bè mời tới gần hai chiếc thuyền thì người trên thuyền Bạch Mi Giáo lớn tiếng nói:

– Chúng ta đang có cuộc buôn bán đứng đắn, những khách không liên quan tới nên tránh xa.

Tố Tố lớn tiếng gọi:

– Chẳng hay vị trại chủ nào đang thắp nhang thế?

Lời nói của nàng là tiếng lóng của Bạch Mi Giáo, người trên thuyền Bạch Mi Giáo đã cung kính đáp:

– Thưa Thiên thị đường Lý hương chủ và Thần xà Ðàn Phong đàn chủ, Thanh Long Ðàn Trình Ðàn chủ thống lãnh anh em đi ra khỏi làm ăn buôn bán. Chẳng hay bên đó là vị Hương chủ nào?

Tố Tố liền đáp:

– Tía vi Ðường hương chủ đây.

Những người trên thuyền kia nghe Tía vi Ðường liền xôn xao loạn xạ một hồi. một lát sau có mười mấy người đồng thanh kêu la:

– Hân cô nương đã về Hân cô nương đã về!

Tuy ăn ở với nhau mười mấy năm trời, Thuý Sơn chưa hề nghe Tố Tố nói tới chuyện của Bạch Mi Giáo, và chàng cũng không bao giờ hỏi nàng về chuyện Bạch Mi Giáo. Lúc này chàng nghe hai bên đối đáp, mới biết vợ mình là Tía vi Ðường Hương chủ. Chàng cũng biết địa vị của Hương chủ cao hơn Ðàn chủ một bậc. Ở trên đảo Vương Bàn Sơn, chàng đã có dịp thấy võ công của hai đàn chủ Huyền Võ và Chu tước cao siêu hơn Tố Tố một chút. Sở dĩ Tố Tố được giữ chức Hương chủ là nhờ nàng là con gái giáo chủ. Như vậy, Lý Hương chủ của Thiên thị Ðường tất phải là một nhân vật lợi hại.

Tiếp theo đó, trên chiếc thuyền ở phía đối diện có giọng già lên tiếng nói:

– Nghe nói Hân cô nương của tệ giáo đã trở về, vạy chúng ta hãy tạm ngưng chiến chẳng hay quí vị nghĩ sao?

Một giọng nói rất lớn đáp:

– Ðược, chúng ta hãy ngừng chiến trước.

Tiếng nói đó vừa dứt tiếng khí giới va chạm ngừng theo liền, các đấu thủ của hai bên đều đứng lui về phía sau. Thuý Sơn nghe giọng nói rất lớn đó quen thuộc lắm nên ngơ ngác giây lát và nhớ ra lớn tiếng gọi:

– Có phải Dư Liên Châu sư ca đó không?

Người đứng trên thuyền bên kia liền trả lời:

– Ta chính là Dư Liên Châu ủa ủa ai ai

Thuý Sơn vội tiếp;

– Tiểu đệ là Trương Thuý Sơn đây.

Chàng vừa trả lời vừa cảm động vô cùng. Chiếc bè trên cách hai chiếc Thuý Sơn chừng mười mấy trượng, chàng liền nhặt một tấm ván lớn ném xuống mặt bể, đông thời tung mình nhảy lên cao chờ tấm ván nọ rơi xuống mặt nước, liền hạ chân xuống mặt tấm ván đó mượn sức nhảy lên luôn một lần nữa, là đã lên được trên mặt thuyền rồi.

Hai huynh đệ xa cách nhau hơn mười năm, đều không hay tin của nhau.

Liên Châu vội chạy lại ôm choàng lấy Thuý Sơn.

Hai người mừng rỡ không tả, người gọi “tam đệ” kẻ kêu “nhị ca” luôn mồm, cả hai cùng ứa nước mắt không sao nói nên lời.

Còn người bên chiếc thuyền kia thì bận nghênh đón Hân Tố Tố, bốn cái tù và thổi vang động một góc bể, rồi tới Phong Trình hai Ðàn chủ sau cùng là hơn trăm giáo chúng của Bạch Mi Giáo. Giữa thuyền và bè có bắc ngang một chiếc lều gỗ, còn bảy tám thuỷ thủ tay cầm sào dài có móc, móc chặt vào cái bè cho khỏi trôi đi.

Tố Tố dắt tay Vô Kỵ thủng thẳng đi trên cái cầu gỗ.

Thì ra trong Bạch Mi Giáo, địa vị cao nhất tất nhiên là Giáo chủ Bạch Mi Giáo Ưng Vương Han Thiên Chính, sau đó ba nội đường là Thiên Vi, Tía Vi và Thiên Hương, năm ngoại đàn là Thần Xà, Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Võ và Chu Tước. Hương chủ Thiên Vị Dường là con trai của giáo chủ Hân Dã Vương. Hương chủ Tía Vi Ðường là Tố Tố, còn Thiên Hương Ðường chủ là Lý Thiên Viên, sư đệ của Hân giáo chủ. Võ công của Lý Hương chủ rất cao siêu nên Tố Tố không dám ra điều bề trên của ai cả.

Thấy Tố Tố quần áo lam lũ, tay lại dắt đứa nhỏ, Lý Thiên Viên có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn làm ra vẻ hân hoan tiếp đón vừa cười vừa hỏi:

– Bấy lâu nay cháu đi đâu thế? Thực là cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho cháu được bình an trở về. Trong mười mấy năm nay, cha cháu nhớ cháu lắm.

Tố Tố vái lạy và đáp:

– Sư thúc cùng quí vị đều mạnh giỏi chứ?

Nói tới đó nàng quay lại bảo Vô Kỵ:

– Con mau vái lạy sư thúc tổ con đi.

Vô Kỵ quì xuống vái lạy, hai mắt cứ nhìn thẳng Lý Thiên Viên. Ðứa bé đột nhiên thấy thuyền có nhiều người trong lòng không khỏi lấy làm lạ.

Tố Tố đứng dậy rồi nói tiếp:

– Thưa sư thúc, đứa con của cháu tên là Vô Kỵ.

Lý Thiên Viên ngơ ngác nhìn Vô Kỵ giây lát, rồi ha hả cười và nói:

– Hay lắm! Hay lắm! Thế nào cha cháu cũng mừng rõ đến phát điên lên được. Không những ông ta được thấy lại con gái bình yên trở về mà còn đem theo đứa cháu ngoại tuấn tú đến thế nữa.

Tố Tố thấy mặt thuyền dính đầy máu tươi và trên thuyền của cả hai bên đều có mấy cái xác nằm ngổn ngang.

Nàng khẽ hỏi :

– Ðối phương là ai thế? Tại sao lại đấu nhau kịch liệt như vậy?

Lý Thiên Viên đáp:

– Ðối phương là người của Võ Ðang và Côn Luân.

Tố Tố thấy chồng mình là nhảy sang thuyền phía trước đang cùng một người ôm chặt lấy nhau và gọi người đó là sư ca, nên đã biết bên đối phương có người của phái Võ Ðang rồi.

Bây giờ nàng nghe Lý Thiên Viên nói rõ ra bèn cau mày đề nghị:

– Tốt hơn hết chúng ta đừng đánh vội, xem có thể hoà giải ngay đi.

– Tại hạ vâng lời ngay.

Tuy là sư thúc nhưng địa vị của Thiên Vi Ðường kém hơn Tía Vi đường, Lý Thiên Viên phải tuân theo ý kiến của Tố Tố.

Lúc ấy Thuý Sơn ở bên thuyền nọ lớn tiếng gọi:

– Tố Tố dắt Vô Kỵ sang đây yết kiến sư ca của ta.

Tố Tố dắt Vô Kỵ bước sang thuyền của phe kia, Lý Thiên Viên và Phong Trình nhị vị đàn chủ sợ nàng bị đối phương đánh lén nên cả ba cùng theo sang thuyền đó.

Năm người vừa lên tới thuyền nọ thì đã có bảy tám người đứng chờ. Một người, cao và gầy, tuổi ngoài bốn mươi, đang cầm tay Thuý Sơn, trông có vẻ thân mật lắm. Thuý Sơn lên tiếng giới thiệu liền:

– Tố Tố, đây là Dư nhị sư ca mà anh vẫn thường nói.

Chàng lại nói vói Liên Châu:

– Thưa nhị sư ca, đây là em dâu và cháu của nhị sư ca tên là Vô Kỵ.

Liên Châu và Lý Thiên Viên nghe chàng giới thiệu xong, liền kinh ngạc vô cùng.

Bạch Mi Giáo đang lúc chiến đấu vói phái Võ Ðang, ngờ đâu hai nhân vật quan trọng của hai bên lại là vợ chồng còn sinh hạ một đứa bé trai nữa.

Liên Châu biết ẩn tình bên trong còn rất phức tạp, trong chốc lát không sao nói hết được những nguyên uỷ ấy, nên chàng cứ bình tĩnh giới thiệu các người đang có mặt tại đó cho Thuý Sơn.

Lão đạo sĩ đội mũ vàng, vừa béo vừa lùn tên Tây Hoa tử, thuộc phái cđ.

Trung niên ác phụ là sư muội của Tây Hoa Tử, một cao thủ khét tiếng trong võ lâm tên là Vệ Tử Nương, người trong giang hồ cứ gọi tên là Thiểm Diện Nương Nương (nàng sấm chớp). Còn mấy người kia đều là cao thủ của phái Côn Luân, nhưng kém Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương xa.

Tuy già nua, Tây Hoa Tử vẫn còn nóng như lửa, chờ Liên Châu giới thiệu xong, liền lên tiếng hỏi Thuý Sơn ngay :

– Trương ngũ hiệp, tên ác tặc Tạ Tốn ở đâu? chắc ngũ hiệp phải biết rõ?

Chưa về tới Trung thổ, còn ở lênh đênh trên mặt biển mênh mông mà Thuý Sơn đã gặp ngay hai vấn đề nan giải: thứ nhất là môn phái Võ Ðang xung đột kịch liệt với Bạch Mi Giáo, thứ hai là vừa lên thuyền người ta đã hỏi ngay Tạ Tốn ở đâu. chàng không biết trả lời ra sao cho phải, đành quay sang hỏi Liên Châu:

– Nhị sư ca, chẳng hay chuyện gì thế?

Tây Hoa Tử thấy Thuý Sơn không trả lời câu hỏi của mình liền nổi giận lớn tiếng quát tháo:

– Ngũ hiệp không nghe lời nói của mỗ hay sao? Hiện giờ ác tặc Tạ Tốn ở đâu?

Thì ra địa vị của y ở phái Côn Luân đã cao, võ công lại siêu tuyệt nên xưa nay y vấn ngang tàng quen thói.

Thần xà Ðàn Phong đàn chủ của Bạch Mi Giáo vốn là người hay nói bóng nói gió và mỉa mai rất giỏi, đông thời y thấy trong trận đấu vừa rồi bên Bạch Mi Giáo có hai đệ tử bị kiếm của Tây Hoa Tử giết, nên tức giận vô cùng, liền lạnh lùng nói:

– Trương ngũ hiệp là ái tế của Giáo chủ Bạch Mi Giáo, mong bạn ăn nói lễ phép một chút.

Tây Hoa Tử cả giận quát lớn vừa đáp:

– Yêu nữ của tà giáo phối hôn cùng với đệ tử của danh môn chính phái sao được? Cuộc hôn nhân này thế nào cũng có sự rắc rối bên trong.

Phong đàn chủ cười nhạt đáp:

– Hân Giáo chủ có cháu ngoại rồi, người còn nói bậy bạ như vậy ích gì?

Tây Hoa Tử càng giận thêm:

– Con yêu nữ này..

Vệ Tứ Nương đã biết ró dụng ý của Phong đàn chủ là muốn ly gián tình cảm giữa hai phái Võ Ðang và Côn Luân, đông thời y lại nhân dịp này lấy lòng Thuý Sơn và Tố Tố. Mụ thấy Tây Hoa Tử đang định giở những lời lẽ thô lỗ ra, nên vội nói:

– Sư huynh hà tất phải cãi nhau suông với y làm gì? Chúng ta hãy đợi xem Dư đại hiệp chỉ thị ra sao đã.

Liên Châu nhìn Thuý Sơn lại nhìn Tố Tố trong lòng hoài nghi rồi nói:

– Quí vị hãy vào trong khoang ngồi chơi rồi chúng ta sẽ bàn thảo quyết định sau. Ðồng thời, chúng ta còn phải cứu chữa cho những anh em hai bên bị thương trước đã.

Lúc này, phe Bạch Mi Giáo là khách mà người có địa vị cao nhất của phái này là Tố Tố Hương chủ của Tía Vi Dường, nên nàng dắt tay Thuý Sơn đi trước, rồi tới những người khác. Khi Phong đàn chủ vừa vào tới trong khoang thuyền đã cảm thấy có một luồng gió nhẹ đột nhiên thổi vào ngang lưng. Vốn là người giàu kinh nghiệm giang hồ nên y biết ngay

là Tây Hoa Tử đánh trộm mình, nhưng y không ra tay chống đỡ chỉ nhảy về phía trước tránh khỏi thế công có thể Tây Hoa Tử và la lên:

– Oi chà, đánh lén đấy à?

Ai nấy đều quay đầu nhìn hai người, Vệ Tứ Nương trợn trừng mắt nhìn sư huynh một cái, Tây Hoa Tử hổ thẹn vô cùng hai má đỏ bừng. Vì bọn Phong đàn chủ đã tới trên thuyền này đều là khách cả, nay Tây Hoa Tử đánh lén đánh trộm như vậy đã tự làm mất phẩm giá của danh môn chính phái.

Mọi người phân khách chủ ngồi lại hai bên, Tố Tố ngồi ghế thủ tịch bên phía khách, Vô Kỵ đứng ngay bên cạnh.

Liên Châu ngồi ghế thủ tịch phía chủ, đoạn chỉ cái ghé ở bên dưới Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương và nói với Thuý Sơn:

– Ngũ sư đệ ngồi ghế này đi.

Thuý Sơn vâng lời ngồi xuống ghế liền. Thế là hai vợ chồng Thuý Sơn chia ra hai phe đối địch nhau nữa.

Trong mười năm Thuý Sơn mất tích, không biết tồn vong ra sao, Dư Ðại Nham bị thương nặng không hạ sơn, lộ diện ngoài giang hồ nữa. Còn lại Võ Ðang ngũ hiệp, nhưng tên tuổi của năm người đã lừng lẫy hơn xưa nhiều, đã nghiễm nhiên đương đầu được với các vị cao tăng thiếu lâm nên người trong giang hồ rất kính nể. Cũng vì thế vai vế của Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương cao thực, nhưng hai người cũng phải nhường cho Liên Châu ngồi ghế đầu.

Các đệ tử trong thuyền đều đem trà thơm ra đãi. Mọi người đều không nói đến chuyện chính chỉ khách sáo vài câu thôi. Liên Châu thầm suy tính “Thuý Sơn đã mất tích mười năm rồi, mà y đã ở với con gái Bạch Mi Giáo chủ thành chồng vợ. Lúc này trước mắt mọi người y cũng khó lòng nói ra sự thực được.

Ðoạn chàng lớn tiếng nói:

– Chúng tôi Thiếu lâm, Côn Luân, nga my, không động, Võ Ðang năm phái thân huyền, ngũ phụng đạo vân vân, chín môn và Hải sa phái, cự kình bang bảy môn tất cả hai mươi mốt bang hội họp tại đây mục đích là tìm tung tích của Kim mao sư vương Tạ Tốn, Bạch Mi Giáo Hân cô nương và tệ sư đệ Trương Thuý Sơn. Vì vậy, mới có sự hiểu lầm với Bạch Mi Giáo, hai bên giao đấu không may đều có người chết và bị thương. mười năm nay, võ lâm vì thế mà xáo trộn.

Nói tới đây, chàng ngừng giây lát và tiếp:

– May trời xanh còn run rủi, Hân cô nương và Trương sư đệ cùng xuát hiện trên mặt bể. Câu chuyện mười năm qua rất phức tạp tất nhiên không thể một đôi lời mà nói hết được. Theo ý tại hạ, chúng ta hãy trở về đại lục để Hân cô nương thưa rõ lại với Giáo chủ còn tệ sư đệ cũng về Võ Ðang bẩm báo lại gia sư, rồi hai bên chọn một địa điểm để gặp nhau, phân biệt phải trái nếu từ đó trở đi có thể hóa địch thành bạn thì may biết bao..

Tây Hoa Tử đột nhiên xen lời :

– Hiện giờ ác tặc Tạ Tốn ở đâu? chúng tôi chỉ cần kiếm ác tặc đó thôi.

Thuý Sơn lúc này mới biết hai mươi hai bang hội ở trung nguyên vì tìm kiếm ba người mà gây thành nhiều trận kịch đấu. Vì vậy chàng áy náy vô cùng, nay lại thay Tây Hoa Tử cứ hỏi tung tích Tạ Tốn luôn mồm, chàng lại càng phân vân và khó xử, chàng nghĩ:

– Nếu ta nói ra thì sẽ có không biết bao nhiêu võ lâm cao thủ đi tìm nghĩa huynh trả thù. Nếu ta không nói, khi nào bọn họ chịu để yên.

Chàng đang trù trừ không biết giải quyết ra sao thì Tố Tố đột nhiên lên tiếng nói:

– Ác tặc Tạ Tốn giết người như rạ, chuyên tạo các tội ác, đã chết từ chín năm trước đây rồi.

Liên Châu, Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương đồng thanh hỏi:

– Ác tặc Tạ Tốn chết thật ?

Tố Tố nói:

– Phải. Chính hôm tôi sinh đứa bé này, ác tặc Tạ Tốn phát điên định giết chết ngũ ca và tôi , y nghe tiếng tiếng trẻ con khóc bệnh tim của y nổi lên thế là ác tặc Tạ Tốn đã ngã lăn ra chết liền.

Lúc ấy, Thuý Sơn mới rõ Tố Tố bảo ác tặc Tạ Tốn đã chết không phải là nói ngoa, vì từ lúc Vô Kỵ khóc chào đời, Tạ Tốn đã thay tâm đổi tánh cải ác hương thiện, nhất là khi ba người rời khỏi hoang đảo, lòng xả kỷ vị nhân của y và hành động đại nhân đại nghĩa đó quả thật có thể nói là ác tặc Tạ Tốn đã chết từ chín năm về trước và người hiền Tạ Tốn mới sinh ra tự lần đó.

Tây Hoa Tử không tin lời Tố Tố, vì y cho nàng là tà giáo yêu nữ nên mới lớn tiếng hỏi Thuý Sơn:

– Trương ngũ hiệp chẳng hay có thực ác tặc Tạ Tốn đã chết rồi không?

Thuý Sơn thản nhiên đáp;

– Phải, ác tặc Tạ Tốn đã chết từ chín năm nay rồi.

Vô Kỵ đứng cạnh đó nghe các người thống mạ Tạ Tốn hoài và cha mẹ y lại còn bảo Tạ Tốn đã chết nên tuy thông minh nhưng y có biết đâu những chuyện rắc rồi lôi thôi ở trong võ lâm mà chỉ biết Tạ Tốn đối với y ân nghĩa thâm sâu coi y như con đẻ, vả lại bản tánh y lại rất trung hậu vì vậy y không sao nhịn được bèn khóc oà lên và lên tiếng kêu la:

– Nghĩa phụ của Vô Kỵ không phải là ác tặc, nghĩa phụ không chết!

Mấy tiếng khóc và kêu la đó khiến mọi người có mặt trong khoang thuyền đều ngạc nhiên vô cùng, Tố Tố quá giận tát Vô Kỵ một bạt tai và quát:

– Câm mồm!

Vô Kỵ vừa khóc vừa trả lời:

– Mẹ tại sao mẹ lại bảo là nghĩa phụ chết rồi? nghĩa phụ vấn còn sống hẳn hoi mà.

Bình sinh y chỉ ở với cha mẹ và nghĩa phụ, tuy trí lực của y hơn người thương rất nhiều nhưng long người hiểm độc thì y không thể hiểu nổi. Nếu là một đứa trẻ được lăn lóc trên giang hồ từ lâu, dù thông minh chỉ bằng nửa y thôi cũng phải biết nói dối trá không bao giờ gây nên mối tai hoạ như vậy. Tố Tố lại trách mắng con:

– Người lớn đang nói chuyện, trẻ con lắm mồn như thế làm gì ? Chúng ta nói đây là ác tặc Tạ Tốn chứ có phải là nghĩa phụ của con đâu.

Vô Kỵ ngơ ngác trong lòng không phục nhưng y cũng không dám nói tiếp nữa.

Tây Hoa Tử cười nhạt và hỏi Vô Kỵ:

– Em bé, có phải Tạ Tốn là nghĩa phụ của em không? Hiện giờ y ở đâu?

Vô Kỵ liếc nhìn cha mẹ biết cha mẹ vừa nói như vậy rất quan trọng, nên y lắc đầu và trả lời:

– Tôi không nói.

Tuy y trả lời như vậy, nhưng sự thật y đã nói rõ cho mọi người hay Tạ Tốn chưa chết.

Tây Hoa Tử trợn mắt nhìn Thuý Sơn và hỏi:

– Trương huynh,chẳng hay Hân cô nương của Bạch Mi Giáo có phải là quí phu nhân không?

Thuý Sơn không ngờ y hỏi cây hỏi ấy, liền trả lời:

– Phải nàng chính là chuyết kinh (vợ tôi)

Tây Hoa Tử lại lớn tiếng hỏi tiếp:

– Hai đệ tử của phái côn luân chúng tôi bi tôn phu nhân đánh cho sống dở chết dở chẳng hay món nợ này thanh toán ra sao?

Thuý Sơn và Tố Tố đều thất kinh, nhưng Tố Tố đã nhanh mồm nói ngay:

– Chớ có nói bậy

Thuý Sơn cũng nói:

– Chắc bên trong thế nào cũng có sự hiểu lầm, vợ chông chúng tôi đã rời Trung Nguyên hơn mười năm trời thì làm sao đả thương người của quí phái.

Tây Hoa Tử tiếp:

– Mười năm trước Cao Tắc Thành và Tương đào bị Hân cô nương hạ độc thủ.

Tố Tố hỏi:

– Cao Tắc Thành và Tương đào ?

Tây Hoa Tử đáp:

– Trương phu nhân không còn nhớ hai người kó ? Có lẽ phu nhân giết người quá nhiều nên quên hẳn rồi cũng nên?

Tố Tố lại hỏi:

– Hai người ấy bị ra sao? Tại sao bảo là tôi hạ độc thủ?

Tây Hoa Tử ngửng mặt lên trời cười ha hả:

– Bảo tôi đổ vạ cho phu nhân ? Hà hà bây giờ Cao Tắc Thành và Tương Ðào hai người tuy đã ngớ ngẩn mất trí nhưng y còn nhớ ra được một việc và gọi ra tên của một người. Chúng biết chính người đó đã khiến chúng bị như vậy, người đó là Tố Tố..

Y nói với ba chữ Hân Tố Tố giọng nói chứa đầy oán hận, hai mắt nhìn thẳng vào Tố Tố hình như chỉ muốn rút kiếm ra đâm mấy nhát mới hả dạ.

Phong đàn chủ của Bạch Mi Giáo đột nhiên tiếp lời nói:

– Khuê danh của Tía Vi đường Hương chủ của bổn giáo thì khi nào một lão đạo sĩ mà thốt ra miệng được? Chẳng lẽ người không biết giữ thanh qui giới luật sao? Như vậy mi còn đòi làm võ lâm tiền bối ? Trình hiện đệ thử nghĩ coi trên thế gian này có người nào vô sỉ đến thế không?

Trình đàn chủ liền đỡ lời:

– Phong đàn chủ nói rất đúng. Không ngờ trong danh môn chính phái lại có những kẻ cuồng đồ như vậy, thực là buồn cười khôn tả.

Tây Hoa Tử giận như điên và quát lớn:

– Hai người mới là người vô sỉ.

Phong đàn chủ vênh mặt nói với Trình đàn chủ chớ không thèm liếc Tây Hoa Tử chút nào:

– Trình hiền đệ à, người ta đã có học được và thế kiếm pháp trẻ con đùa giỡn thì lúc hành sự và nói chuyện cũng phải tỏ ra người lớn chứ, hiền đệ bảo có dúng không?

Trình đàn chủ đáp:

– Khi Ngọc Hư đạo trưởng qua đời đến nay, quả thực đời sau kém đời trước nhiều.

Ngọc Hư đạo trưởng là sư bá của Tây Hoa Tử, là một người võ công và đức vọng đều cao được người của giới võ lâm khâm phục. Tây Hoa Tử thấy hai người đối đáp như vậy tuy mặt đỏ tai tía nhưng không dám cãi lại câu đó vì y sợ nói lầm lỡ thì chẳng hoá ra minh tự khen mình giỏi hơn sư bá danh trấn thiên hạ năm xưa hay sao? Cho nên y cũng không nói năng gì hết, đi ra ngoài của khoang thuyền rút trường kiếm ra và gọi:

– Ác tặc của tà giáo, có gan thì ra đây thi tài với ta.

Phong đàn chủ với Trình đàn chủ chỉ chọc tức Tây Hoa Tử như vậy là muốn giải vây cho Tố Tố, nên hai người cùng nghĩ:

– Trương Thuý Sơn và Hân hương chủ đã thành chông vợ thì tình giao hữu giữa Võ Ðang và Bạch Mi Giáo đã khác hẳn trước, vậy dù Liên Châu và Thuý Sơn không ra tay ít nhất cũng không giúp cho bên nào cả. Như vậy chúng ta chỉ đối phó với mấy tên Côn Luân thôi, chúng ta sẽ thế náo cũng đắc thắng .

Vệ Tứ Nương cau mày nghĩ thầm:

– Với tài ba của ta cùng bọn sư ca sáu bảy người quyết không địch nổi bấy nhiêu cao thủ Bạch Mi Giáo đâu. huống hồ Thuý Sơn thương vợ như vậy, thế nào y cũng ra tay giúp đối phương .

Ðoạn Yoạn lên tiếng nói;

– Sư ca người ta sang bên thuyền mình tức là tân khách vậy chúng ta nên nghe theo Dư nhị hiệp dặn bảo thì hơn.

Mụ nói như vậy là muốn trút trách nhiệm lên Liên Châu vì mụ biết Liên Châu là người có danh vọng và địa vị. Ngờ đâu Tây Hoa Tử lại nông nổi đến thế chưa chi đã vội lớn tiếng nói:

– Phái Võ Ðang với Bạch Mi Giáo đã kết thông gia với nhau rồi thế nào cũng bênh nhau, như vậy làm gì còn lời nói công chính để phân xử phải trái nữa?

Liên Châu là người rất thâm, vẻ mặt không bao giờ lộ ra ngoài, chàng nghe Tây Hoa Tử nói, cứ lầm lì.

Vệ Tứ Nương vội lên tiếng khiển trách sư huynh:

– Sư ca sao ăn nói bạy bạ như vậy . sư ca phải biết phái Võ Ðang và phái Côn Luân chúng ta tựa như tay trái với tay phải, cùng bắt tay để giao hảo với nhau, nhất là trong mười năm gần đây cùng bắt tay nhau để đối địch kẻ thù, không hề có sự xích mích. Dư nhị hiệp lại là một đâng hảo hán tiếng tăm lừng lẫy khắp giang hồ, người trên thiên hạ ai mà chẳng ngưỡng mộ, ngay như ngũ hiệp của phái Võ Ðang cũng thế, xưa nay hành sự không hề thiên vị bao giờ.

Tây Hoa Tử với giọng mũi hừ một tiếng rồi nói:

– Chưa chắc đã đúng.

Vệ Tứ Nương nghe sư huynh nói vậy chửi thầm:

– Ðồ ngu !

Rồi thấy Tây Hoa Tử không hiểu thấu ý nghĩa lời nói của mình nên mụ lên tiếng tiếp lời:

– Sư ca không có lý do gì sư ca lại bõng dưng thất lễ với ngũ hiệp như vậy. Nếu chưởng môn sư thúc hay biết có trách cứ thì tiểu muội không biết đến đâu nhé!

Tây Hoa Tử nghe sư muội đem chưởng môn ra doạ mới không dám nói tiếp:

Liên Châu chờ sư huynh muội cãi vã xong, mới thủng thẳng nói:

– Việc này liên can đên các đại môn phái, các đại bang hội của võ lâm. Tại hạ vô năng, đâu dám tuỳ tiện xử quyết. Dù sao việc này cũng dây dưa hơn mười năm rồi, bây giờ có đợi thêm một năm hay nửa năm nữa cũng không phải là muộn. Tại hạ cần phải trở về núi vừa bẩm rõ cho ân sư và đại sư huynh rõ để xem ân sư định đoạt ra sao.

Tây Hoa Tử cười nhạt đáp:

– Thủ đoạn của Dư nhị hiệp quả thật cao minh lắm. Thế võ “Nha phong tựa bể” để thoái thác rất tài.

Liên Châu là người không hay nổi giận, nhưng chàng nghe Tây Hoa Tử có vẻ chế diễu Nha Phong tựa bể là thế thủ lừng danh của phái vừa và do ân sư chàng là Trương tam Phong sáng lập, liền nghĩ thầm “Nếu việc này xử trí không khéo, sẽ gây ra tai kiếp rất lớn cho võ lâm và không sao kêt thúc được. Tên đại nhân lỗ mãng này ăn nói bậy bạ ta chấp làm gì”

Tây Hoa Tử thấy Liên Châu chỉ trợn mắt lên liếc nhìn mình một cái thật dài, nhưng y đã sợ hãi và nghĩ thầm: “Sư phụ ta với chưởng môn sư thúc là hai cao thủ mạnh nhất của bổn phái mà cũng không lợi hại bằng Liên Châu”

Liên Châu dịu nét mặt lại và nhẹ nhàng nói:

– Chẳng hay Tây Hoa đạo huynh có cao kiến gì, xin cứ phát biểu, tại hạ vui lòng rửa tai nghe.

Vừa rồi Tây Hoa Tử trông thấy sắc mặt của Liên Châu lòng đã kinh hoảng nay Liên Châu hỏi vậy y liền quay đầu lại hỏi Vệ Tứ Nương:

– Sư muội nghĩ sao? Chẳng lẽ bỏ qua chuyện cao đào hay sao?

Vệ Tứ Nương chưa kịp trả lời bõng nghe ở phía nam các tiếng tù và vọng tới. Một tên đệ tử phái Côn Luân bèn ra ngoài cửa khoang xem và nói :

– Phái Không Ðộng, phái Nga My đã tới tiếng ứng.

Lý thiên Vọng và hai đàn chủ nhìn nhau hơi biết sắc.

Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương nghe nói có người tới giúp lòng cả mừng.

Tứ nương liền lên tiếng:

– Này Dư nhị hiệp, chi bằng đợi Không Ðộng và Nga My tới để xem cao kiến của họ ra sao?

Liên Châu đáp:

– Hay lắm.

Còn Thuý Sơn nghe nói hai phái nọ tới, lòng lại thêm phân vân và nghĩ thầm:

– Phái Nga My thì không sao, riêng có phái Không Ðộng đã kết thâm thù với đại ca đã đả thương không động ngũ lão cướp cuốn thất thương quyền của chúng tất nhiên thế nào chúng cũng phải hỏi ta tung tích của nghĩa huynh ta mới thôi .

Tố Tố đang nghĩ ngợi, nhưng nàng nghĩ khác Thuý Sơn:

– Nếu Vô Kỵ không lắm mồm lắm mép chuyên rất dể . Nhưng nàng nghĩ lại:

– Xưa nay Vô Kỵ không biết nói dối bao giờ, đối với Tạ Tốn lại có tình nghĩa thâm trọng, nay bỗng nhiên nó nghe nói nghĩa phụ của nó đã chết, tất nhiên nó phải khóc lóc kêu la như vậy ta cũng không nên trách .

Nghĩ tới đó , nàng đưa mắt nhìn thấy má của vô kỵ vẫn còn vết bàn tay vá sưng húp lên trông rất tội nghiệp nên nàng động lòng và hối tiếc vô cùng liền ôm ngay Vô Kỵ vào lòng.

Vô Kỵ vẫn còn thắc mắc liền kề tai mẹ khẽ hỏi:

– Thưa mẹ nghĩa phụ con chưa chết phải không?

Tố Tố khẽ trả lời :

– Nghĩa phụ của con chưa chết đâu, mẹ nói dối chúng đó thôi. Vị bọn người này rất độc ác chúng chỉ muốn tìm giết nghĩa phụ con.

Lúc này Vô Kỵ mới hiểu tại sao cha mẹ lại bảo nghĩa phụ đã chết, liền đưa mắt nhìn Liên Châu đến tất cả mọi người một cách uất hận và trong lòng nghĩ thầm:

– Thì ra các người đều độc ác, chỉ mong giết nghĩa phụ của ta thôi .

Bắt đầu từ đó, Vô Kỵ đã bước chân vào giang hồ và cũng bắt đầu hiểu rõ lòng ác độc của người đời. Nó giơ tay lên vuốt má bị tát nghe chừng như còn rát lắm. Nó là một đứa trẻ thông minh nên nó đã biết cái tát đó tuy là do mẹ nó đánh nhưng sự thật là bởi bọn người kia gây nên, nó được cha mẹ và nghĩa phụ yêu thương từ khi mới lọt lòng nó nào biết trên đời này lại có kẻ địch mà họ ác độc như vậy.

Tuy Tạ Tốn đã kể chuyện Thành khôn cho nó nghe, nhưng từ khi nó được nghe cho tới lúc này nó mới đối diện với kẻ địch mà nó đã nghe nói từ trước.

Hồi thứ 20
Ân Oán Triền Miên

Một lát sau có bảy người của Không Ðộng và Nga My tới và đi vào trong khoang thuyền chắp tay chào Liên Châu, Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương.

Người đứng đầu phải Không Ðộng là một ông già áo vải gầy gò.

Người đứng đầu phái Nga My là một ni cô, trạc ba mươi.

Bọn người đó trông thấy Lý Thiên Viên với bọn Bạch My Giáo cùng ngồi trong khoang thuyền ngạc nhiên vô cùng.

Tây Hoa Tử lớn tiếng nói:

– Ðường Tam ca, Tĩnh Hư sư thái ơi, phái Võ Ðang đã bắt tay với Bạch My Giáo rồi đấy. Lần này thì chúng ta bị thiệt thòi rất lớn.

Thì ra ông già áo vải vừa gầy vừa lùn kia họ Ðường, tên là Văn Lượng, một trong ngũ lão của phái Không Ðộng.

Còn ni cô là Tĩnh Hư sư thái của phái Nga mi.

Cả hai đều là cao thủ rất có danh vọng trong võ lâm.

Hai người nghe Tây Hoa Tử có tiếng là nóng tính như thế nào rồi, nên ni cô cũng không thắc mắc cho lắm.

Riêng Ðường Văn Lượng cũng là người nóng tính vừa nghe Tây Hoa Tử nói liền trợn mắt lên nhìn Liên Châu và hỏi:

– Dư nhị hiệp có thật như vậy không?

Liên Châu chưa trả lời, Tây Hoa Tử đã cướp lời:

– Trương Thúy Sơn đã làm nghĩa tế của Hân giáo chủ..

Ðường Văn Lượng ngạc nhiên và hỏi tiếp:

– Sao Trương ngũ hiệp mất tích mười năm nay đã có tin tức rồi hay sao?

Liên Châu giới thiẹu:

– Ðây là ngũ sư đệ của tôi, Trương Thúy Sơn còn đường tam gia đây là cao nhân tiền bối của phái Không Ðộng tên là Văn Lượng.

Hai người vừa nói vài câu khách sáo với nhau thì Tây Hoa Tử đã lên tiếng:

– Trương ngũ hiệp với Hân cô nương biết rõ chỗ ở của Tạ Tốn, nhưng họ không chịu nói ra mà còn bảo là Tạ Tốn đã chết.

Ðường Văn Lượng nghe nói tới Tạ Tốn vừa kinh hãi vừa tức giận hỏi:

– Y ở đâu?

Thúy Sơn đáp:

– Việc này tại hạ phải bẩm rõ cho gia sư hay đã, xin quý vị thứ lỗi, ngay bây giờ tại hạ không tiện báo cáo cùng quý vị hay.

Ðường Văn Lượng hai mắt như nổ lửa hỏi tiếp:

– Ác tặc Tạ Tốn hiện giờ ở đâu? Y đã giết cháu ta tất nhiên họ đường này không thể đội trời chung với y được! Y ở đâu? các người có chịu nói ra không?

Mấy câu sau của y hầu như không có một chút lễ độ nào cả, Tố Tố tức giận vô cùng lạnh lùng đáp:

– Y đã đả thương Không Ðộng ngũ lão, lấy đi Thất Thương quyền sao ngươi không nói luôn thể?

Thì ra từ lúc Tạ Tốn đả thương Không Ðộng ngũ lão, lấy trộm Thất Thương quyền kinh. Mạo danh thành khôn, cho tới bốn 55 sau phái Không Ðộng mới hay. Nhưng vì ngũ lão bị thương quyền kinh lại mất quả thật là một sỉ nhục lớn cho phái Không Ðộng nên người trong phải đều giấu kín không để người ngoài biết, không hiểu tại sao Tố Tố lại biết rõ như thế? Vì vậy, Ðường Văn Lượng vừa nghe Tố Tố nói dứt đã tức giận không sao chịu nổi giương mười ngón tay ra định xông lại tấn công nàng. Nhưng y vừa ngẩng lên thấy Tố Tố là một thiếu phụ diễm lệ, liền nghĩ thầm:

– Ta là một nhân vật có tên tuổi trên giang hồ lẽ nào lại ra tay đánh một thiếu phụ yếu ớt thế kia hay sao? Y cố nén lòng tức giận buông tay xuống, nhìn Thúy Sơn và hỏi:

– Vị này là ai thế?

Thúy Sơn đáp:

– Chuyết kinh đó.

Tây Hoa Tử xen vào:

– Vị này là lệnh ái của Bạch My Giáo chủ đấy.

Bạch My Giáo chủ Hân Thiên Chính võ công cao siêu vô cùng cho tới ngày nay trong giang hồ đối địch vợi y chưa ai chống đỡ nổi mười hiệp.

Ðường Văn Lượng nghe nói thiếu phụ đó là con gái Hân Thiên Chính trong lòng cũng có vẻ hãi sợ, bèn gượng cười nói:

– Ðược lắm! được lắm!

Tĩnh Hư sư thái từ khi vào trong khoang thuyền tới giờ vẫn ngồi yên lúc này mới lên tiếng hỏi:

– Việc này nguyên ủy ra sao? Mong Dư nhị hiệp cho biết rõ?

Liên Châu đáp:

– Việc này liên can rất rộng và đã trải qua mười năm trời rồi, thì trong chốc lát làm sao có thể mổ xẻ phân minh được? Bây giờ có một quyết định là ba tháng sau tệ phái sẽ thiết tiệc tên lầu Hoàng Hạc mời tất cả các môn phái có liên quan đến tiệc này bình luận, chẳng hay quý vị nghĩ sao?

Tĩnh Hư sư thái gật đầu đáp:

– Như vậy cũng tạm được?

Ðường Văn Lượng liền nói:

– Thị phi phải trái ra sao để ba tháng sau tái luận cũng được. Nhưng ác tặc Tạ Tốn ấn núp ở đâu, mong Trương ngũ hiệp cho tại hạ biết trước.

Thúy Sơn lắc đầu đáp:

– Lúc này không tiện nói ra.

Ðường Văn Lượng tuy không bằng lòng nhưng y thấy Võ Ðang liên hiệp với Bạch My Giáo nên cũng không dám hung hăng như trước, liền nghĩ:

– Hãy xem ba tháng sau các người sẽ nói với quần hùng như thế nào?

Thế rồi y không nói thêm lời nào nữa, đứng dậy chấp tay vái chào, như vậy ba tháng sau chúng ta sẽ tái kiến. Xin chào quý vị.

Tây Hoa Tử giơ tay lên vẫy gọi:

– Ðường tam gia có vui lòng cho chúng tôi đo nhờ thuyền của tam gia không?

Ðường Văn Lượng đáp:

– Ðược lắm! Mời quý vị cứ tự tiện.

Tây Hoa Tử liền bảo với Vệ Tứ Nương:

– Sư muội chúng ta đi.

Y với Liên Châu đi cùng thuyền tới đây, nay y lại bỏ sang đi nhờ thuyền của phái Không Ðộng hiển nhiên y đã coi phái Võ Ðang như kẻ địch rồi, Liên Châu không nói nửa lời. tiễn bọn chúng ra cửa thuyền và nói:

– Chúng tôi trở về núi bẩm báo cùng gia sư rõ rồi sẽ gửi thiếp mời quý vị anh hùng tới dự yến.

Tố Tố bỗng nói:

– Tây Hoa Tử đạo trưởng, tiểu muội có một việc muốn thỉnh giáo.

Tây Hoa Tử ngạc nhiên quay đầu lại hỏi:

– Việc gì thế?

Tố Tố đáp, Ðạo trưởng cứ luôn mồm nói tôi là ma giáo yêu nữ, nhưng không hiểu chúng tôi tà ở đâu, yêu chỗ nào? Xin Ðạo trưởng chỉ giáo cho.

Tây Hoa Tử ngẩn người ra giây lát rồi đáp:

– Tà ma ngoại đạo hồ my yêu dâm, đó tức là tà yêu chứ gì nữa, hà tất bần đạo phải nói nhiều làm gì? Bằng không Trương ngũ hiệp của phái Võ Ðang là một người anh hùng như vậy tại sao lại bị cô nương mê hoặc? Hà ha!

Nói xong y cười luôn mồm, Tố Tố liền đỡ lời:

– Tốt lắm, cám ơn đạo trưởng chỉ giáo!

Tây Hoa Tử cũng lấy làm ngạc nhiên vô cùng, vì sao Tố Tố không nói gì nữa liền bước chân lên tấm ván cầu nối để sang thuyền của phái Không Ðộng.

Hai chiếc thuyền đó đều là thuyền lớn ba buồm tuy đậu sát nhau nhưng vẫn còn cách hơn trượng. Tấm ván cầu rất dài. Vì mải nói chuyện với Tố Tố, Tây Hoa Tử phải đi sau cùng, các người đã sang thuyền bên kia rồi mà y vẫn còn ở giữa cầu. Y bỗng nghe phía sau lưng có gió lạnh thổi tới và có tiếng kêu “soẹt” rất khẽ. Y tuy thô lỗ nóng này nhưng võ công khá cao lịch duyệt cũng nhiều, nên biết có người ở sau lưng định hại ngầm, liền quay người lại rút trường tiên kiếm ra để phòng bị. Ngờ đâu y thấy dưới chân mềm nhũn, tấm ván cầu gãy làm đôi, y bèn vội tung mình nhảy lên, nhưng quãng đó trống không không có một vật gì có thể bám víu được, bên dưới là nước bể xanh ngắt. Y nhảy ròi không sao nhảy tiếp được nữa, nên rơi luôn xuống bể, kêu “bõm” một tiếng. Thân mình chìm luốn xuống dưới bể. Y vốn không biết bơi, vừa rơi xuống bể đã bị uống nước liền, hai tay đập loạn xạ. đột nhiên y với được một sợi dây cả mừng liền bám chặt lấy. Y cảm thấy hình như có người kéo sợi dây đó, rồi xách y lên khỏi mặt nước.

Y ngửng đầu lên mới hay người đó là Trình đàn chủ của Bạch My Giáo, vẻ mặt nửa cười nửa diễu đang nhìn y.

Thì ra Tố Tố hận Tây Hoa Tử đã dung lời lẽ vô lễ đối xử với mình nên chờ các người sang khỏi thuyền bên kia rồi nàng dặn thầm Phong Trình hai đàn chủ lập mưu kế để cho Tây Hoa Tử một bài học.

Phong đàn chủ có môn phi đao rất thần diệu, lừng danh khắp giang hồ, không những ra tay nhanh và trúng đích mà ba mươi sáu con phi dao đó đều do một bàn tay thợ cao thủ chế tạo bằng một thứ thếp cứng mỏng như lá liễu, sắc bén vô cùng. Kẻ địch thấy phi dao của y phi tới nếu dùng khí giới chống đỡ thường thương khí giới của kẻ đó bị phi dao chém gãy làm đôi liền. Lúc này Phong đàn chủ liền dùng phi dao chém gãy tấm ván cầu, Trình đàn chủ đã chuẩn bị sẳn sợi dây, đợi Tây Hoa Tử uống mấy ngụm nước mới tung dây ra cứu vớt.

Vệ Tứ Nương cùng bọn Ðường Văn Lượng thấy Tây Hoa Tử rớt xuống nước, tuy đã đoán ra là do đối thủ ra tay, nhưng cái cầu gãy nhanh quá, mà mắt của mọi người thì lo nhìn thẳng vào Tố Tố, nên không hiểu ra sao cả. Chờ tới khi mọi người la hét định cứu thì Trình đàn chủ đã dùng dây kéo Tây Hoa Tử lên.

Tây Hoa Tử cố nén giận chỉ đợi lên tới thuyền là ra tay đánh đối phương ngay. Ngờ đâu Trình đàn chủ chỉ kéo y khỏi mặt nước chừng hơn thước rồi ngưng tay nói:

– Ðạo Trưởng chớ có cử động. Hơi sức của tại hạ không đủ đâu, nếu bạn hơi cử động một chút tôi nắm không vững sợi dây thừng này thì sẽ buông ra ngay.

Tây Hoa Tử cũng biết nếu Trình đàn chủ giả bộ lỡ tay vứt mình xuống bể thì nguy. Nên y cứ nắm chặt lấy sợ dây thừng đó, không dám leo lên như trước nữa.

Trình đàn chủ lại la lớn:

– Ðạo trưởng phải cẩn thận nắm chặt sợi dây nhé.

Ðoạn y vận sức vung mạnh sợi dây thừng lên nửa vòng thân mình Tây Hoa Tử đã tung lên cao, tiếp theo y lại hất mạnh sợi dây một cái, Tây Hoa Tử đã bắn sang thuyền bên kia.

Lúc ấy trường kiếm của Tây Hoa Tử rơi xuống biển, y tức giận như điên nhưng không làm gì được đối phương, trong khi người bên thuyền Bạch Mi Giáo hò reo hân hoan, vang cả một góc trời, y càng tức giận thêm bèn rút kiếm của Vệ Tứ Nương ra định xông qua thuyền địch để thí mạng, nhưng hai thuyền đã cách nhau rất xa, dù khinh công của y có giỏi đén đâu cũng không thể nhảy qua được. Nên y chỉ có nước chỉ tay sang thuyền đối diện mà mắng chửi om sòm.

Tố Tố cố y đùa Tây Hoa Tử như vậy, Liên Châu thấy rõ mới nghĩ thầm:

Thiếu nữ này quả thật là tà môn, đâu có thể là người vợ hiền của ngũ đệ ta được.

Ðoạn chàng liền nói:

– Phiền Hân Lý hai vị hương chủ bẩm báo cùng Han giáo chủ hộ về buổi họp trên hoàng Hạc Lâu ba tháng sau, thế nào cũng xin mời Hân giáo chủ đại giáng lâm. Còn hôm nay chúng tôi xin từ biệt ở đay. Ngũ đệ hãy theo ngu huynh về yết kiến ân sư trước nhé?

Thúy Sơn đáp:

– Vâng .

Tố Tố nghe Liên Châu nói như vậy, biết ý chàng định bắt vợ chồng nàng phải chia rẽ, nên nàng ngửng đầu lên nhìn trời, rồi cúi đầu xuống thuyền.

Thúy Sơn thấy thái độ của Tố Tố lãnh hội ngay, là nàng nhắc nhở tới câu thề ước “Trên trời dưới đất, không bao giờ chia rẽ nhau” nên chàng lên tiếng:

– Nhị ca , đệ xin đem tệ phu cùng thằng cháu về bái yết ân sư trước. Nếu sư phụ cho phép thì đệ mới bái kiến nhạc phụ. Chẳng hay nhị ca xét có nên chăng?

Liên Châu gật đầu đáp:

– Như vậy cũng được.

Tố Tố cả mừng.

Chờ các người của Bạch Mi Giáo rời thuyền xong, Thúy Sơn mời lên tiếng hỏi Liên Châu:

– Thưa nhị ca thương thế của tam ca ra sao? Tam ca đã đỡ nhiều chưa?

Liên Châu chỉ ậm ự một tiếng chứ không trả lời.

Thúy Sơn nóng lòng vô cùng, hai mắt nhìn thẳng vào mặt nhị sư ca, trong lòng hoài nghi, chỉ sợ tam ca đã chết. Thì Liên Châu từ từ đáp:

– Tam đệ chưa chết, nhưng cũng không hơn gì đã chết rồi vì suốt đời tàn phế tay chân không sao cử động được. Hừ Dư Ðại Nham, Dư tam hiệp trên giang hồ này không còn cái tên ấy nữa.

Thúy Sơn nghe nói tam ca chưa chết trong lòng mừng thầm nhưng chàng lại nghĩ một vị hảo hán anh phong hiệp cốt như vậy mà chịu một kết cục bi đát đến thế, nên không sao nhịn được hai hàng lệ nhỏ xuống, nghẹn ngào hỏi tiếp:

– Kẻ thù hãm hại tam sư ca là ai? Chẳng hay nhị sư ca đã điều tra ra chưa?

Liên Châu không trả lời quay đầu lại đột nhiên nhìn thẳng vào mặt Tố Tố hai mắt tia ra hai luồng ánh sáng khủng khiếp rồi đáp:

– Hân cô nương cô biết kẻ đã hãm hại Dư tam đệ của mỗ là ai không?

Tố Tố hơi rùng mình và đáp:

– Nghe nói gân và xương chân tay của Dư tam hiệp đã bị phái Thiếu Lâm chặt đứt?

Liên Châu tiếp lời:

– Phải, nhưng cô nương có biết là ai không?

Tố Tố lắc đầu, em không được rõ.

Liên Châu không hỏi Tố Tố nữa quay sang Thúy Sơn hỏi:

Ngũ đệ, phái Thiếu Lâm bảo đệ giết cả nhà Long Môn tiêu cuộc ở Lam An phủ và còn giết thêm mấy vị hòa thượng của phái Thiếu Lâm nữa, chẳng hay việc này thực hư ra sao?

Thúy Sơn đáp:

– Việc này.

Tố Tố vội xen lời:

– Không việc gì đến ngũ ca, những người đó đều do em giết.

Liên Châu đưa mắt nhìn nàng đôi ngươi biểu lọ thần sắc hờn giận cực độ, nhưng chỉ thoáng thôi, vẻ mặt chàng trở lại ôn hòa như thường và nói:

– Ngu huynh cũng biết ngũ đệ không giết người như vậy bao giờ. Việc này phái Thiếu Lâm đã ba lần sai người lên núi vừa chất vấn. Nhưng ngũ đệ đột nhiên mất tích trong võ lâm ai ai cũng đều rõ. Vì thế không có người đối chứng còn anh em chúng ta thì bảo phái Thiếu Lâm đã hại tam đệ, còn phái tiếng thì bảo ngũ đệ đã giết mấy chục nhân mạng của chúng.

Cũng may Trưởng môn chủ trì của phái Thiếu Lâm là Không Văn đại sư rất lão thành trị trọng, tôn kính ân sư, đã hết sức cấm các môn hạ đệ tử tự tiện sinh sự nhờ vậy mười 5 nay mới khỏi gây tai họa là thế.

Tố Tố lại tiếp:

– Mọi sự chỉ trách hồi đó em còn ít tuổi và lỗ mãng, làm việc gì cũng không cân nhắc, bây giờ em thấy hối hận lắm. Nhưng những người đó đã bị em giết rồi, bây giờ chỉ còn một cách là chúng ta cứ chối tới cùng, quyết không nhận món nợ ấy là xong.

Liên Châu ngạc nhiên, liếc mắt nhìn Thúy Sơn và nghĩ thầm:

– Người con gái như thế này, sao chú có thể lấy làm vợ được .

Tố Tố thấy Liên Châu có vẻ tẻ lạnh với mình và cứ luôn mồm gọi mình là Hân cô nương lòng đã tức giận, nên nàng lớn tiếng nói:

– Một người làm thì một thân chịu, việc này em quyết không để liên lụy đến phái Võ Ðang. Cứ mặc cho phái Thiếu Lâm đến kiếm Bạch Mi Giáo chúng em là xong.

Liên Châu lớn tiếng nói:

– Việc gì trên giang hồ cũng không tránh khỏi cái “lý” đừng nói phái Thiếu Lâm là phái lớn nhất trong võ lâm đương thời dù là một cô nhi quả phụ vô quyền vô năng cũng vậy. Chúng ta cũng phải căn cứ ở cái “lý” xử sự chớ không thể ỷ mạnh mà hà hiếp người được.

Nếu mười năm trước đây, Liên Châu dùng những lời liêm chính ấy mà khuyên bảo Tố Tố thì Tố Tố đã xấu hổ hóa giận, rút kiếm ra đấu liền. Nhưng bây giờ thì trong lòng tuy có tức giận nàng cũng cố nén. Nàng thấy Thúy Sơn cung kính nói:

– Nhị ca dạy rất phải.

Noi xong nàng nghĩ thầm:

– Ta không thích nghe những lời nhân nghĩa đạo đức, nhưng nếu ta cãi lại thì chỉ khiến chồng ta khó xử thôi. Ta đành phải nhượng bộ ngươi vậy.

Ðoạn nàng dắt tay Vô Kỵ ra ngoài khoang thuyền vừa đi vừa nói:

– Vô Kỵ, mẹ dắt con ra đây xem chiếc thuyền lớn này. Từ bé tới giờ con chưa hề thấy thuyền phải không?

Chờ vợ ra khỏi khoang, Thúy Sơn liền nói:

– Thưa nhị ca, trong mười năm trời đệ..

Liên Châu giơ tay trái lên xua tay mấy cái tiếp:

– Ngũ đệ chúng ta tình thân hơn cốt nhục, dù có hoạ lớn tay trời nhị ca cũng sống chết với đệ. Chuyện vợ chồng của ngũ đệ, đừng nói ngu huynh nghe vội, đợi về tới núi Võ Ðang hiền đệ hãy thưa ró mọi lẽ và chờ sư phụ quyết định sau. Nếu sư phụ có trách cứ hiền đệ, thì Võ Ðang thất hiệp đều quì xuống van lơn, xin sư phụ tha thứ cho hiền đệ. Con của hiền đệ lớn rồi, chẳng lẽ sư phụ lại bắt vợ chồng hiền đệ chia rẽ hay sao?

Thúy Sơn cả mừng nói:

– Cảm ơn nhị ca.

Thì ra tính nết của Liên Châu, bề ngoài rất cứng rắn lạnh lùng, nhưng trong lòng rất hiền từ và quảng đại. Chàng là người ít nói và ít cười nhất trong bảy anh em, nên các sư đệ sợ chàng còn hơn sợ đại huynh Tống Viễn Kiều. Bảy người quý nhau hơn cả tình anh em ruột thịt. Khi hay tin Thúy Sơn mất tích, Liên Châu đau lòng như điên như cuồng nhưng bề ngoài mặt chàng vẫn thản nhiên như không.

Ngày hôm nay sư huynh đệ trùng phùng, thực là một sự mừng nhất bình sinh của chàng.

Nhưng chàng vẫn làm ra vẻ nghiêm nghị dạy bảo Tố Tố một phen. Tới lúc này, chỉ còn 2 anh em chuyện trò với nhau, chàng mới thổ lộ chan tình với Thúy Sơn. Việc khiến chàng không yên tâm nhất là việc Tố Tố giết nhiều đệ tử tiếng tất nhiên phái đó không thể nào để yên. chàng quyết định là phải hy sinh tánh mạng của mình để bảo vệ cho gia đình sư đệ được an toàn.

Thúy Sơn lại hỏi:

– Thưa nhị ca, sự tranh chấp giữa hai phái chúng ta với Bạch Mi Giáo, có phải là vì vợ chồng tiểu đệ gây ra không? Quả thật tiểu đệ không yên tâm chút nào.

– Chẳng hay cuộc hội họp ở Vương Bàn Sơn ra sao, hiền đệ hãy kể cho ngu huynh nghe thử.

Thúy Sơn bèn kể lại đêm đột nhập Long môn tiêu cục ở Lâm An rồi làm quen với Tố Tố ké cùng nàng đi Vương Bàn Sơn tham dự đại hội dương đao lập oai của Bạch Mi Giáo tới chuyện Kim Mao sư vương Tạ Tốn ra oai giết chết mọi người và cướp đợc Ðồ Long bảo đao, bắt ep chàng và Tố Tố ra ngoài băng đảo như thế nào.

Nghe xong, Liên Châu lại hỏi Thúy Sơn về việc Cao Tắc và Tương Ðào của phái Côn Luân.

Chàng ngẫm nghĩ giây lát và đáp:

– Không ngờ câu chuyện lại rắc rối và phức tạp như vậy, nếu hiền đệ không về thì những sự bí ẩn này biết tới ngày nào mới được phanh phui.

Thúy Sơn đáp:

– Nhị ca nói rất phải, nghĩa huynh của đệ…á, thưa nhị sư ca Tạ Tốn không phải là người độc ác bất nhân đâu, sở dĩ tánh nết của anh ấy trở nên quái dị như vậy, là do một tấm thảm kịch rất lớn tạo nên. Lúc này em với anh ta kết nghĩa kim bằng .

Liên Châu lại nghĩ thầm :

– Việc này phức tạp thực .

Thúy Sơn lại tiếp:

– Nghĩa huynh của tiểu đệ rú lên một tiếng, thực là oai hùng khôn tả làm cho mọi người có mặt trên Vương Bàn Sơn đều mất thần trí. Anh ta nói những đó dù không chết cũng thành ngớ ngẩn như vậy những người đó mới khỏi tiết lộ chuyện thanh bảo đao Ðồ Long.

Tạ Tốn hành sự rất độc ác, nhưng y quả thực là một bậc kỳ tài. Y làm như vậy, tưởng là chu đáo lắm, nhưng có ngờ đâu lại còn sơ hở, vì y đã quên hẳn một người.

– Ai thế nhị ca?

– Bành Qui Thọ.

– Ðàn chủ Huyền Võ Ðàn của Bạch Mi Giáo?

– Theo lời hiền đệ, những người có mặt dự buổi đại hội ở Vương Bàn Sơn hôm đó, chỉ có Bành Qui Thọ là nội công tinh thâm nhất phải không? Lúc y bị Tạ Tốn phun rượu chết giấc. Vì thế lúc Tạ Tốn kêu rú y không bị ảnh hưởng chút nào. Nếu không phải vậy, chắc y cũng không chịu nổi tiếng rú ấy đâu.

Nghe tới đó, Thúy Sơn vỗ đùi và tiếp:

– Phải đấy, lúc ấy Bành Qui Thọ nằm chết giấc dưới đất nên không bị ảnh hưởng của tiếng rú và được bảo tồn tính mạng. Nghĩa huynh của đệ tuy đã tinh vi hết sức nhưng lúc ấy anh ta cũng không ngờ tời vấn đề đó mà bỏ sót Bành Qui Thọ.

Liên Châu thở dài đáp:

Những người dự đại hội Vương Bàn Sơn chỉ có Bành Qui Thọ và Tương Cao của phái Côn Lôn là được sống sót trở về tới nhà. Tuy công lực có thể Tương Cao hãy còn non kém nhưng chúng nhờ nội công độc đáo của phái Côn Lôn mà thoát chết. Tuy vậy chúng cũng ngớ ngẩn thần trí mê sảng không biết gì. Có ai hỏi chúng tại sao bị hại như thế thì chúng chỉ lắc đầu không trả lời. riêng có Cao Hác Thành từ đầu chí cuối chỉ nói ra được tên của một người là Hân Tố Tố.

Liên Châu ngừng giây lát, nói tiếp:

– Cho tới giờ ngu huynh mới biết sở dĩ Cao Tắc Thành nói được mấy tiếng như vậy vì trong thâm tâm lúc nào y cũng nhớ đến hình bóng của Hân cô nương. Hừ! Lần sau Tây Hoa Tử còn ăn nói vô lễ nữa, ngu huynh sẽ cho y một bài học nên thân. Ðệ tử phái Côn Luân của y có những hành vi bất cẩn như vậy, là y còn đi trách cứ người khác.

Thúy Sơn lại nói:

– Bành Qui Thọ còn sống sót trở về thì tất nhiên phải biết rõ nguyên ủy.

– Nhưng y nhất định không chịu nói ra hiền đệ có biết tại sao không?

Thúy Sơn nghĩ ngợi giây lát, hiểu ngay và đáp:

– Phải rồi, Bạch Mi Giáo muốn một mình đi cướp thanh đao Ðồ Long, y mới không chịu thổ lộ tin tức bữa ấy và cứ thối thác là không biết gì cả.

Ngày nay trong võ lâm có sự tranh chấp lớn cũng do đó mà ra. Phái Côn Luân thì đổ cho Tố Tố đã hạ độc thủ hại Cao Tương còn anh em Võ Ðang chúng ta cũng tưởng hiền đệ bị Bạch Mi Giáo giết rồi.

– Có phải Bành Qui Thọ đã nói ra việc đệ dự hội Bàn Sơn Ðảo không?

– Không, y vẫn giấu kín việc đó. Sau ngu huynh với tứ đệ cũng đi tới Vương Bàn Sơn dò xét thì thấy hiền đệ đã dùng bút sắt viết hai mươi bốn chữ lớn trên vách núi mới hay hiền đệ quả thực có dự đại hội dương đao lập oai của Bạch Mi Giáo. Kiếm mãi không thấy tung tích của hiền đệ ở đâu, bọn ngu huynh liền kiếm Bành Qui Thọ chất vấn. Vì y ăn nói hàm hồ nên ta mới ra tay đánh một chưởng. Không bao lâu sau phái Côn Luân cũng cho người đến tận sào huyệt của Bạch Mi Giáo giết hết hai người. mười năm nay thù hằn đôi bên càng kết càng thâm.

– Vì vợ chồng tiểu đệ mà đệ tử của các môn phái vô cớ bị chết oan. Tiểu đệ thật ăn năn vô cùng. Sau khi trở về núi thưa cùng sư phụ, tiểu đệ sẽ đi đến các môn phái để giải thích cởi mở sự hiểu làm này, và tiểu đệ cũng vui lòng cho họ khiển trách.

– Sự lầm lỡ này, không thể trách cứ hiền đệ được. Nếu chỉ vì việc hai vợ chòng hiền đệ thì chỉ có hai phái Côn Luân và vừa xích mích với Bạch Mi Giáo thôi, nhưng Bạch Mi Giáo muốn cướp được thanh đao Ðồ Long trước sau không hề chịu nhắc nhở tới tên Tạ Tốn.

Bọn Cự Kình Bang, Hải Sa bang, Thần Quyền môn đều muốn trả thù cho bang chủ hay người trưởng môn, đều đi kiếm Bạch Mi Giáo để gây hấn. Do đó Bạch Mi Giáo đã thành thế kẻ thù số một của các môn phái trên giang hồ.

– Sự thực con đao Ðồ Long ấy có lợi hại như người ta đã tưởng tượng đâu mà nhạc phụ của hiền đệ tất phải chịu đựng hết những sự thù hằn của các bang phái như vậy?

– Ngu huynh chưa hề gặp mặt lệnh nhạc bao giờ, nhưng ông ta thống lãnh Bạch Mi Giáo một mình chống chọi lại quần hùng như vậy, phách lự khí khái ấy tất cả kẻ địch đều khâm phục.

– Nga My và Không Ðộng có dự đại hội ở Vương Bàn sơn đâu? Sao chúng cũng kết oán với Bạch Mi Giáo làm gì?

– Việc này đều do nghĩa huynh của hiền đệ là Tạ Tốn cả. Bạch Mi Giáo muốn cướp được thanh đao Ðồ Long, đã đôi ba phen phái các hải thuyền đi tìm khắp nơi ngoài hải đảo, để kiếm cho ra tung tích Tạ Tốn, nhưng dù hoạt động có bí mật đến đâu, Bành Qui Thọ giữ kín đến đâu, tin tức đó cũng bị tiết lộ ra ngoài.

Nghĩa huynh của hiền đệ còn mạo nhận Thành Khôn tạo nên ba mươi mấy vụ án lớn ở khắp Trung nguyên. Các nhân vật có tên tuổi của các môn phái chết về tay y kẻ không xiết.

Chẳng hay việc này hiền đệ có biết rõ không?

Thúy Sơn rầu rĩ khẽ hỏi lại:

– Thế ra mọi người đã biết những vụ án đó là do tay Tạ Tốn gây ra à?

– Hễ y gây nên một vụ án nào là viết mấy chữ: Kẻ giết người là Hỗn Nguyên Phịch lịch thủ Thành Khôn ta đây, lên trên vạch. Lúc ấy chúng ta cũng thừa lệnh sư phụ cùng xuống núi đi khắp nơi điều tra. Bấy giờ không ai biết hung thủ là kẻ nào, mà ngay như thành khôn, trước sau cũng không thấy xuát hiện. Nhưng tới khi cái tin Tạ Tốn xuất hiện đo Bạch Mi Giáo tiết lộ thì những người đa mưu của các môn phái liền liên tưởng ngay đến những vị an mạng đó và biết Tạ Tốn là người đệ tử duy nhất của Thành khôn, ngoài ra còn biết hai thầy trò không hiểu vì sao lại bất hòa dữ dội và trở mặt thành kẻ thù của nhau.

Bởi thế họ mới cho hung thủ đã mạo danh Thành khôn là Tạ Tốn, chớ không ai vào đây nữa. Hiền đệ thử nghĩ xem, Tạ Tốn đã giết bao nhiêu người rồi? Riêng nội phái Thiếu Lâm đã có Không kiến đại sư một vị cao tăng vai vế cao nhất bị chết dưới quyền của Tạ Tốn. Như vậy hiền đệ tưởng tượng có biết bao nhiêu người muốn giết Tạ Tốn mới hả dạ.

– Nghĩa huynh của đệ tuy đã cải tà qui chính nhưng hai bàn tay của anh ta đẫm rất nhiều máu rồi, nhị ca ơi lòng em bối rối như tơ vò bây giờ không biết phải làm sao cho phải?

Liên Châu nói:

– Các anh Võ Ðang vì hiền đệ, phái Côn Luân vì Cao Tương, bọn Cự Kình Bang vì cái chết của Bang chủ, còn các nhân vật Hắc Bạch võ lâm theo sau phái Thiếu Lâm để dò hỏi tung tích Tạ Tốn, tất cả đều đi kiếm Bạch Mi Giáo mấy năm nay hai bên đã đại chiến năm trận, còn tiểu chiến thì đếm không xiết. Tuy trận đại chiến nào Bạch Mi Giáo cũng lép vế hơn nhưng nhạc phụ của hiền đệ bị các môn phái vây đánh nh vậy mà vẫn cầm cự mãi. Lệnh nhạc quả là một nhân kiệt, tất nhiên phái Thiếu Lâm và Võ đang chúng ta vì thấy câu chuyện có nhiều uẩn khúc nên không muốn đi tới chỗ cực đoan, do đó nhiều khi cứ phải ngưng tay lại.

Riêng các nhân vật giang hồ khác thì không vị nể chút nào. Lần này chúng ta hay tin Lý Hương chủ của Bạch Mi Giáo ra ngoài khơi, liền ngấm ngầm theo dõi mong điều tra ra chút manh mối của hiền đệ. Ngờ đâu Lý Hương chủ hay biết liền, nhứt định không cho chúng ta theo dõi, vì thế đệ tử của phái Côn Luân mới ra tay đấu với họ. Nếu vơ chồng hiền đệ không xuất hiện ngay lúc này thì hai bên sẽ gây nên một trận chiến giết hại nhau rất thảm khốc.

Thúy Sơn lặng yên đưa mắt ngắm nhìn, thấy tóc của Liên Châu đã hoa râm và vầng trán có thêm cũng vết nhăn, chàng cảm khái vô cùng, bèn nói:

– Nhị ca trong mười năm nay đã vất vả nhiều, cũng may tiểu đệ thoát chết trở về đây gặp lại nhị ca.

Liên Châu thấy nước mắt chàng nhỏ hai bên má, và nghẹn ngào không sao nói tiếp được, liền đỡ lời:

– Võ Ðang thất hiệp sắp đoàn tụ đến nơi, thực là vui mừng khôn tả. Từ khi tam đệ bị thương và hiền đệ mất tích trên giang hồ đã thay đổi và gọi chúng ta là Võ Ðang ngũ hiệp.

Hà hà, từ nay trở đi thất hiệp lại trùng trấn thanh oai.

Chàng nói đến đó chợt nghĩ Dư đại Nham đã bị tàn phế, con số thất hiệp tuy đầy đủ nhưng muốn như xưa bảy anh em cùng ra giang hồ hành hiệp, thì không thể nào được, nên chàng đau lòng vô cùng.

Thuyền đi được mười mấy ngày đã tới Trường Giang, mọi người phải đi thuyền nhỏ mà ngược dòng lên miền trên.

Vợ chồng Thúy Sơn đã thay đổi quần áo, phong thái không kém gì năm xưa.

Vô Kỵ mặc quần áo mới đầu kết hai cái đuôi sam nhỏ, trong thật khả ái.

Liên Châu quyết tâm học võ, nên không vợ con, vì vậy chàng thương yêu Vô Kỵ một cách đặc biệt. Nhưng phải tính nghiêm khắc và thản nhiên quen rồi, nên chàng rất yêu thằng bé mà vẻ mặt vấn lạnh lùng.

Vô Kỵ vốn thông minh, biết Liên Châu tuy bề ngoài lạt lẽo nhưng rất mực yêu thương mình nên hễ rỗi rảnh là đến hỏi thăm sư bá ngay. Vì nó sinh trưởng trên hoang đảo nên khi trở về đại lục cái gì cũng lạ mắt cả.

Liên Châu ẳm luôn có lúc đưa ra ngoài mũi thuyền để ngắm phong cảnh.

Vô Kỵ hỏi tám câu, mười câu mà chàng chỉ trả lời gọn ghẽ một câu thôi.

Hôm đó, thuyền đã tới chân núi đồng Quang, tỉnh An Huy vì trời tối quá nên đậu lại ở một thị trấn nhỏ.

Người lái thuyền lên bờ mua rượu và thức ăn, vợ chống Thúy Sơn là Liên Châu ở trong khoang pha nước uống, chuyện trò với nhau.

Một mình Vô Kỵ ở trên mũi thuyền đùa giỡn. Nó chợt thấy một người ăn mày già đang múa con rắn lớn trên bờ.

Người ăn mày đó cứ ngồi dưới đất đùa với con rắn. Con rắn đen bò trên đầu y rồi luồn xuống dưới vai rất linh động.

Thuở lọt lòng Vô Kỵ chưa hề thấy rắn bao giờ nên nó rất thích thú và cứ ngẩn người ngồi xem.

Lão già ăn mày ngừng đầu lên nhìn Vô Kỵ và cười với nó, và búng ngón tay một cái, con rắn đen đột nhiên nhảy lên cao lộn mầy vòng và rớt xuống trước ngực ông già, quấn luôn mình ông ta mấy vòng. Thấy con rắn biểu diễn một cách lạ như vậy, Vô Kỵ lấy làm thích thú lắm.

Lão già ăn mày vẫy gọi, ra hiệu cho y lên bờ chơi và biểu diễn nhiều trò lạ cho y xem. Vô Kỵ trẻ người non dạ, không biết gì cả, liền theo lên bờ tức thì.

Lão già ăn mày voiä mở cái túi vải trên lưng xuống, mở miệng túi ra vừa cười vừa nói:

– Cậu bé trong này rắn còn nhiều trò chơi là lắm, cậu dòm vào xem sẽ thấy ngay.

Vô Kỵ hỏi:

– Trong đó có gì thế?

Lão già ăn mày đáp:

– Cậu cứ cúi đầu xuống xem thì sẽ thấy ngay.

Vô Kỵ liền cúi đầu xuống nhìn chỉ thấy trong túi tối om, không có gì cả. Nó lại gần thêm một bước để xem cho rõ, bất ngờ lão già ăn mày chụp luôn cái túi vải vào đầu Vô Kỵ.

Vô Kỵ chỉ là được một tiếng đã bị lão già ăn mày bịt chặt lấy mồm nó rồi nhắc bổng người nó lên.

Vô Kỵ vừa dãy dụa vừa kêu la, nhưng nó đã bị kẻ địch bịt chặt lấy mồm, không kêu thành tiếng được.

Thúy Sơn và Liên Châu tuy ngồi trong khoang thuyền rất xa chỗ lão già ăn mày nhưng nghe tiếng kêu đầu tiên của Vô Kỵ, biết ngay thằng bé kêu cứu, bèn vội chạy khỏi khoang thuyền quả nhiên thấy Vô Kỵ bị ông già bắt cóc.

Hai người đang định phi thân lên bờ, thì ông già quát lớn:

– Muốn bảo tồn tính mạng thằng nhỏ thì hai vị phải đứng yên.

Ðoạn y xé rách áo lòi lưng Vô Kỵ ra, dí miệng con rắn đen vào lưng thằng nhỏ để đe dọa.

Lúc ấy Tố Tố cũng vừa chạy ra mũi thuyền, trông con mình bị người lạ mặt bắt giữ, tức giận vô cùng định ném kim trâm vào kẻ địch, thì Liên Châu đưa hai tay lên ngăn cản và quát lớn:

– Không nên.

Vì chàng nhận ra con Hắc xà đó là một loại rắn độc. Trong mười tám thứ rắn độc nhứt trong thiên hạ, con rắn này đứng vào hàng thứ mười một, tên là thất tý tinh, mình rắn càng đen, nhưng đốm trắng càng nhỏ thì càng độc. Thân mình của con rắn đen láy, nhưng chấm trắng cũng có ánh sáng chói lọi. Nó đang hả mồm thật lớn nhe bốn cái nanh ra toan ngoạm vào thịt của Vô Kỵ, nếu Vô Kỵ bị nó cắn phải thì trong chốc lát sẽ chết liền. Bây giờ dù có đánh chết lão già lấy được thuốc giải cũng chưa chắc cứu kịp nên chàng mới ngăn Tố Tố lại và quay đầu nói với lão già ăn mày:

– Chẳng hay ngài hành hạ thằng nhỏ như vậy mà có mục đích gì?

Lão già ăn mày đáp:

– Thiếu hiệp hãy bảo người lái thuyền nhổ neo cho thuyền lui cách bờ bảy tám trượng rồi lão sẽ nói cho thiếu hiệp biết sau.

Liên Châu biết đối phương bảo mình cho thuyền lui là vì sợ mình đột nhiên nhảy lên bờ tấn công.

Chàng biết thuyền rời khỏi bờ thì rất khó cứu thoát Vô Kỵ, nhưng Vô Kỵ đang bị đối phương kiềm chế thế kia chàng đành phải nhận lời rồi sẽ tính kế sau.

Chàng không đợi người lái đò đã vội nắm dây thừng của chiếc neo, khẽ giật một cái, chiếc neo nặng hơn 5 mươi cân đã theo tay chàng rời khỏi mặt nước bay tung lên mặt thuyền tức thì.

Lão già ăn mày thấy công lực của Liên Châu mạnh mẽ như vậy, sắc mặt hơi thay đổi.

Còn Thúy Sơn cầm cây sào, điểm vào bờ một cái, chiếc thuyền đã từ từ lui ra giữa sông:

– Lùi thêm tí nữa.

Thúy Sơn phẫn uất đáp:

– Như vậy còn chưa đủ bảy tám trượng sao?

Lão già ăn mày mỉm cười đáp:

– Võ công của Dư nhị hiệp lợi hại như vậy, thì thuyền có cách bờ này bảy tám trượng tại hạ cũng chưa yên tâm.

Thúy Sơn lại phải đẩy chiếc thuyền lui ra mấy trượng nữa.

Liên Châu chắp tay chào và hỏi:

– Chẳng hay quý tánh đại danh của ngài là chi?

Lão già ăn mày đáp:

– Tại hạ chỉ là một gã vô danh tiểu tốt trong cái bang thì cái tên xấu xí của tại hạ có nói cũng chỉ làm Dư nhị hiệp thôi..

Liên Châu thấy lão già ăn mày có đeo một cái túi vải, liền nghĩ thầm:

– Những đệ tử cái bang lưng đeo túi vải thì địa vị đã khá cao. Nhưng tại sao lão già ăn mày này lại có những hành vi đê tiện đến thế? Huống hồ xưa nay Cái Bang chỉ chuyên làm việc nhân nghĩa. Vả lại bang chủ Cái Bang là Gia Luật Uyên lại là bạn rất thân của đại sư ca Tống Viễn Kiều. Sao y hành động như thế được? Lạ thật!

Chàng đang suy nghĩ thì Tố Tố đã lên tiếng hỏi:

– Có phải Mao Sơn bang ở Ðông Xuyên đã nhờ Cái Bang che chở cho không? Theo nhận xét của tôi thì Cái Bang không có tên tuổi các hạ.

Lão già ăn mày kêu “ủa” một tiếng, chưa kịp trả lời thì Tố Tố lại tiếp:

– Hạ lão tam đến đây quấy rối là có ý gì? Nếu người làm cho con ta rụng một lông chân thuyền chúng ta sẽ chém Mai Khạch Kiên của các người thành nhiều mảnh.

Lão già ăn mày giật mình kinh hãi vừa cười vừa nói:

– Hân cô nương, mắt sắc lắm, nhận ra Hạ Lão Tam nhưng mỗ đây chính đang nhận lệnh của Mai bang chủ đến đây nghênh đón công tử.

Tố Tố cả giận đáp:

– Người mau bỏ con rắn độc kia xuống hay không? Mao Sơn bang của các ngươi chỉ là một cái bang hội nhỏ mà các người dám trêu đến Bạch Mi giáo của chúng ta phải không?

Hạ lão tam đáp:

– Quý hồ Hân cô nương chỉ nói một lời thôi, lập tức tôi sẽ đưa trả công tử ngay mà Mai Bang chủ còn thân hành đến đây tạ tội là khác.

Tố Tố hỏi:

– Muốn ta nói gì?

Lão già ăn mày trả lời:

– Công tử duy nhất của Mai bang chủ chúng tôi bị Tạ Tốn giết, chắc Hân cô nương cũng rõ chuyện đó. Mai bang chủ chỉ muốn Trương ngũ hiệp và Hân cô nương, không tiểu nhân lỡ lời, đáng lẽ phải xưng Trương phu nhân mới đúng, yêu cầu hai vị khai ân cho biết chỗ ở của Tạ Tốn, thì toàn bang chúng tôi từ trên xuống dưới đều cấm ơn đại đức.

Tố Tố trợn ngược đôi lông mày:

– Chúng tôi không biết gì hết!

Hạ lão tam lại nói:

– Nếu như vậy thì mong hai vị dò xét hộ, chúng tôi xin hết sức hầu hạ công tử một cách chu đáo, chờ khi nào hai vị biết được tung tích của Tạ Tốn ở đâu và cho hay thì Mai bang chúng tôi sẽ thân hành đưa cong tử về tận nhà.

Tố Tố thấy con rắn độc nhe nanh và chỉ cách lưng con mình mấy tấc trong lòng có vẻ sợ hãi nên nàng định đem chuyện Băng Hỏa đảo kể lại cho Hạ lão tam nghe nhưng nàng bỗng sực nghĩ lại đưa mắt nhìn chồng, thấy Thúy Sơn tỏ vẻ cương quyết. Nàng sống chung với Thúy Sơn hơn mười năm biết chàng là người có nghĩa khí nếu vì muốn cứu con mà nàng tiết lộ chỗ của Tạ Tốn, lỡ nghĩa huynh bị người ta giết thì tình vợ chồng của hai người khó mà bảo toàn được. Nên nàng nín thinh.

Thúy Sơn lớn tiếng nói:

– Ðược người cứ đem con ta đi đi , đại trượng phu khi nào bán bạn hữu như thế được, quả thật người xem thường Võ Ðang thất hiệp.

Hạ lão tam nghe Thúy Sơn nói vậy, ngẩn người một hồi. Y tưởng bắt được Vô Kỵ là thế nào cũng buộc vợ chồng Thúy Sơn thổ lộ tung tích Tạ Tốn ngay ngờ đâu Thúy Sơn lại trả lời một cách như chém đinh chặt sắt, nên y lại tiếp:

– Dư nhị hiệp tội ác của Tạ Tốn tày trời, mong phái Võ Ðang chủ trì công lý, như vậy người trong võ lâm sẽ đều kính ngưỡng. Xin nhị hiệp khuyên hai vị kia hộ.

Liên Châu đáp:

– Việc này xử trí ra sao anh em Võ Ðang của tại hạ đang định về núi Võ Ðang thưa cùng ân sư trước đã, chờ sự định đoạt của ân sư rồi sẽ mời anh hùng đại hội trên lầu Hoàng Hạc phán xét sau. Chừng đó xin mời Mai bang chủ quý bang với các hạ cùng tới dự để chúng tôi được bày tỏ tat cả điều thị phi phải trái, quý vị quyết định thế nào chúng tôi sẽ nghe theo, bây giờ thì các hạ hãy trả đứa trẻ lại cho chúng tôi.

Còn đứng cách xa bờ hơn mười trượng, khi nói mấy câu đó không phải lấy hơi sức gì cả mà Hạ lão tam nghe rõ mồn một, tựa như hai người đang ngồi trên thuyền đối diện vậy, nên lão già ăn mày trong lòng rất kính phục, nghĩ thầm vừa thất hiệp oai trấn thiên hạ quả thật danh bất hư truyền. Lần này ta đã làm một việc quyết liệt chỉ Mai Sơn bang sẽ chịu đựng không nổi kẻ địch lớn mạnh. Nhưng mối thù sát tử của Mai bang không thể nào không trả được.

Nghĩ đoạn, y liền chấp tay chào và nói:

– Nếu vậy, tiểu nhân đành phải thất lễ với ba vị và xin mời Trương công tử về Ðông Xuân ở tạm.

Trong khi y chấp tay chào, đầu của con rắn cách xa lưng Vô Kỵ hơn thước. Tuy bị chụp vào trong túi vải, Vô Kỵ vẫn nghe rõ lời đối đáp của bốn người. Y vừa thấy Hạ lão tam buông cánh tay ra, liền trái tay đánh luôn một chưởng vào linh đài huyệt của kẻ địch, đồng thời y mượn sức phản trả của cái chưởng đó mà tung mình về phía trước, thoát khỏi cánh tay của địch ngay. Y sợ Hạ lão tam tung rắn đuổi theo cắn nên không kịp bỏ cái túi đang chụp lên đầu ra cứ mang theo mà nhảy luôn ba cái, tiến ra ngoài xa.

Vô Kỵ chay ra ngoài xa mười trượng rồi mới dám bỏ túi ra. Khi y quay lại thấy Hạ Lão tam đã nằm im dưới đất, không cựa quậy.

Thúy Sơn vội chèo thuyền cặp vào bờ và cùng Liên Châu nhảy lên.

Tố Tố chạy tới ôm con long mừng rỡ vô cùng, nàng thấy lưng Vô Kỵ không bị suy chuyển chút nào, liền khen:

– Con ta giỏi thật Thúy Sơn múa trường kiếm chém hết hai con rắn độc đang quây quần bên cạnh Hạ Lão tam rồi cúi xuống nhìn lão ăn mày thấy mình y máu tươi chảy ra đôi ngươi nhìn quanh mặt tỏ vẻ đau đớn còn tay chân không cử động được.

Liên Châu ngạc nhiên vô cùng lên tiếng hỏi:

– Chẳng lẽ thằng nhỏ chỉ khẽ đánh một chưởng mà y đến nỗi nhu thế này ?

Ðoạn chàng năm tay trái của Hạ Lão tam kéo lên, thấy chân tay của y cứng đờ, tựa như bị người điểm huyệt. Chàng giơ tay rờ hai yếu huyệt ở trước cổ và sau gáy lão ăn mày, đồng thời xoa bóp mấy cái để xem có thể giải được cho y không thì Hạ lão tam kêu la:

– Ối chà, nhị… ngươi có gan thì giết ta đi, chứ đừng dày vò ta như thế này nữa y la xong, chân tay co rúm lại, mình mẩy run lẩy bẩy hai hàm răng nghiến còm cộp.

Liên Châu kinh ngạc khôn tả, chàng lại xoa bóp hai ba yếu huyệt khác cho lão tam để giải huyệt cho y, ngờ đâu tay chàng vừa đụng tới người y là y kêu la mồ hôi lạnh toát ra như mưa. Biết y chịu không nổi, bèn điểm huyệt tê liệt cho y, để y khỏi bị đau đớn, rồi mới quay lại nhìn Thúy Sơn.

Xem tiếp tập 2.