fbpx skip to Main Content
Vovinam Schools
Le Sang Library
Vovinam Home
Vovinam University International

Tam Quốc Diễn Nghiã

 

La Quán Trung

Tam Quốc Diễn Nghĩa

Bài Ca Mở Ðầu (Và cũng là bài ca kết thúc)

Sông dài cuồn cuộn ra khơi ,
Anh hùng : sóng dập, cát vùi thiên thu…
Dở hay, thành bại nào đâu ?
Bể dâu chớp mắt , ngoảnh đầu thành mơ !
Non xanh còn đó trơ trơ ,
Tà dương lần lửa sưởi hơ ánh hồng .
Lão tiều gặp lại ngư ông ,
Bên sông gió mát , trăng trong , kho trời .
Rượu vò lại rót khuyên mời ,
Cùng nhau lại kể chuyện thời xa xưa…
Kể ra biết mấy cho vừa ?
Nói cười hỉ hả , say sưa quên đời…

Hồi Thứ Nhất

Hội Ðào Viên Anh Hùng Kết Nghĩa
Ðánh Huỳnh Cân Hào Kiệt Lập Công

Phàm thế cuộc trong thiên hạ 1, chia rồi lại hợp, hợp rồi lại chia. Tỷ như nhà Châu mất vận, bảy nước phân tranh, sau đó nhà Tần lại gồm thâu về một mối. Rồi khi nhà Tần bị diệt vong, để cho Hán, Sở tranh hùng, và cuối cùng Hán đã diệt Sở để thu về một mối.

Nhà Hán kể từ vua Cao Tổ là Lưu Bang trảm xà khởi nghĩa thống nhất được thiên hạ, giữ lấy ngai vàng cho Ðến khi vua Quang Vũ là Lưu Tú quật khởi, giết loạn thần là Vương Mãng, phục hưng cho nhà Hậu Hán 2, rồi truyền Ðến đời vua Hiến Ðế thì bị chia làm ba nước. Cái nguyên do rối loạn sau này là do tới hai ông vua Hoàn Ðế và Linh Ðế.

Vua Hoàn Ðế giam cầm các bề tôi trung trực, lại tin dùng bọn hoạn quan, làm cho thế nước bị suy vi. Khi vua Hoàn Ðế băng hà, vua Linh Ðế lên nối ngôi, có quan Ðại Tướng Quân Ðậu Vũ và quan Thái Phó Trần Phồn cùng giúp việc trị nước. Hai vị tôi thần này vốn một lòng trung nghĩa, nhưng bên cạnh lại có bè lũ hoạn quan Tào Tiết chuyên quyền làm bậy. Ðậu Vũ và Trần Phồn lập mưu tru diệt bọn này để trừ tai họa cho nước, chẳng may cơ mưu bị bại lộ, hai vị tôi thần này đều bị chúng hãm hại.

Từ đó, bọn hoạn quan càng lộng quyền, chúng liên kết với loạn thần tác yêu, tác quái.

Năm Kiến Ninh thứ hai (niên hiệu của vua Linh Ðế), tháng tư ngày rằm, nhà vua ngự ra điện Ôn Ðức, vừa ngồi xuống ngự ỷ, bỗng có một trận cuồng phong rất lớn nổi lên, rồi một con rắn xanh to tướng từ trên xà ngang cung điện rơi xuống nằm ngang trên ngự ỷ. Vua thất kinh ngã lăn ra bất tỉnh, các quan hầu cận phải đưa vua vào nội cung cứu cấp.

Nhưng chỉ trong giây lát, con rắn biến đi đâu mất, trời lại nổi lên một trận cuồng phong dữ dội, mưa tuôn như trút nước. Kế đó, mưa đá lại rơi theo tới hơn nửa ngày, nhà cửa bị hư sập vô số.

Vào tháng hai, năm Kiến Ninh thứ tư, kinh đô Lộc Dương lại bị động đất, rồi nước biển dâng lên tràn ngập cả một miền duyên hải. Dân cư, làng mạc, của cải bị sóng cuốn ra khơi mất tích.

Cũng vào đời vua Linh Ðế, vào năm Quang Hòa thứ nhất, tại một vùng thôn dã, có một con gà mái hóa gà trống, rồi đến ngày mồng một tháng sáu, một luồng hắc khí dài hơn mười trượng bay thẳng vào điện Ôn Ðức.

Cũng vào mùa thu năm đó, trước nhà Ngọc Ðường bỗng hiện lên một cầu vồng sáng chói. Sườn núi Ngữ Nguyên bị sụp lở, đất đá đè chết người.

Chỉ trong thời gian mấy năm mà không biết bao nhiêu sự việc ly kỳ xảy ra. Vua buồn bã hạ chiếu hỏi các quan triều thần tới sao có những hiện tượng quái gở như vậy?

Quan Nghị Lang Thái Ung dâng sớ tâu, đại ý nói: “Rắn sa, gà mái hóa gà trống là điềm đàn bà và hoạn quan làm loạn nước…”

Lời tâu rất thống thiết, khiến nhà vua xem xong cũng phải não lòng. Vua chỉ thở dài rồi quay vào thay áo.

Bấy giờ Tào Tiết đứng núp đằng sau vua, xem trộm được tờ biểu, thấy thế tức giận vô cùng, liền bàn mưu với bè đảng của hắn, lập kế gieo tội cho Thái Ung, và cách chức đuổi Thái Ung về làm thứ dân nơi điền lý.

Sau đó bọn Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng, tất cả mười người họp nhau xưng là “Thập Thường Thị” chuyên làm điều gian ác.

Vua Linh Ðế lại nhu nhược, tin dùng Trương Nhượng như một kẻ tôi trung, việc triều chính đều giao cho Trương Nhượng quyết đoán, Ðến nỗi kêu Trương Nhượng bằng “Á phụ”.

Triều đình càng bê tha thối nát, lòng người muốn nổi loạn, giặc giã khắp nơi dấy loạn lên như ong vỡ tổ.

Bấy giờ, tại quận Cự Lộc có ba anh em họ Trương là Trương Giác, Trương Bảo, và Trương Lương. Trương Giác thi hỏng Tú Tài, không quản đèn sách nữa, ngày ngày vào núi hái thuốc. Bỗng một hôm, Trương Giác gặp một ông lão mặt đỏ như hài đồng, mắt xanh như nước biếc, tay chống gậy lê, kêu Trương Giác vào một hang núi, rồi trao cho ba quyển “thiên thư” và dặn:

– Ðây là bộ “Thái bình yêu thuật” ta ban cho con để học. Học được sách này, con phải thay trời mà tuyên hóa, cứu dân độ thế. Còn nếu manh tâm đổi dạ thì sẽ gặt lấy quả báo không nhỏ.

Trương Giác tiếp lấy Thiên thư, bái tạ rồi yêu cầu xin được biết tên ông lão. Ông lão nói:

– Ta chính là Nam Hoa Lão Tiên đây.

Dứt lời hóa thành luồng gió mát bay đi mất.

Trương Giác được bộ sách ấy, ngày đêm tập luyện, chẳng bao lâu đã biết cách kêu mưa gọi gió, và tự xưng hiệu là “Thái Bình đạo nhân”.

Vào tháng giêng năm Trung Bình thứ nhất (cũng đời vua Linh Ðế), có bệnh thời khí nổi lên, lan rộng khắp vùng. Trương Giác đem bùa phép đi trị bệnh cho dân gian, lấy hiệu là “Ðại Hiền lương sư”. Lúc đó Trương Giác lại có dạy thêm được hơn năm trăm đồ đệ, cũng học rành phép bùa chú, nên cả thầy trò chia nhau vân du khắp nơi.

Thấy việc chữa bệnh của Trương Giác có hiệu quả, thiên hạ đồn ầm lên, và rủ nhau theo làm đồ đệ của Trương Giác mỗi ngày một đông thêm.

Trương Giác đem tất cả tín đồ trong thiên hạ chia ra làm ba mươi sáu phường, mỗi phường có hơn một vạn người, và có cử một viên Cừ Soái để cai quản. Rồi Trương Giác lại tự xưng mình là Tướng Quân, coi cả ba mươi sáu phường đó.

Chưa hết, Giác còn phao ngôn để mê hoặc dân chúng rằng: “Trời xanh đã chết, trời vàng nên lên thay. Ðến năm Giáp Tý, thiên hạ đại cát”.

Giác lại truyền cho các tín đồ dùng đất sét trắng viết lên nơi cửa lớn hai chữ “Giáp Tý”, và dân cư khắp tám châu: Thanh, U, Từ, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, ai muốn được hưởng phước phải viết danh vị “Ðại Hiền lương sư Trương Giác” mà thờ.

Trương Giác đã có ý làm phản, nên mật sai đồ đệ là Mã Nguyên Nghĩa đem vàng bạc gấm vóc vào triều lo lót với tên hoạn quan Phong Tư, để nhờ tên này làm nội ứng.

Trương Giác lại bàn với hai người em rằng:

– Cái khó đạt nhất là lòng dân. Nay dân đã thuận theo mình rồi, nếu không thừa cơ đoạt thiên hạ thì đáng tiếc lắm.

Rồi Trương Giác vội vã sắm cờ vàng, khăn vàng để hẹn ngày khởi sự. Giác sai một tên đệ tử là Đường Châu mang mật thư đưa cho Phong Tư, nhưng chẳng may Ðường Châu không thích hành động của Giác cho nên chạy thẳng vào tòa Thượng Thư cáo biến.

Thế là việc làm của Trương Giác bị bại lộ. Vua hay tin phản loạn liền triệu Ðại Tướng Quân Hà Tiến vào triều, truyền bắt Mã Nguyên Nghĩa đem chém, và hạ ngục cả gia quyến Phong Tư hơn ngàn người.

Trương Giác thấy vậy liền gấp rút khởi binh, tự xưng là Thiên Công Tướng Quân, phong cho Trương Bảo làm Ðịa Công Tướng Quân, Trương Lương làm Nhân Công Tướng Quân.

Giác lại rêu rao với bá tánh rằng: “Nay vận Hán đã hết, có đại thánh nhân xuất thế, ai nấy thuận trời theo chính, để hưởng thái bình an lộc.”

Thế là khắp bốn phương có hơn bốn, năm mươi vạn người đội khăn Vàng hưởng ứng theo Trương Giác làm phản. Thế giặc rất mạnh, quan quân nghe gió đã chạy dài.

Hà Tiến liền tâu với vua cấp tốc sai sứ đến các Châu, Quận truyền lệnh phòng ngự, ngăn địch lập công. Ðồng thời sai Trung Lang Tướng Lư Thực, Hoàng Phủ Tung, và Châu Tuấn dẫn ba đội tinh binh chia ra làm ba đường dẹp giặc.

Bấy giờ, giặc Khăn Vàng một đạo do Trương Giác cầm đầu, kéo thẳng đến U Châu xâm lấn. Quan Thái Thú châu này là Lưu Yên vốn dòng tôn thất ở đất Cảnh Lăng, vùng Giang Hạ, là con cháu Lỗ Cung Vương nhà Hán.

Lưu Yên thấy tình thế khẩn trương vội triệu quan Hiệu Úy Châu Tĩnh vào bàn kế.

Châu Tĩnh nói:

– Quân giặc đông như nước lũ, quân ta ít không thể nào ngăn nổi. Minh công nên gấp rút chiêu mộ nghĩa binh mới giữ nổi Châu này.

Lưu Yên nghe lời liền treo bảng khắp nơi chiêu mộ nghĩa binh.

Ngày kia, bản văn đưa đến Trác Huyện, dân chúng ra xem đông nghịt. Trong số dân chúng ấy có một vị anh hùng tánh tình khoan hòa, ít nói, mừng giận không lộ ra sắc mặt, nhưng lại có chí lớn, thường kết giao với các anh hùng, hào kiệt trong thiên hạ. Người này mình cao tám thước, hai tai lớn như chày, môi đỏ như thoa son, họ Lưu tên Bị, tự là Huyền Ðức, vốn cháu chắt Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng, tức dòng dõi vua Hiếu Cảnh Hoàng Ðế nhà Hán.

Nguyên trước kia, thời Hán Vũ Ðế, con trai Lưu Thắng là Lưu Trinh được phong tước Trác Lộc Ðình Hầu. Về sau, nhân một buổi tế tông miếu, Lưu Trinh vào dâng vàng hành lễ, chẳng may vàng sắc xấu, bị mất tước Hầu 3, và từ đấy con cháu mới có một chi dời về Trác Quận lập nghiệp.

Lưu Huyền Ðức tức là cháu Lưu Hùng, con Lưu Hoằng. Lưu Hoằng có thi đậu Hiếu Liêm, rồi làm chức Lại, nhưng mất sớm.

Huyền Ðức mồ côi cha, thờ mẹ rất có hiếu. Tánh ham đọc sách, nhưng nhà nghèo, Huyền Ðức phải làm nghề đóng dép, dệt chiếu để sinh sống. Nhà ông ở tới thôn Lâu Tang, phía Ðông Nam có một cây dâu rất lớn, cao hơn năm trượng, đứng xa trông như một chiếc lọng vậy.

Ðã có nhiều người đi qua trông thấy câu dâu kỳ dị ấy, từng nói:

– Nhà này ắt sanh quý tử.

Lúc còn nhỏ, Huyền Ðức thường chơi đùa với trẻ con trong làng, và thường đứng dưới gốc cây dâu mà nói:

– Tao làm Thiên tử, nên ngự cỗ xe có lọng nầy!

Người chú là Lưu Nguyên Khởi nghe nói thường mắng:

– Cháu chỉ nói bậy.

Tuy vậy, Nguyên Khởi cũng nói rằng:

– Thằng bé này phải là một người phi thường mai sau.

Nhân thấy nhà Huyền Ðức nghèo, Lưu Nguyên Khởi tìm cách giúp đỡ để Huyền Ðức ăn học. Năm Huyền Ðức mười lăm tuổi, được mẹ cho đi du học, thụ giáo Trịnh Huyền và Lư Thực, lại kết bạn với Công Tôn Toản.

Ðến nay, Huyền Ðức đã được hai mươi tám tuổi, và ngày hôm ấy, khi đọc bản chiêu quân của Lưu Yên, Huyền Ðức cảm khái thở dài một tiếng.

Bỗng nghe đằng sau có tiếng người nói lớn:

– Ðại trượng phu phải vì quốc gia mà ra sức, chứ than thở có ích gì?

Huyền Ðức quay đầu lại, thấy người vừa nói mình cao tám thước, mặt dữ như cọp, mắt ốc tròn xoe, hàm én râu hùm, tiếng nói rền như sấm. Biết không phải là người thường, Huyền Ðức liền hỏi thăm tên họ.

Người ấy đáp:

– Tôi họ Trương tên Phi, tự là Dực Ðức, ông cha mấy đời ở nơi Trác Quận nầy làm nghề bán rượu, mổ thịt, vì vậy tôi cũng có chú ít ruộng vườn, thích kết giao những anh hùng hào kiệt trong thiên hạ, nay thấy ông xem bảng chiêu quân mà than thở nên hỏi thử một lời.

Huyền Ðức nói:

– Tôi vốn là người trong thân tộc nhà Hán, họ Lưu tên Bị, đáng lẽ trong lúc giặc “Khăn Vàng” dấy loạn cũng phải góp một phần cứu nước an dân, nhưng vì sức chưa làm được nên đau lòng than thở.

Trương Phi nói:

– Nhà tôi cũng có chút ít của cải, tôi muốn bỏ ra để tuyển mộ một đoàn hương dũng, rồi cùng ông cử đại sự, ông thấy có nên chăng?

Huyền Ðức rất mừng, nắm tay Trương Phi dắt vào trong quán rượu đàm đạo. Trong lúc hai người đang đối ẩm bàn thế sự thì bỗng thấy một đại hảo hán đẩy một chiếc xe để ngoài cửa rồi bước vào thét tửu bảo, nói:

– Ðem rượu thịt ra đây! Hôm nay ta uống say sưa cho một bữa để ngày mai đầu quân giết giặc.

Huyền Ðức liếc nhìn ra cửa thấy người này mình cao lớn chín thước, mặt đỏ như thoa son, mắt phượng mày ngài, tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt.

Biết người ấy cũng là một cái thế kỳ nhân, nên Huyền Ðức vội đứng dậy tiếp mời vào ngồi chung bàn và hỏi thăm danh tánh.

Người ấy đáp:

– Tôi họ Quan tên Vũ, tự là Thọ Trường, sau đổi là Vân Trường, người đất Giải Lương, tỉnh Hà Ðông. Nhân vì vùng tôi ở có một tên thổ hào ỷ thế hiếp đáp dân lành, tôi nổi giận giết chết nó rồi bỏ đi lánh nạn. Tôi phiêu bạt trong giang hồ đã hơn năm năm, nay nghe có giặc “Khăn Vàng” nổi lên khuấy nhiễu, nên muốn đầu quân trừ giặc, cứu an bá tánh.

Huyền Ðức cũng đem chí nguyện của mình tỏ bày. Vân Trường mừng rỡ uống ba chung rượu rồi theo Huyền Ðức và Trương Phi dắt nhau về trang trại để bàn bạc.

Trương Phi nói:

– Muốn làm nên việc lớn, tốt nhất phải hiệp sức đồng tâm mới được. Sau nhà tôi có một vườn đào đang tiết hoa nở rất nhiều, ngày mai chúng ta đến đó tế cáo trời đất, kết làm anh em.

Huyền Ðức và Vân Trường đồng thanh khen phải.

Ngày hôm sau, Trương Phi sai gia nhân mổ trâu đen, ngựa trắng bày đủ lễ trong vườn đào. Ba người đứng trước hương án, vái mỗi người hai cái rồi cùng thề rằng:

“Ba chúng tôi là Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, tuy khác họ nhưng kết làm anh em, quyết đồng tâm hiệp lực, cứu khổn phò nguy, trên báo đáp quốc gia, dưới giúp yên bá tánh. Chúng tôi không mong được sanh cùng năm cùng tháng cùng ngày, chỉ nguyện được chết cùng ngày cùng tháng cùng năm. Hoàng thiên, hậu thổ chứng giám lời này. Ai bội nghĩa bị trời tru đất diệt.”

Thề xong, ba người đem so tuổi nhau thì Huyền Ðức được làm anh cả, Vân Trường làm thứ, Trương Phi làm em út.

Trương Phi lại sai gia nhân bắt trâu dê trong chuồng đem mổ làm tiệc tới vườn đào, tập trung tất cả dũng sĩ trong vùng đến ăn uống. Dũng sĩ tề tựu có tới hơn ba trăm người, vui say một bữa thật no nê.

Hôm sau, mọi người chia nhau đi thu thập khí giới, mọi việc tạm yên, chỉ hiềm một nỗi còn thiếu ngựa để cỡi.

Trong lúc đang lo tính, bỗng có một người chạy vào báo:

– Có hai người khách thương, cùng đoàn tùy tùng dẫn bầy ngựa khá đông, đang đi về hướng trang trại này.

Huyền Ðức nói:

– Ðây là trời giúp ta!

Ba anh em vội ra khỏi trại đón tiếp hai người khách thương mời vào trang trại.

Hai người này chính là hai thương gia lớn ở đất Trung Sơn, một người là Trương Thế Bình, một người là Tô Song, hàng năm thường lên mạn Bắc mua giống ngựa khỏe đem về Tràng An bán. Nay vì miền này có giặc nên không thể đem ngựa đi qua được.

Sau khi đã mời được hai vị khách thương vào trại, Huyền Ðức hối dọn tiệc đãi đằng, rồi đem ý muốn cứu dân độ thế của mình ra bày tỏ. Hai người khách thương vui lòng hiến cho năm mươi con ngựa khỏe, lại tặng thêm năm trăm lượng vàng bạc, một ngàn cân thép tốt để rèn binh khí và giáp trụ.

Khách cáo từ, Huyền Ðức tạ ơn tiễn chân vài dặm rồi trở về cậy thợ giỏi chế một đôi song cổ kiếm. Vân Trường cũng đánh một cây đại đao “Thanh long yểm nguyệt”, gọi là “Lãnh diễm cứ” nặng tám mươi hai cân. Trương Phi rèn một cây trượng “Bát điểm cương mâu”.

Ai nấy đều trang bị cương giáp, rồi kéo năm trăm quân hương dũng đến ra mắt quan Thái Thú Lưu Yên.

Lưu Yên hỏi đến danh tánh, ba anh em đều xưng rõ tên họ, riêng Huyền Ðức còn nói cho Lưu Yên biết mình là tông phái Hoàng Gia. Lưu Yên mừng rỡ nhận Huyền Ðức làm cháu (So theo vai vế thì Lưu Yên thuộc vai chú bác).

Vào thành chưa được vài hôm thì đã có tin quân thám thính về báo:

– Tướng giặc Khăn Vàng là Trình Viễn Chí thống lãnh năm vớn quân kéo đến quấy nhiễu Trác Quận.

Lưu Yên liền sai Châu Tĩnh dẫn ba anh em Huyền Ðức cùng năm trăm quân hương dũng đi trước phá giặc. Anh em Huyền Ðức không hề ngần ngại, lãnh quân tiền đạo trực chỉ đến chân núi Ðại Hưng, và trông thấy quân giặc cũng vừa kéo đến đó.

Huyền Ðức thúc ngựa ra trước trận, bên tả có Vân Trường, bên hữu có Trương Phi yểm hộ.

Huyền Ðức giơ roi thét mắng quân giặc:

– Phản loạn, đừng hòng múa rối, hãy xuống ngựa đầu hàng cho sớm.

Trình Viễn Chí nổi giận sai Phó Tướng Ðặng Mậu ra đánh. Ðặng Mậu vừa nhảy ra đã bị Trương Phi xông đến đâm một xà mâu trúng ngay giữa ngực, ngã lăn xuống ngựa.

Thấy Phó Tướng mình chưa ra tay đã bị hại rồi, Trình Viễn Chí liền múa đao đến đánh Trương Phi, nhưng Vân Trường đã vung Thanh Long Ðao cản lại. Uy lực của Vân Trường rất mạnh, Trình Viễn Chí kinh hãi run sợ, trở tay không kịp bị Vân Trường chém một đao đứt làm hai đoạn.

Người sau có thơ khen Vân Trường và Trương Phi như sau:

Anh hùng xuất trận buổi đầu tay,

Một thử xà mâu, một thử đao.

Khí tiết rạng ngời oai lực khét,

Chia ba thiên hạ rạng anh hào.

Quân giặc bị mất chủ tướng hoảng hốt chạy dài. Huyền Ðức xua quân đuổi đánh, chúng đầu hàng vô số.

Ðoàn quân đắc thắng kéo về thành được Lưu Yên thân hành ra tận bên ngoài tiếp đón và ủy lạo quân sĩ.

Sáng hôm sau, lại có tin giặc “Khăn Vàng” Ðến vây phá Thanh Châu, và quan Thái Thú Thanh châu là Cung Cảnh cho người sang cầu cứu. Lưu Yên liền cho mời Huyền Ðức đến thương lượng.

Huyền Ðức nói:

– Giặc cậy thế đông chia quân khuấy rối, nay U châu đã tạm yên, Bị này xin tình nguyện đem quân để cứu Thanh Châu.

Lưu Yên liền sai Châu Tĩnh đem năm ngàn quân cùng ba anh em Huyền Ðức kéo đi.

Giặc thấy cứu binh tới liền chia làm ba đạo, bao vây rất ngặt. Huyền Ðức thấy mình ít quân quá, không thể nào cự nổi liền cho lệnh rút quân ngoài ba mươi dặm hạ trại. Ðoạn nói với Quan, Trương:

– Muốn phá giặc phải thi hành kỳ binh mới được.

Rồi chia cho Vân Trường một ngàn quân dọn ra phục bên tả nơi chân núi, Trương Phi cũng lãnh một ngàn quân phục bên hữu nơi chân núi.

Sáng hôm sau, Huyền Ðức cùng Châu Tĩnh dẫn quân gióng trống tiến đến trới địch. Quân giặc ra nghênh chiến, Huyền Ðức giả thua kéo quân chạy về.

Tưởng mình đắc thế, quân giặc ồ ạt đuổi theo. Khi đuổi đến chân núi, bỗng nghe mấy tiếng chiêng báo hiệu, hai toán quân phục của Vân Trường và Trương Phi đồng kéo ra một lượt đánh bộc hậu. Ðạo quân của Huyền Ðức quay lại tác chiến. Ba mặt đánh dồn, quân giặc đại bại, chết không biết bao nhiêu mà kể. Chúng bỏ hết cờ xí, mạnh ai nấy chạy. Huyền Ðức xua quân truy kích, đuổi đến thành Thanh Châu thì quan Thái Thú Cung Cảnh hay được tin thắng trận vội mở cửa thành thúc quân tràn ra tiếp ứng.

Nhờ đó mà Thanh Châu được giải vây, quân giặc tản mác hết. Người sau có thơ khen Huyền Ðức:

Mưu hay tỏ rõ sức thần công,

Hai cọp suy ra kém một rồng.

Gặp lúc cô cùng, người mới rõ,

Tam phân thiên hạ, xứng anh hùng

Cung Cảnh đón tiếp ba anh em Huyền Ðức và Châu Tĩnh vào thành bày tiệc khao thưởng ba quân. Tiệc xong, Châu Tĩnh muốn trở về U Châu, Huyền Ðức nói:

– Gần đây, nghe quan Trung Lang Tướng Lư Thực đánh nhau với Trương Giác, chúa giặc Khăn Vàng tới Quảng Tôn. Bị tôi xưa đã từng theo học Lư tiên sinh, nay muốn đến đó giúp ân sư một phen.

Châu Tĩnh bằng lòng, dẫn quân trở về một mình. Ba anh em Huyền Ðức đem năm trăm quân bản bộ thẳng đến Quảng Tôn, vào dinh ra mắt Lư Thực, và nói rõ ý kiến mình tình nguyện phá giặc. Lư Thực mừng lắm, lưu ba anh em Huyền Ðức dưới trướng để đợi lệnh.

Bấy giờ, Trương Giác có hơn mười lăm vạn quân, chia ra quấy nhiễu nhiều chỗ. Phần Trương Giác thì giữ năm vạn, đang cầm cự tới Quảng Tôn, chưa phân thắng bại.

Lư Thực bảo Huyền Ðức:

– Nay Trương Giác bị ta vây ở đây chưa thể làm gì được, nhưng hai người em của nó là Trương Lương, Trương Bảo đang quấy rối ở Dĩnh Xuyên, đối trận với Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn. Nếu quân giặc ở Dĩnh Xuyên mà thắng thế được thì nơi đây ắt bị nguy hiểm. Vậy ngươi hãy dẫn binh mã bản bộ, và thêm một ngàn quân ta cấp, đến Dĩnh Xuyên dò thám tình hình, sau sẽ hẹn ngày cùng đánh.

Huyền Ðức lĩnh mệnh, kéo quân đi suốt ngày đêm mới đến Dĩnh Xuyên.

Bấy giờ Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn đang đánh nhau với quân giặc. Giặc núng thế phải rút lui vào Trường Xã, dựa thế một rừng lau rậm rạp để lập doanh trại.

Hoàng phủ Tung bàn với Châu Tuấn:

– Giặc tuy đông, nhưng khờ khạo. Chúng lập doanh trại trong rừng lau, vậy ta nên dùng hỏa công mà đốt.

Liền đó Hoàng Phủ Tung ra lệnh cho quân sĩ mỗi người đem theo một bó cỏ khô kéo đi mai phục. Ðêm ấy gặp gió lớn, quân Hán nhất tề phóng hỏa đốt trại. Giữa lúc đó Hoàng phủ Tung và Châu Tuấn dẫn hai ngàn kỵ binh xông vào chém giết. Trại giặc lửa cháy ngợp trời, quân giặc hoảng hốt không kịp mặt giáp lên yên, bỏ chạy tứ tán.

Quân Hán chém giết cho đến lúc trời mờ sáng thì mới thấy Trương Lương, Trương Bảo thu thập tàn quân cướp đường chạy thoát chết.

Quân giặc chạy chưa đầy ba mươi dặm thì lại gặp một tướng mắt nhỏ, râu dài, mình cao bảy thước, đang cầm đầu một đạo quân cắm toàn cờ đỏ, đổ ra chận đánh. Bị trận phục kích thứ hai này, quân giặc bạt vía kinh hồn, lớp thì chết, lớp ôm đầu chạy trốn không còn một manh giáp.

Vị tướng nhỏ vừa xuất hiện chính là quan Kỵ Ðô Úy, người Tiêu Quận, nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Ðức.

Trước kia, cha Tào Tháo vốn họ Hạ Hầu tên là Hạ Hầu Tung, nhưng sau làm con nuôi quan Trung Thường Thị Tào Ðằng nên Hạ Hầu Tung mới đổi ra là Tào Tung. Tào Tung sanh ra Tào Tháo có đặt cho Tháo tiểu tự là A Man, lại có thêm một tên nữa là Cát Lợi.

Lúc thiếu thời, Tào Tháo thích chơi bời, săn bắn, hát xướng, nhưng bản lãnh lại rất mưu mô xảo quyệt. Người chú của Tào Tháo thấy cháu mình du đãng, ham chơi bỏ học nên có nhiều lần phiền trách nói cho Tào Tung biết.

Mỗi lần như vậy, Tào Tung kêu con vào quở mắng, Tào Tháo đem lòng giận chú, mới nghĩ ra một kế.

Một hôm, thấy chú đến chơi, Tào Tháo giã vờ ngã lăn xuống đất, ngất lịm như trúng gió. Người chú thấy vậy thất kinh vội chạy đi tìm Tào Tung báo lại. Lúc Tào Tung chạy ra xem, thì thấy Tháo vẫn đứng chơi không có việc chi cả. Tào Tung ngạc nhiên hỏi:

– Kìa, sao chú con bảo là con trúng gió?

Tào Tháo thản nhiên thưa:

– Từ trước đến nay con có bệnh tật gì đâu? Có lẽ con đã làm điều gì mất lòng chú, nên chú giận rủa con như vậy.

Tào Tung nghe lời con, nên về sau Tào Tháo có lỗi gì người chú phiền trách, Tào Tung đều bỏ qua, không trách mắng Tháo nữa.

Tháo được thế càng chơi bời phóng đãng hơn. Thời ấy, có người tên là Kiêu Huyền bảo Tháo rằng:

– Thiên hạ loạn to đến nơi rồi, nếu không phải là người có tài tái thế, không ai xoay loạn ra an được. Người tài ấy có lẽ là ông đấy.

Lại có một người nữa ở Nam Dương, tên Hà Ngung, có dịp gặp Tào Tháo về nhà, tỏ ý nói:

– Nhà Hán sắp mất, Tào Tháo sẽ là người an định thiên hạ vậy.

Tào Tháo thấy có nhiều người nói đến mình, nhưng chưa vừa ý. Tháo lại nghe ở vùng miền Nam có Hứa Thiệu nổi danh là xem tướng biết người, liền tìm đến yết kiến và hỏi:

– Ông thấy tôi là người như thế nào?

Hứa Thiệu nhìn Tháo một lúc rồi lặng thinh không đáp. Tào Tháo gặn hỏi đôi ba lần, Hứa Thiệu mới nói:

– Ðời trị, ông là bầy tôi giỏi. Thời loạn, ông là kẻ gian hùng.

Nghe nói thế, Tào Tháo mừng vô cùng. Năm hai mươi tuổi, Tào Tháo đã đỗ Hiếu Liêm, làm quan Lang rồi được thăng Ðô úy Lộc Dương. Lúc vừa Ðến nhậm chức, Tháo đã sai treo mười cây roi ngũ sắc ở bốn cửa thành. Ai phạm đến luật cấm tức thì sai quân nọc cổ ra đánh liền, bất kể kẻ có thế lực, hay quyền quí.

Có một lần người chú ruột của quan Trung Thường Thị Kiển Thạc cầm dao đi đêm, Tháo đi tuần bắt gặp, lập tức truyền lệnh bắt đem đến trước nha môn mà đánh, chẳng kiêng nể gì hết. Bởi vậy, trong ngoài đều sợ Tháo, không ai dám phạm luật nữa.

Uy danh của Tháo nhờ đó lừng lẫy, nên được thăng làm Quan Lệnh ở Ðốn Khâu. Nay giặc Khăn Vàng nổi lên, Tháo lại được thăng chức Trị Ðô Úy, dẫn năm ngàn quân mã kéo đến Dĩnh Xuyên trợ chiến.

Vừa đến nơi, gặp lúc Trương Lương, Trương Bảo bị trận hỏa công, thua chạy xiểng liểng, Tháo nhân cơ hội chặn đường giết giặc, chém hơn một vạớn đầu giặc, đoạt được người ngựa, khí giới vô số. Trương Lương và Trương Bảo gặp thế cùng, mở đường máu chạy thoát. Tháo liền kéo quân vào thành ra mắt Hoàng Phủ Tung và Châu Tuấn, rồi lại dẫn binh truy kích Trương Lương và Trương Bảo.

Bấy giờ, Huyền Ðức cùng Quan, Trương cũng vừa tới Dĩnh Xuyên, nghe xa xa có tiếng hò reo đánh giặc, lại thấy lửa cháy rực trời vội dẫn binh tới thì giặc đã tan rồi. Huyền Ðức vào yết kiến Hoàng Phủ Tung, Châu Tuấn, và nói rõ ý kiến của Lư Thực.

Hoàng Phủ Tung nói:

– Hai thằng giặc Trương Lương, Trương Bảo bị một trận hỏa công, thế cùng lực tận, chắc là chúng chạy sang Quảng Tôn hợp lực với Trương Giác. Các ngươi hãy tức tốc trở về đó mà giúp Lư tướng quân dẹp giặc.

Huyền Ðức lĩnh mệnh, lại dẫn quân trở về. Khi đến nửa đường, bỗng thấy một toán quân mã áp giải một chiếc tù xa, người ngồi bên trong lại là Lư Thực.

Thất kinh, Huyền Ðức vội tụt khỏi yên ngựa, chạy đến hỏi duyên cớ.

Lư Thực nói:

– Tôi vây Trương Giác sắp phá được binh giặc, thì bỗng triều đình có sai một viên Huỳnh Môn quan là Tả Phong ra mặt trận thám thính tình hình. Tả Phong đòi ăn hối lộ, tôi nói với hắn: “Ðến như quân lương hiện còn chưa đủ, lấy đâu ra tiền dư mà đãi sứ nhà vua?”. Tả Phong tức giận về triều vu tấu rằng tôi không chịu tiến quân, cứ đắp lũy đào hào cố thủ, khiến lòng quân trễ nãi. Triều đình nổi giận, sai quan Trung Lang Tướng Ðổng Trác đến thay tôi cầm quân, và bắt tôi giải về kinh trị tội.

Trương Phi nghe dứt lời, máu giận sục sôi, toan rút gươm chém mấy tên quân hộ tống tù xa để cứu Lư Thực, nhưng Huyền Ðức đã kịp ngăn lại và nói:

– Việc của Lư tướng quân ngay gian sẽ có công luận xét đoán, chúng ta không nên bạo sát người của triều đình mà mang tội.

Trương Phi trợn mắt, nhìn chiếc tù xa cho đến khi mất hút. Vân Trường nói:

– Lư Trung Lang bị bắt, người khác cầm quân, chúng ta trông cậy vào ai mà trở lại Quảng Tôn? Chi bằng trở về Trác Quận là hơn.

Huyền Ðức nghe lời, cùng với hai em dẫn quân về phía Bắc. Ði chưa được hai ngày, bỗng nghe sau núi có tiếng quân reo tở mở, ba anh em Huyền Ðức liền trèo lên một đỉnh núi cao, xem thấy quân Hán bị thua cuốn cờ chạy trốn, còn đằng sau giặc Khăn Vàng đông đặc, đang đuổi theo rất hăng. Trên cây đại kỳ của giặc có đề bốn chữ: “Thiên Công Tướng Quân”.

Huyền Ðức đưa tay chỉ bọn giặc, nói với Quan, Trương:

– Chính thằng này là Trương Giác, kẻ cầm đầu giặc Khăn Vàng gây rối. Chúng ta tham chiến ngay.

Ba anh em Huyền Ðức đồng phi ngựa dẫn quân lướt tới. Bấy giờ Trương Giác đã đánh bại Ðổng Trác, nên kéo binh truy kích rất ngặt. Ðang lúc hăng thế, bỗng gặp toán quân của ba anh em Huyền Ðức chặn lại, chúng rối loạn người ngựa đạp nhào lên nhau, mất cả hàng ngũ, bị quân Huyền Ðức chém giết một trận, làm cho chúng quay đầu bỏ chạy hơn năm mươi dặm.

Ba người cứu được Ðổng Trác về trại. Sau khi hỏi thăm, biết được ba anh em Huyền Ðức chưa có chức vụ gì, hiện còn là chân trắng, Ðổng Trác làm mặt khinh khỉnh, không thèm thi lễ và tiếp đãi.

Huyền Ðức bước ra ngoài, không nói gì, nhưng Trương Phi thì hầm hầm nét mặt, tỏ ý bất mãn:

– Hừ! Chúng ta lăn mình vào địch quân để cứu hắn, mà hắn lại dám vô lễ như thế! Phải giết hắn đi mới đã giận.

Mắng rồi, Trương Phi cầm xà mâu quay vào trướng định giết Ðổng Trác.

Ðó chính là:

Nhân tình thế thái đáng buồn than,
Ai biết anh hùng lúc trắng chân!
Nếu được muôn người như Dực Ðức,
Trên đời đã hết giống vong ân

——————————–

1 Thiên hạ tức là Ðế quốc Trung Hoa cổ gồm chín châu: Thanh, U, Từ, Ký, Kinh, Dương, Duyện, Dự, và Ích. Dưới mỗi Châu có Quận và Huyện.
2 Vua Hán Cao Tổ đóng đô ở Tràng An (phía Tây) cho nên gọi là nhà Tây Hán. Nhà Tây Hán truyền đến đời vua Bình Ðế thì bị Vương Mãng giết và cướp ngôi. Lưu Tú giết được Vương Mãng, khôi phục lại cơ đồ nhà Hán, nhưng lại dời đô về Lộc Dương (phía Ðông) cho nên từ vua Quang Vũ về sau gọi là nhà Ðông Hán.
3 Ðời vua Hán Vũ Ðế mỗi khi có cuộc tế Tông Miếu, các vị có tước Hầu trong họ Lưu đều phải vào dâng vàng làm lễ. Nếu vàng của ai có sắc xấu, không được sáng đẹp thì người đó bị mất tước Hầu.

 

Hồi Thứ Hai

Nổi Giận Trương Phi Ðánh Khâm Sai
Lập Mưu Hà Tiến Trừ Phản Loạn

Ðổng Trác có hiệu là Trọng Dĩnh, người xứ Lũ Tây, vùng Lâm Thao, làm quan Thái Thú quận Hà Ðông, vốn là một kẻ có tính kiêu ngạo.

Bởi thế, Trương Phi vừa thấy mặt đã ghét, muốn giết đi. Huyền Ðức và Vân Trường đồng can:

– Dù sao hắn cũng là người của triều đình sai đến, chúng ta không nên giết.

Trương Phi hầm hừ:

– Nếu không giết thằng ấy mà ở lại đây chịu mệnh lệnh của nó thì em không thể chịu được. Hai anh ở lại, em đi nơi khác

Huyền Ðức nói:

– Anh em ta đã thề đồng sanh tử thì việc đi ở có nhau. Nếu em muốn đi thì chúng ta cùng đi vậy.

Trương Phi mừng rỡ:

– Nếu thế thì em mới nguôi giận.

Ba anh em Huyền Ðức lại từ bỏ Trác Quận, ngày đêm kéo quân qua Dĩnh Xuyên theo Chu Tuấn. Chu Tuấn tiếp đãi anh em Huyền Ðức rất hậu, hợp binh làm một, tiến đánh Trương Bảo.

Bấy giờ, Tào Tháo và Hoàng Phủ Tung cũng đang hợp quân đánh nhau với Trương Lương ở Khúc Dương, riêng Trương Bảo thì lại địch với Chu Tuấn.

Trương Bảo đem tám, chín vạn quân đóng đồn sau chân núi khí thế rất vững. Chu Tuấn sai Huyền Ðức là tiên phong, kéo quân đến giao binh. Trương Bảo hay tin sai Phó Tướng Cao Thăng dẫn ba ngàn quân ra đối địch. Huyền Ðức khiến Trương Phi ra cự chiến. đánh chưa đầy ba hiệp, Trương Phi đã vung xà mâu đâm Cao Thăng đổ ruột nhào xuống ngựa chết ngay.

Trương Bảo thấy thế tức giận, lướt tới vung gươm niệm chú, đầu bỏ tóc xõa làm phép thuật, tức thì sấm chớp nổi lên, trên không bao phủ một vùng hắc khí. Trong vùng hắc khí ấy lại có vô số binh mã lần lượt rơi xuống.

Trông thấy pháp thuật, binh của Huyền Ðức rối loạn, nên Huyền Ðức vội vã thu quân.

Về đến dinh, Huyền Ðức vào ra mắt Chu Tuấn và bàn:

– Trương Bảo dùng tà thuật thắng chúng ta, ngày mai chúng ta phải dùng uế vật phá phép của nó mới được.

Chu Tuấn khen phải, khiến quân sĩ sắm ống thụt cho nhiều, và truyền lệnh giết dê chó đẻ lấy máu.

Kế đó, Huyền Ðức khiến Quan Công dẫn một ngàn quân mai phục nơi phía chân núi, đem theo ống thụt, máu dê, máu chó cho nhiều. Tất cả đều dự bị sẵn sàng.

Trời mờ sáng, Huyền Ðức dẫn một đạo binh ra trước trới địch khiêu chiến. Trương Bảo cười lớn nói:

– Hôm qua chúng đã bại binh, nay lại còn dám đến đây nạp mạng sao?

Liền truyền lệnh ba quân nai nịt chỉnh tề rồi xách giáp ra trước trại.

Trương Bảo vừa dẫn binh ra đã thấy Huyền Ðức múa kiếm mắng nhiếc. Trương Bảo nổi giận niệm chú, tức thì cát bay đá chạy âm khí mịt mù, trên không trung ngàn vạn binh mã ào ạt rơi xuống. Huyền Ðức quay ngựa bỏ chạy, Trương Bảo cười lớn giục ngựa đuổi theo.

Vừa qua khỏi núi, hai đạo binh phục của Quan, Trương nổi lên một tiếng pháo hiệu, ba quân hăm hở xông ra một lượt, dùng ống thụt nhúng vào máu thụt lên không, tức thì binh tướng yêu ma của Trương Bảo biến mất hết.

Trương Bảo thấy phép mình bị phá thất kinh, vừa muốn lui binh, thì hai đạo binh của Quan, Trương đã xông ra chận lại. Phía sau Huyền Ðức xua quân đuổi tới. Ba ngã đánh dồn lại làm cho đại binh của Trương Bảo tan vỡ, bị chết rất nhiều.

Trương Bảo mở huyết lộ, quất ngựa chạy dài, Huyền Ðức đuổi theo được vài dặm, lẹ tay rút ra một mũi tên ngắm Trương Bảo bắn theo.

Trương Bảo la lên một tiếng mũi tên cắm vào cánh tay phía tả, không còn cầm thương được nữa, phải ôm cổ ngựa chạy thẳng vào Dương Thành đóng của cố thủ.

Chu Tuấn thừa thắng, một mặt đốc quân vây chặt bốn cửa thành, một mặt cho người đi dò la tin tức của Hoàng Phủ Tung.

Nhắc lại từ khi Ðổng Trác thay thế Lư Thực để đấu chiến với Trương Giác, Ðổng Trác đã thua hơn bảy trận. Tin ấy đến tai triều đình. Vua liền triệu Ðổng Trác về trách mắng, và sai Hoàng phủ Tung ra thay thế.

Hoàng Phủ Tung đến nơi thì Trương Giác đã chết vì bệnh. Trương Lương thống lĩnh binh mã thay thế. Trương Lương cự với Hoàng Phủ Tung. Nhưng chẳng bao lâu, lực lượng của Trương Lương mòn mỏi, bị Hoàng Phủ Tung lập kế chém chết Trương Lương tại Khúc Dương, rồi đào mả Trương Giác lên, chặt đầu đem về triều dâng nạp. Triều đình phong cho Hoàng Phủ Tung là Xa Kỵ Tướng quân, trấn nhậm tới Ký Châu.

Hoàng Phủ Tung lại làm sớ dâng về triều xin cho Lư Thực khỏi tội, và phục hồi nguyên chức. Tào Tháo cũng có công dẹp giặc Trương Giác nên được phong làm Tể Tướng Nam.

Chu Tuấn hay được tin ấy, lòng nao nao, vội thối thúc binh sĩ ngày đêm phá thành Trương Bảo rất gấp. Trong thành quân sĩ đều hết lương thực, thế giặc nguy cấp, nên tướng giặc là Nghiêm Chách đâm chết Trương Bảo, rồi chặt đầu đem ra ngoài thành dâng cho Chu Tuấn.

Thế là Chu Tuấn đã dẹp yên được mấy Quận, vội viết thiệp gởi về dâng tấu.

Bấy giờ còn dư đảng của giặc Khăn Vàng lẫn trốn trong núi non, rừng rậm, thỉnh thoảng kéo ra quấy nhiễu dân lành. Triều đình lại sai Chu Tuấn đem đoàn quân chiến thắng đi dẹp giặc các nơi hiểm yếu. Chu Tuấn tuân lệnh kéo quân ra đi.

Nhưng đi được vài ngày thì bỗng thấy trước mặt có một đạo binh kéo tới. Ngỡ là quân giặc, Chu Tuấn toan cho lệnh đánh, nhưng xem lại tướng đi đầu không phải là giặc, mà là một trang thanh niên trán rộng, mắt sáng, lưng gấu, vai hùm, oai phong lẫm liệt.

Người này họ Tôn tên Kiên, quê ở Ngô quận, đất Phú Xuân tự là Vân Ðài, dòng dõi Tôn Vũ Tử, một nhà quân sự lừng danh.

Năm Tôn Kiên lên mười bảy tuổi, theo cha tới sông Tiền Ðường, thấy hơn mười tên hải tặc vừa cướp thuyền của một khách buôn, đang chia tiền nhau trên bờ. Tôn Kiên nói với cha:

– Con xin phép bắt lũ giặc này.

Rồi nhảy lên bờ múa đao hò hét, tay chỉ trỏ Ðông Tây nhưng gọi quân bốn mặt đến. Giặc tưởng là quan quân đi tuần, vội bỏ hết của cải chạy trốn. Tôn Kiên đuổi theo chém được một đứa. Do đó, các quận huyện đều biết danh, được tiến cử làm Hiệu Úy.

Sau đó, lại có tên yêu tặc làm phản ở Cói Kê, xưng là Dương Minh Hoàng Ðế, tụ tập thảo khấu có hơn vài vạn. Tôn Kiên cùng quan quân Châu Quận phá được giặc chém đầu Hứa Xương, và đứa con của hắn là Hứa Thiều.

Quan Thứ Sử Tang Mân thấy Tôn Kiên lập được công lớn, liền dâng biểu về triều bảo tấu. Triều đình phong cho Tôn Kiên làm quan Thừa ở Diêm Tộc, sau đổi sang Hu Di Thừa, rồi lại làm Hạ Bì Thừa.

Nay thấy giặc Khăn Vàng nổi lên quấy nhiễu, Tôn Kiên lại một lần nữa tụ tập thiếu niên trong thôn ấp, và thu nạp một số võ sĩ ở miền sông Hoài, lập thành một đạo quân hơn một ngàn năm trăm người, kéo đi tiếp ứng cho quân triều.

Chu Tuấn mừng rỡ liền thu dụng Tôn Kiên, cùng nhau hiệp binh để truy nã giặc cướp.

Chẳng bao lâu, các nơi hẻo lánh đã dẹp xong, duy có ba tên giặc lớn, dư đảng của Truơng Giác, là Triệu Hoằng, Hàn Trung, Tôn Trọng, tụ tập hơn vài vạn quân, chiếm cứ nơi Uyển Thành, bên trong cướp của giết người, bên ngoài thinh thế là để trả thù cho ba anh em Trương Giác.

Chu Tuấn liền léo quân đến nơi vây đánh, sai ba anh em Huyền Ðức ngày đêm công thành.

Trong thành hết lương, Hàn Trung liệu thế không chống nổi, sai người ra xin hàng. Chu Tuấn không cho.

Huyền Ðức nói:

– Xưa, Hán Cao Tổ sở dĩ được thiên hạ nhờ ở chỗ chiêu dụ kẻ hàng, thu nạp kẻ thuận. Sao nay ông lại không cho Hàn Trung hàng?

Chu Tuấn đáp:

– Thời ấy khác, thời nay khác. Xưa nhà Tần bạo ngược, Hạng Vũ hung tàn, thiên hạ đại loạn, người dân không biết ai là thánh chúa, nên Hán Cao Tổ phải tỏ lượng khoan dung để thu phục thiên hạ. Nay bốn bể, dân gian ai cũng biết nhà Hán là chủ thiên hạ, chỉ có giặc Khăn Vàng làm phản. Nếu để chúng đắc thế thì làm loạn, yếu thế thì đầu hàng, là sao giữ được luật pháp? Tha cho chúng đầu hàng tức là khuyến khích sự phản nghịch đó.

Huyền Ðức đáp:

– Không cho giặc hàng cũng phải. Nhưng hiện nay ta vây kín bốn mặt thành, giặc bí thế tất phải liều tử chiến. Muôn người một lòng thì khó chống. Hơn nữa trong thành có hơn ba vạn sanh linh, chẳng lẽ vì chiến sự mà phải chết cả sao? Chi bằng chúng ta triệt quân ở hai mặt Ðông, Nam chỉ đánh hai mặt Tây, Bắc, để cho giặc bỏ thành chạy, rồi ta bắt sống là hơn.

Chu Tuấn nghe lời, triệt hết quân hai mặt Ðông, Nam, dồn về đánh hai mặt Tây, Bắc. Quả nhiên, Hà Trung dẫn quân bỏ chạy. Chu Tuấn liền cùng với anh em Huyền Ðức thúc quân đuổi theo chém giết, và bắt Hàn Trung. Quân giặc sống sót chạy tán loạn.

Ðang lúc quân Hàn truy kích, bỗng có Triệu Hoằng, Tôn Trọng dẫn quân đến vây đánh Chu Tuấn, Chu Tuấn thấy quân giặc đông nên phải tạm lui. Do đó, Triệu Hoằng thừa thế chiếm lại được Uyển Thành.

Chu Tuấn lui mười dặm hạ trại, rồi ngày hôm sau lại đều binh khiển tướng vây thành.

Chu Tuấn sai Tôn Kiên đánh phía Nam Uyển Thành, Huyền Ðức đánh cửa Bắc, Chu Tuấn đánh cửa Tây, chừa cửa Ðông nhử cho giặc chạy.

Tôn Kiên tự mình nhảy lên mặt thành trước tiên, vung đao chém luôn một lúc hai mươi tên giặc. Giặc hoảng sợ bỏ chạy xuống hết. Triệu Hoằng thấy thế liền cầm giáo dài phi ngựa tới đâm. Tôn Kiên từ mặt thành phi thân xuống, cướp luôn cây giáo của Triệu Hoằng, rồi xông vào giết giặc.

Bị binh Tôn Kiên hãm thành quá mạnh, Tôn Trọng kéo tàn quân chạy vụt ra cửa Bắc, bỗng gặp Huyền Ðức kéo quân chận lại. Tôn Trọng không còn lòng dạ nào giao đấu nữa, vội lách mình qua đám loạn quân chạy trốn. Huyền Ðức giương cung bắn theo một phát trúng Tôn Trọng nhào xuống ngựa chết tức thì.

Bấy giờ, đại quân của Chu Tuấn thừa thế đánh ập vào chiếm thành, chém hơn một vạn thủ cấp của giặc. Quân giặc lớp chết lớp đầu hàng. Thế là một giải Nam Dương hơn mười quận được bình định.

Chu Tuấn truyền lệnh ban sư hồi trào, vào thẳng Ngân Loan Ðiện ra mắt.

Hán Vương truyền dọn tiệc khao thưởng quân sĩ và phong cho Chu Tuấn làm chức Xa Kỵ Tướng Quân, kiêm lãnh Hà Nam.

Chu Tuấn dâng biểu xin phong chức cho Tôn Kiên và ba anh em Huyền Ðức. Tôn Kiên vì có thân thế nên được phong chức Tư Mã, lãnh quân đi trấn nhậm liền. Còn ba anh em Huyền Ðức chờ đợi rất lâu, mà không thấy phong thưởng gì hết, lòng lấy làm hổ thẹn, chẳng biết vì sao triều đình lại có chuyện bất công như vậy.

Một hôm, ba anh em Huyền Ðức ra đường dạo mát giải khuây, bỗng gặp xe của Quan Lang là Trương Quân đi ngang qua đó. Huyền Ðức tỏ hết tâm sự mình cho Trương Quân nghe.

Trương Quân nghe nói cả kinh, lập tức vào triều tâu:

– Xưa những cuộc nổi loạn gây nên thường bởi những kẻ nịnh thần. Sở dĩ giặc Khăn Vàng tạo phản là vì lũ Thập Thường Thị khi quân, mua quan bán tước, kẻ có công không được thưởng, kẻ có tội không bị trừng phạt xứng đáng, làm mất lẽ công bằng. Vậy nay bệ hạ phải chém đầu hết chúng nó và ban bố cho dân chúng biết, thì lòng dân mới yên ổn.

Bọn Thập Thường Thị liền tâu với vua là Trương Quân khi chúa. Vua khiến kẻ tả hữu đuổi Trương Quân ra.

Ðược vua tín dùng, bọn Thập Thường Thị lại càng đắc ý bàn với nhau:

– Ðây chắc có kẻ nào có công dẹp giặc Khăn Vàng mà không được trọng thượng nên oán hận sanh ra chuyện ấy. Bây giờ chúng ta phải tìm chức nào nho nhỏ phong cho nó, để chúng nó an lòng, rồi sẽ tìm cách sa thải chúng cũng không muộn.

Bởi lẽ đó nên Huyền Ðức được phong làm Huyện Úy tới huyện An Hỉ, thuộc phủ Trnng San, và phải phó nhiệm liền nội ngày hôm ấy.

Huyền Ðức được lịnh cho tất cả các nghĩa binh của mình được trở về làng, chỉ còn để lại vài mươi người tâm phúc, rồi cùng Quan, Trương thẳng đến huyện An Hỉ nhận việc.

Trấn nhậm được bốn tháng, nhân dân nơi đây rất mến phục ba anh em Huyền Ðức là người có nhiều lương tâm và đạo đức.

Ngày kia, Huyền Ðức bắt được chiếu chỉ của Triều đình phán rằng: “Tất cả những kẻ có công dẹp giặc Khăn Vàng được phong làm chức Huyện Úy đều phải bị cách chức.”

Huyền Ðức đoán biết mình thế nào cũng bị sa thải, nên đêm ngày thường bàn bạc với hai em chưa biết vì duyên cớ gì.

Bỗng có Ðốc Bưu di hành đến huyện. Huyền Ðức ra thành nghinh tiếp, vừa thấy Ðốc Bưu vào đến quán dịch, Ðốc Bưu gọi Huyền Ðức nói:

– Huyện Úy làm người thế nào mà xuất thân đó?

Huyền Ðức nói:

– Tôi vốn là dòng dõi của Trung Sơn Tĩnh Vương vì lúc nọ nghe giặc Khăn Vàng tạo phản nên ra tụ tập nghĩa quân giúp nước. Từ ở Trác quận tôi đã dẹp lớn nhỏ hơn ba mươi trận, vì vậy mà được chút ít công lao nên được phong làm chức Huyện Úy nầy.

Huyền Ðức nói chưa dứt lời thì Ðốc Bưu đã hét lớn:

– Sao ngươi dám xưng là Hoàng Thân, lại còn hư báo công lao của ngươi nữa? Nay ta vâng lệnh triều đình đến đây để sa thải các tham quan, ô lại, ngươi có biết không?

Huyền Ðức nghe Ðốc Bưu nói thế, vội vàng lui ra không dám cãi, trở về huyện bàn vớì các quan lại. Các quan lại bàn tính một hồi rồi mới nói với Huyền Ðức.

– Ðốc Bưu là một đứa bất liêm. Nay nó làm oai như vậy là ý nó muốn nài hối lộ đó.

Huyền Ðức lắc đầu, nghĩ ngợi giây lát rồi nói:

– Ta lâu nay chẳng hề lấy của ai một đồng, một chữ nào, vậy tiền đâu mà đưa cho nó. Vả chăng, nếu có tiền ta cũng không thể làm được cái chuyện hèn hạ như vậy.

Ðốc Bưu thấy Huyền Ðức tỏ vẻ không phục tùng ý muốn của mình, bèn bắt tất cả các quan lại buộc vu cho Huyện Úy là người hà lạm của dân. Các quan đều khóc lóc xin cho Huyền Ðức.

Lúc ấy, Trương Phi cũng vừa đi đến, thấy có năm sáu ông già ngồi buồn trước quán dịnh khóc lóc. Phi liền kêu lại hỏi thăm duyên cớ, thì các ông già kia nói:

– Ðốc Bưu bắt ép bọn tôi khai cho Lưu Công là kẻ hà lạm, chúng tôi vì cảm mến Lưu công nên đã xin ba bốn phen mà chưa được.

Nhân lúc Trương Phi vừa uống xong mấy chén rượu để giải buồn, nghe nói như vậy, lòng nổi nóng, liền nhảy vội xuống ngựa xông vào quán dịch, chạy thẳng đến công đường, thấy Ðốc Bưu đang ngồi vểnh chân trên cao thét mắng các Huyện lại bị trói để nằm dưới đất.

Trương Phi bước đến thét lớn:

– Thằng khốn nạn kia! Ngươi biết ta là ai mà ngươi dám đến đây làm phách như vậy?

Ðốc Bưu chưa kịp nói nửa lời thì liền bị Trương Phi nhảy tới đá một đá vào quai hàm. Ðốc Bưu đau quá, la lên một tiếng, nhào xuống đất.

Chưa chịu thôi, Trương Phi nắm râu Ðốc Bưu kéo đi xềnh xệch, dẫn thẳng đến huyện nha, trói vào cột cờ, rồi bẻ roi đánh Ðốc Bưu một hồi nữa, đến gãy hết mấy chục cành roi liễu. Ðốc Bưu chẳng biết làm sao, đau quá buộc lòng phải năn nỉ, nhưng Trương Phi không tha.

Lúc ấy Huyền Ðức đang ngồi một mình buồn bực, bỗng nghe có tiếng huyên náo liền hỏi kẻ tả hữu. Và bọn này thưa:

– Trương tướng quân đang trói một người trước huyện nha mà đánh dữ lắm!

Huyền Ðức vội vã bước ra xem thì thấy người bị đánh là Ðốc Bưu, ông ta thất kinh, chạy lại nắm tay Trương Phi kéo lại. Trương Phi nói với Huyền Ðức:

– Anh đừng cản ngăn. Thằng này là một đứa ăn cướp, không đánh cho chết để làm gì?

Thấy Huyền Ðức tới, Ðốc Bưu năn nỉ:

– Lưu công ơi! Xin cứu dùm tánh mớng tôi với.

Huyền Ðức vốn lòng nhân từ thấy vậy không cho Trương Phi đánh nữa. Quan Công đang đứng một bên, bước đến nói:

– Ðại ca đã lập được công lao rất lớn. Với công án ấy lẽ ra đại ca phải được trọng thưởng, thế mà đại ca chỉ được chức Huyện Úy nhỏ mọn nầy. đã vậy, Ðốc Bưu lại còn đến đây đòi của hối lộ, làm nhục chúng ta nữa. Em nghĩ, không phải là chỗ để cho chim phụng hoàng nghỉ cánh, chỉ bằng giết quách Ðốc Bưu cho đã giận rồi trả ấn, trở về làng tìm cơ lập nghiệp là hơn.

Huyền Ðức liền lấy ấn treo nơi cổ Ðốc Bưu, và nói:

– Cứ như cái tội nhũng lạm của dân cũng đủ cho chúng ta giết ngươi cho an lòng dân chúng, nhưng vì từ tâm, ta dung thứ cho ngươi đó. Ngươi hãy đem ấn này về giao nạp cho triều đình, và ăn năn hối cãi để khỏi ân hận sau nầy. Chúng ta đi đây.

Khi Ðốc Bưu được thả thì ba anh em Huyền Ðức đi hết. Ðốc Bưu quá tức giận, lén đi cáo với quan Thái Thú quận Dĩnh Châu, vu cáo cho anh em Huyền Ðức mưu phản. Quan Thái thú Dĩnh Châu ra lệnh khắp các huyện tầm nã ba anh em Huyền Ðức.

Bấy giờ, ba anh em Huyền Ðức dắt nhau qua Ðới Châu ở với Lưu Khôi. Lưu Khôi thấy Huyền Ðức là dòng dõi nhà Hán nên có cảm tình giấu nuôi trong nhà.

Tới triều, bọn Thập Thường Thị lúc nầy lại lộng quuyền thái quá. Chúng dùng đủ cách tham ô. Những người nào phục tùng theo chúng thì được chức quyền, bằng trái lại thì đều bị chúng làm hại. Chúng lại sai người đi khắp quận huyện bắt những người nào có công dẹp giặc Khăn Vàng, được phong chức tước đều phải nạp lễ vật cho chúng, nếu không chúng tâu với vua sa thải ngay.

Bởi lẽ đó, nên nhiều người liêm chính đã bỏ chức về làng làm dân, không chịu mang tiếng nhục. Hoàng phủ Tung và Chu Tuấn là người có công lớn trong việc dẹp giặc Khăn Vàng, cũng bị bọn Thập Thường thị tâu với vua bãi chức.

Vua lại phong cho nhóm nịnh thần như Triệu Trung làm chức Xa Kỵ Tướng quân, và hết thảy mười ba người trong bọn Trương Nhượng đều lãnh chức Liệt Hầu. Từ đó, việc triều chính càng ngày càng hư nát, triều thần lộn xộn, dân tình ly tán.

Tới quận Trường Xa có tên Khu Tỉnh nổi loạn. – Ngư Dương có bè lũ Trương Cử, Trương Thuần làm phản. Trương Cử xưng Thiên tử, Trương Thuần xưng Ðại Tướng Quân. Biểu văn hàng ngày cấp báo về triều như cánh bướm, nhưng bọn Thập Thường Thị nhẹm hết, không cho vua hay.

Một hôm vua ngự ở hậu viên, đang yến ẩm với bọn Thập Thường Thị bỗng có quan Giám Nghị Ðại Phu Lưu Ðào đi thẳng vào, quỳ trước mặt vua mà khóc. Vua hỏi duyên cớ, Lưu Ðào tâu:

– Vận mạng thiên hạ có thể nguy biến trong một sớm một chiều, thế mà bệ hạ cứ ngồi yến ẩm với bọn yểm hoạn này ư?

Vua nói:

– Nước nhà đang lúc thái bình thanh trị, sao khanh lại nói là nguy biến?

Lưu ựào tâu:

– Bốn phương giặc giã nổi lên như ong, hiện đang xâm chiếm từ Châu nọ đến Quận kia! Cái tai vạ này cũng chỉ vì mười tên Thường Thị buôn quan bán chức, hại dân mà ra! Chúng dối vua loạn phép, cho nên những người ngay thẳng đều xa lánh triều đình. Cái nguy biến trước mắt, mong bệ hạ suy xét.

Mười tên Thường Thị nghe vậy liền quỳ xuống trước mặt vua, trật mũ ra, tâu:

– Quan đại thần đã không dung thì lũ hạ thần này phải chết. Xin bệ hạ mở lòng hiếu sinh cho chúng tôi được trở về làng cày ruộng, làm vườn, nguyện đem hết tài trí giúp nước nhà nuôi quân phá giặc.

Tâu xong, tât cả mười tên Thường thị đều khóc rống lên rất thảm thiết, như sắp bị đem đi hành hình vậy.

Vua giận mắng Lưu Ðào:

– Nhà ngươi cũng có đầy tớ, sao lại không dung kẻ hầu, người hạ của trẫm.

Nói xong vua lại truyền võ sĩ bắt Lưu Ðào đem chém.

Lưu Ðào kêu lớn:

– Ðầu thần rơi không đáng tiết, chỉ tiếc cho cơ nghiệp nhà Hán gây dựng trên bốn trăm năm, nay phút chốc phải tan tành.

Võ sĩ trói Lưu Ðào đem ra ngoài, sắp sửa hành hình, thì bỗng có một vị đại thần chạy đến quát lớn:

– Không được hạ thủ. để ta vào can vua đã!

Võ sĩ thấy đó là quan Tư Ðồ Trần Ðam, nên chưa dám khai đao, còn chờ lệnh.

Trần Ðam đi thẳng vào hỏi vua:

– Lưu Giám nghị có tội gì mà bệ hạ truyền đem chém?

Vua Linh Ðế nói:

– Tội sàm báng cận thần và khi quân.

Trần Ðam nói:

– Hầu hết dân chúng trong thiên hạ ai cũng muốn ăn sống mười đứa Thường Thị, sao bệ hạ lại kính nể chúng như cha mẹ? Không một tấc công lao mà sao đứa nào cũng được phong tước Hầu. Ðã vậy, bọn Phong Tư là kẻ tư thông với giặc Khăn Vàng, toan làm nội phản, thế mà nay bệ hạ còn chưa tỉnh ngộ, mến chuộng bọn hoạn quan như thế sao?

Linh Ðế nói:

– Phong Tư làm phản, việc ấy còn mù mờ chưa rõ hư thật. Còn như trong mười người Thường Thị há lại không có kẻ nào là trung thần sao?

Trần Ðam dập đầu dưới đất, nhất định can vua cho kỳ được. Vua nổi giận truyền võ sĩ trói lại đem ra hạ ngục cùng với Lưu Ðào, chờ xét xử sau.

Ngay đêm đó, bọn Thường Thị kéo nhau vào ngục giết chết hai vị trung thần này, rồi chúng lại giả chiếu vua phong Tôn Kiên làm Thái Thú Trường Sa, sai đi đánh Khu Tỉnh, bình định phiến loạn.

Chưa đầy ba mươi ngày, Tôn Kiên đã dẹp yên, viết thiệp về triều cáo báo. Thế là vùng Giang Hạ được yên, Tôn Kiên được phong làm Ý Trình Hầu, Lưu Ngu thì được phong làm U Châu Mục, lãnh quân đến Ngư Dương đánh Trương Thuần, Trương Cử.

Bấy giờ Lưu Khôi ở Ðới Châu viết thơ tiến cử và bảo ba anh em Huyền Ðức đến ra mắt Lưu Ngu. Lưu Ngu rất mừng, cử anh em Huyền Ðức làm Ðô Úy, dẫn binh vào thẳng sào huyệt của giặc đánh phá kịch liệt hai ba ngày liền.

Trương Thuần vốn là kẻ hung bạo hay chém giết, nên lòng quân sinh biến. Một tên đầu mục núp trong trướng lừa giết chết Trương Thuần rồi đem đầu ra ngoài nạp cho Huyền Ðức. Trương Cử thấy tình thế nguy nan, nên tự tử chết luôn. Quân sĩ kéo ra đầu hàng hết.

Ngư Dương bình đinh, Lưu Ngu dâng biểu tâu rõ công lớn của Lưu Bị. Triều đình xá cho Huyền Ðức cái tội đánh Ðốc Bưu và phong chức Hạ Mật Thừa, rồi thăng Cao Ðường Úy.

Sau đó, Công Tôn Toản lại dâng biểu trần thuật công lao của Huyền Ðức khi dẹp giặc Khăn Vàng trước kia mà tiến cử làm Liệt Bộ Tư Mã, lãnh chức Bình Nguyên Huyện Lệnh. Triều đình y tấu, Huyền Ðức tới chấn nhậm Bình Nguyên, có đủ lương tiền, quân mã, ba anh em mới được thanh nhàn. Còn Lưu Ngu có công dẹp giặc được phong làm Thái Úy.

Năm Trung Bình thứ sáu, mùa hạ, tháng tư, vua Linh Ðế đau nặng, bèn triều Ðại Tướng Hà Tiến vào cung để thương nghị.

Hà Tiến vốn con nhà hàng heo, nhân cơ hội em gái vào cung làm quý nhân, nhờ sanh được hoàng tử Biện, nên mới được phong làm Hoàng Hậu. Hà Tiến cũng nhờ đó mà nhậm được trọng chức.

Vua lại lấy Vương Mỹ Nhân sanh đặng Hoàng tử Hiệp, vì thế Hà thái hậu ghen ghét dùng thuốc độc giết Vương Mỹ Nhân đi.

Ðổng Thái Hậu liền đem Hoàng tử Hiệp về cung riêng của mình để nuôi dưỡng.

Ðổng Thái Hậu là mẹ của vua Linh Ðế, thường ngày khuyên vua lập Hoàng tử Hiệp làm thái tử. Vua cũng bằng lòng, ngặt vì đau nặng nên chưa tính đến việc ấy được. Trung Thường Nghị là Kiển Thạc biết việc ấy bèn vào tâu với vua:

– Nếu bệ hạ muốn lập Hoàng tử Hiệp lên ngôi thì bệ hạ phải giết Hà Tiến thì sau này mới khỏi sanh hậu hoạn.

Vua suy nghĩ rồi cho đòi Hà Tiến vào cung. Khi Hà Tiến vừa vào tới cửa cung thì gặp quan Tư Mã là Phan Ân đón lại nói:

– Ông chớ vào cung, Kiển Thạc âm mưu muốn giết ông đấy.

Hà Tiến nghe nói thất kinh vội vã bước ra về thẳng tư dinh, lập tức mời các quan đại thần đến bàn bạc công việc.

Ông nói:

– Nay bọn hoạn quan ỷ thế, làm nhiều đều sàm nịnh, nếu chúng ta không tìm cách trừ hết bọn nó, thì chúng ta ắt không khỏi mang hậu họa.

Hà Tiến vừa nói dứt lời, thì bỗng có một người bước đến, thưa:

– Quyền thế của hoạn quan rất mạnh, khởi từ lúc vua còn nhỏ, chi nhánh trong triều rất nhiều, giết làm sao hết được, phỏng như chúng ta không làm nổi để lộ cơ mưu ắt không khỏi bị diệt tộc.

Hà Tiến quay mặt sang nhìn, thì thấy người ấy là Tào Tháo, ông nổi giận nạt lớn:

– Ngươi là người tiểu bối, biết gì mà dám bàn đến.

Trong lúc mọi người còn đang bàn bạc thì Phan An chạy đến nói:

– Vua đã băng hà rồi, nhưng Kiển Thạc lại thương nghị với bọn Thập Thường Thị không cho phát lộ ra ngoài. Chúng nó muốn triệu Hà Quốc Cựu vào cung để diệt trừ hậu họa, hầu lập Hoàng tử Hiệp lên làm vua.

Phan An nói vừa dứt lời thì quả có chiếu triệu đòi Hà Tiến vào cung.

Tào Tháo thấy vậy bước ra nói:

– Hôm nay hãy lo tôn tân quân trước đã, rồi sẽ tính kế trừ lũ nịnh thần sau.

Hà Tiến nói:

– Như vậy ai vì ta, vì xã tắc mà lo việc chánh quân và việc trừ lũ nịnh hay không?

Bỗng có người từ góc trái bước ra, thưa:

– Xin cho tôi lãnh năm ngàn quân đến tới cung phá cửa lập tân quân và bắt tất cả bọn Thập Thường Thị mà giết cho rồi.

Hà Tiến xem lại người nói đó là Tư Ðồ Viên Thiệu, tự là Bôn Sồ, hiện đang giữ chức Tư Ðồ Huyện Úy.

Hà Tiến mừng rỡ, vội vã điểm năm ngàn quân giao cho Viên Thiệu.

Viên Thiệu nai nịt hẳn hòi dẫn năm ngàn quân Ngự Lâm kéo thẳng vào cung. Còn Hà Tiến thì cùng với các quan đại thần như: Hà Ngung, Tuân Nhu, Trịnh Thái v.v.. cộng cả thảy hơn ba mươi người, đồng kéo thẳng vào trào, lập Thái tử Biện lên ngôi Hoàng đế.

Viên Thiệu dẫn quân đi thẳng vào cung tìm bắt Kiển Thạc, và nã tróc bọn Thập Thường Thị.

Kiển Thạc hay tin khiếp vía, vội vã nhảy ra ngự huê viên mà trốn, nhưng bất thời lại gặp Trung Thường Thị là Quách Thắng thấy được đâm một kiếm chết tốt.

Bọn Trương Nhượng biết nguy đã đến nơi liền chạy vào cung van cầu Hà Thái Hậu:

– Kẻ lập mưu hãm lại tướng công là Kiển Thạc, nay Kiển Thạc đã chết rồi, còn chúng tôi là kẻ vô can, mong Thái hậu mở lòng nhân che chở cho.

Hà Thái hậu nói:

– Các người đừng sợ nữa, để ta bảo hộ cho.

Dứt lời, Hà Thái hậu liền triều Hà Tiến đến nói:

– Anh em ta lúc trước hàn vi, nếu không nhờ bọn Trương Nhượng giúp đỡ một tay thì đâu có quyền cao lộc cả như ngày hôm nay. Vậy anh nên nghĩ lại vị tình mà dung tha bọn Trương Nhượng là phải hơn.

Hà Tiến ngẫm nghĩ giây lâu rồi trở ra nói với các quan:

– Kiển Thạc là một tên bạo phản, nay hắn đã đền tội rồi, còn các người khác ta có thể dung tha được, chớ nên sát hại chúng làm chi.

Viên Thiệu nói:

– Ðốn cây mà không nhổ tận rễ thì làm sao khỏi bị nứt chồi.

Hà Tiên nói:

– Ý ta đã cương quyết như vậy, ngươi chớ có nhiều lời vô ích.

Các quan nghe Hà Tiến nói thế, ai nấy đều hậm hực lui về dinh.

Sáng hôm sau Hà Thái hậu giáng chỉ phong Hà Tiến làm Tham Lục Thượng Thơ, còn các quần thần cứ đẳng gia phong một trật.

Công việc làm của Hà Tiến khiến cho Ðổng Thái Hậu căm tức, bèn kêu bọn Trương Nhượng vào cung nói:

– Em gái hắn trước kia chính nhờ ta tiến cử nó mới được vua yêu dùng đến ngày hôm nay. Hôm nay con trai của nó được nối ngôi Hoàng đế, thế lực trong ngoài của nó quá mạnh, như vậy bọn chúng ta có ngày e phải lâm hại.

Trương Nhượng nghe Ðổng Thái Hậu than thở, liền bày mưu:

– Bây giờ Nương Nương làm sao chưởng chấp uy quyền, Cựu Ðổng Trọng và phong thêm chức cho chúng tôi thì một ngày kia chúng tôi có cơ hội cứu nguy tình thế.

Ðổng Thái Hậu rất mừng khen Trương Nhượng có mưu cao.

Ngày thứ Ðổng Thái Hậu thiết trào rồi giáng chỉ phong cho Hoàng tử Hiệp làm Trần Lưu vương, Ðổng Trọng làm Biên Kỵ tướng quân, bọn Trương Nhượng đều được gia thêm chức và cùng dự việc trào chính.

Hà Thái Hậu thấy Ðổng Thái Hậu lộng quyền trong lòng sanh nghi, bèn thiết yến diện trong cung rồi thỉnh Ðổng Thái Hậu phó yến.

Khi dự tiệc nửa chừng, Hà Thái Hậu đứng dậy tay bưng chén rượu nói với Ðổng Thái Hậu:

– Chúng ta là phận đàn bà mà dự đến việc trào chính chẳng khác nào chúng ta đã đi ngoài phận sự. Những gương xưa còn rành, Lữ Hậu cũng vì nắm trọn quyền mà cả dòng họ bị tru lục, và còn biết bao nhiêu việc tai hại khác. Chúng ta hãy noi gương đó mà tránh đi những cái dữ để khỏi ân hận ngày sau

Ðổng Thái Hậu giận dữ mắng lớn:

– Mi ỷ thế lực của con mi làm vua mi dám loạn ngôn như vậy. Tội ngươi tra thuốc giết Vương mỹ nhân là một cựu thù ta chưa nói đến đó thôi.

Hà Thái Hậu thấy Ðổng Thái Hậu nói quá lời, lòng nổi giận cũng mắng lại:

– Ta lấy lời hơn lẽ thiệt để bàn bạc, sao mi lại dám xúc phạm đến danh dự của ta?

Hai bên không ai chịu nhịn ai, cứ mắng đùa với nhau không kể gì đến danh dự. Bọn Trương Nhượng hay tin, vội chạy đến can ngăn hết lời Ðổng Thái Hậu mới chịu về cung.

Hà Thái Hậu đêm ấy không ngủ được, bèn gọi Hà Tiến đến tỏ bày việc ấy.

Rớng sáng Hà Tiến một mặt nhóm họp đình thần buộc Ðổng Thái Hậu phải rời khỏi cung ra ở phủ Hà Giang, mặt khác vây nhà Biên Kỵ tướng quân Ðổng Trọng. Ðổng Trọng liệu thế khó thoát được liền cầm đao tự vận nơi hậu dinh.

Bọn Trương Nhượng thất vía không biết chổ nào nương tựa vì thế lực của Ðổng Thái Hậu đã tiêu tan trong phút chốc, bèn đem tiền bạc vàng lụa đến lo lót cho người em Hà Tiến là Hà Miêu nói với Hà Thái Hậu để được toàn mạng. Nhờ đó mà bọn Thập Thường Thị lại vẫn được dung dưỡng và giữ chức quyền như cũ.

Việc triều chính đã tạm yên, Hà Tiến còn sợ những hậu họa nên sai người đến Hà Giang tìm cách đánh thuốc độc Ðổng Thái Hậu. Cách mấy ngày sau có tin Ðổng Thái Hậu bị ngộ độc mà chết, Hà Tiến bèn dạy đem xác Ðổng Thái Hậu về chôn nơi Vương Lăng.

Công việc ấy thấu tai đến lũ nịnh thần nên nhiều tiếng đồn làm cho Viên Thiệu hay được. Viên Thiệu liền vào nói lại với Hà Tiến:

– Tôi có nghe tiếng đồn do bọn Thập Thường Thị rao ra rằng tướng công đã giết Ðổng Thái Hậu. Nếu để chúng gièm pha như vậy e không lợi, chi bằng nhân cơ hội nầy mà giết chết bọn chúng đi thì mới khởi sợ sanh ra hậu hoạn.

Hà Tiến nghe được việc ấy, ngày đêm còn đang suy đi tính lại để tìm cách diệt trừ bọn Thập Thường Thị, thì việc này bọn Trương Nhượng hay được. Nhưng thế yếu không biết làm sao, bọn Trương Nhượng lại đem vàng bạc thiệt nhiều đến lo lót cho Hà Miêu một lần nữa để vào nói Hà Thái Hậu.

Hà Miêu vào cung tâu với Hà Thái Hậu:

– Bọn Thập Thường Thị lâu nay rất có công với triều chính, nay vì vô cớ tướng công Hà Tiến muốn diệt trừ họ e sanh ra rối loạn triều thần.

Hà Thái Hậu nghe nói khiến quân triệu Hà Tiến vào cung bảo:

– Tiên Ðế mới băng hà; việc triều chính còn nhiều rối lắm, không nên có ý làm hới các cựu thần mà sanh ra rối loạn.

Hà Tiến là kẻ không cương quyết nên nghe Hà Thái Hậu nói như vậy cũng phải vâng lệnh lui ra thuật lại ý kiến của Hà Thái Hậu cho Viên Thiệu nghe. Viên Thiệu nói:

– Lực lượng chúng ta bây giờ đâu có sợ bọn chúng. Nếu tướng công có nghi ngờ triệu tập các anh hùng hào kiệt trấn giữ khắp châu, quận rồi trở về cung mà giết sạch bọn chúng nó đi thì có lo gì bọn chúng phản ứng.

Hà Tiến nói:

– Kế ấy rất hay.

Rồi, ông tính phát các hịch văn triệu hồi các trấn về hợp sức.

Xảy có người bước tới cản ngăn:

– Theo ý ngu hạ thì việc ấy tướng công không nên làm, và người xưa có câu: “Che mắt mà bắt chim én”. Việc nhỏ mọn như thế mà còn phải dùng đến mưu chước huống chi việc quốc gia đại sự. Nay Tướng công chấp chưởng binh quyền, muốn làm gì chẳng được mà Tướng Công phải tính như vậy. Hơn nữa anh hùng khắp nơi, mỗi người có đều có chí hướng riêng, phỏng như Tướng Công triệu họ về mà có một số người không tuân lệnh có phải Tướng Công cầm giáo mà lại trở cán cho thiên hạ không?

Hà Tiến nghe nói cười lớn và nói:

– Ngươi là kẻ hủ nho, kiến thức bao nhiêu mà dám cùng bàn đến đại sự.

Hà Tiến nói vừa dứt lời lại có một kẻ vỗ tay cười to, nói:

– Việc nhỏ như vậy mà cần chi phải bàn đi bàn lại cho thêm mệt.

Mọi người nghe nói quay lại thì thấy người ấy là Tào Tháo.

Hồi Thứ Ba

Bàn phế lập, Ðổng Trác mắng Ðinh Nguyên
Tặng Xích thố, Lý Túc dụ Lữ Bố

Nhắc lới Tào Tháo thấy Hà Tiến muốn gọi binh mã các nơi về triều, thì nói rằng:

– Xưa nay những bọn gian nịnh thì đời vua nào chẳng có, ấy là việc thường sự trong đời. Nhưng vì Vua gần đây quá sủng ái, cho chúng nó giữ quyền bính mà không nỡ tước bỏ, nên mới đến nỗi này. Còn muốn trừ chúng nó thì chỉ cần trị tội đứa cầm đầu là đủ, và chỉ cần một tên quản ngục bắt giam cũng xong. Việc gì phải triệu quân ngoài ùn ùn kéo về? Nếu cố giết hết bọn chúng, việc ắt tiết lộ. Tôi e rằng thất bại đấy.

Hà Tiến bực tức gắt:

– Mạnh Ðức cũng có một ý khác trong bụng nữa sao?

Tào Tháo bỏ ra ngoài, nói một mình:

– Kẻ làm cho thiên hạ loạn, chính là thằng Tiến.

Hà Tiến bèn ngầm sai sứ đem mật chiếu, ngày đêm đi tới các Trấn…

Ðây nhắc lới Tiền Tướng Quân Ngao Lương Hầu, Tây Lương Thứ Sử là Ðổng Trác vì trước kia đánh giặc Khăn Vàng không có công lao gì, bị thua luôn Trương Giác mấy trận nên triều đình triệu về buộc tội. Nhưng Trác đã đem của đút lót cho bọn Thập Thường Thị nên khỏi tội.

Sau lại khéo luồn cúi bọn quyền quý trong triều nên Trác lới được thăng quan vùn vụt: từ Trung Lang Tướng, nhảy lên Tiền Tướng Quân, Ngao Hương Hầu, Tây Lương Thứ Sử!

Từ lúc trấn thủ ở ngoài, trong tay thống lãnh hơn hai mươi vạn quân tới Tây Lương, Ðổng Trác đã có lòng phản nghịch, nhưng chưa dám.

Lúc ấy, lại được chiếu triệu về, thật là dịp may hiếm có, Ðổng Trác mừng như cọp gặp mồi, liền điểm binh mã, lục tục kéo về triều. Trác cử con rể là Ngưu Phụ làm Trung Lang Tướng ở lại trấn đóng Thiểm Tây, còn mình tự dẫn Lý Thôi, Quách Dĩ, Phàn Trù, Trương Tế đều nhắm Lộc Dương tấn phát.

Mưu sĩ Lý Nhu, cũng là con rể của Ðổng Trác, bàn rằng:

– Nay mặc dầu tuy có chiếu triệu , song việc nầy xem ra có hơi ám muội, nếu muốn nên việc lớn thì phải sai người dâng biểu làm cho danh chánh ngôn thuận thì mới xong.

Ðổng Trác nghe Lý Nhu nói thế, cười vang:

– Mưu sĩ thật đáng là kẻ tài ba xuất chúng.

Nói rồi, Ðổng Trác lập tức làm sớ như sau:

“Nay trộm nghe triều đình lộn xộn, dân chúng oán than bởi lũ Thập Thường Thị ỷ quyền thế, hiếp chế vua nên mới sanh ra như vậy. Giết rắn không nên chừa độc, đốn cây phải bại cho tận gốc. Mổ nhọt tuy đau nhưng một lần lành bệnh còn hơn nuôi dưỡng bệnh hoạn trong mình. Nay Hạ thần xin khua chiêng gióng trống, đem binh về Lộc Dương quyết diệt trừ bọn Trương Nhượng để cứu nguy cho xã tắc, cho thiên hạ được an, ấy là vạn hạnh.”

Hà Tiến tiếp được biểu ấy, vội vã triệu tập các quan văn võ đến thương nghị. Quan Thị Ngự Sử là Trịnh Thái can rằng:

– Ðổng Trác là giống sài lang, nếu để hắn về triều, ắt nó sẽ ăn thịt người.

Hà Tiến nhìn Trịnh Thái cười:

– Ngươi lấy chi làm bằng cớ. Công việc lớn mà đa nghi như thế thì bao giờ mới thành sự được.

Lư Thực thấy vậy, bước ra can:

– Tôi vốn biết Ðổng Trác là hạng mặt người mà lòng thú dữ, một khi vào cấm đình sẽ gây họa hoạn. Phải mau mau chận hắn lại, đừng cho vào, thì mới được yên.

Các quan văn võ đều cố can ngăn Hà Tiến, nhưng Tiến vẫn khăng khăng một mực không nghe.

Trịnh Thái, Lư Thực đều bỏ quan mà về. Các quan đại thần thấy vậy, cũng lần lượt bỏ đi quá nửa.

Hà Tiến lại cho người đi đón Ðổng Trác tới Dẵn Trì. Trác đóng quân lại, không tiến nữa.

Bọn Trương Nhượng hay được việc ấy, liền bàn với nhau:

– Ấy là mưu của Hà Tiến. Chúng ta hiện bây giờ như cá nằm trong chậu, nếu chẳng lo ra tay trước, đợi nước đến trôn mới nhảy thì sẽ bị chết ba họ.

Liền cho năm mươi tên đao phủ mai phục ở cung Trường Lộc, phía trong điện Gia Ðức, rồi kéo cả bọn vào quỳ trước mặt Hà Thái Hậu, khóc lóc thưa:

– Nay Ðại Tướng quân phát chiếu triệu quân ngoài về kinh để giết lũ thần. Vậy mong Thái Hậu mở lòng từ bi, cứu mạng cho.

Hà Thái Hậu nói:

– Việc ấy bọn ngươi hãy đến phủ Ðại Tướng quân mà tạ tội để cho người cứu vớt cho.

Bọn Trương Nhượng vừa khóc vừa nói:

– Nếu lũ Hạ thần đem thân tới Tướng phủ, ắt sẽ nát thịt tan xương ngay. Xin Thái Hậu thương chúng tôi mà tuyên triệu Ðại Tướng quân vào cung mà phủ dụ. Nếu bấy giờ, Ðại Tướng quân không nghe nữa, thì lũ thần xin chịu chết trước mặt Thái hậu.

Thái hậu liền giáng chiếu đòi Hà Tiến vào. Tiến được chiếu, vừa muốn ra đi thì Trần Lâm can:

– Chiếu của Thái hậu đây ắt là mưu của lũ Thập Thường Thị, thiết nghĩ không nên vào. Vào ắt mang họa.

Tiến nói:

– Rõ ràng là chiếu của Thái hậu đây, sợ tai vạ gì nữa?

Viên Thiệu cũng xen vào:

– Nay cơ mưu đã bại lộ, Ðại Tướng quân còn vào cung làm gì?

Tào Tháo nói:

– Hãy đòi hết lũ Thập Thường Thị ra đây rồi Ðại Tướng quân sẽ vào thì chẳng can chi.

Nhưng Hà Tiến gạt đi:

– Ðó là ý kiến trẻ con. Ta nắm việc thiên hạ trong tay, lũ Thập Thường Thị dám động đến mình ta sao? Các người đừng nghi ngờ như thế!

Viên Thiệu nói:

– Nếu Ðại Tướng Quân muốn vào thì chúng tôi xin dẫn giáp sĩ theo hộ tống, để phòng bất trắc.

Nói rồi, Viên Thiệu, Tào Tháo mỗi người nai nịt hẳn hòi, đem binh khí theo mình, lới tuyển năm trăm tinh binh, giao cho em Thiệu là Viên Thuật chỉ huy. Viên Thuật nai nịt gọn ghẽ, đem binh mai phục nơi Thanh Tỏa. Còn Tháo và Thiệu cầm gươm hộ tống Tiến vào trước cung Trường Lộc.

Vừa đến cửa cung thì có Hoàng Môn Quan truyền chỉ rằng:

– Thái Hậu chỉ vời một mình Ðại Tướng quân. Ngoài ra, không ai được vào.

Thế là Thiệu và Tháo bị cản lới ngoài cửa. Còn Hà Tiến cứ ngang nhiên vào không có chút e ngại…

Khi đến trước điện Gia Ðức thì bỗng bọn Trương Nhượng, Ðoàn Khuê xong ra đón chặn, miệng hô tả hữu vây chặt. Trương Nhượng lớn tiếng mắng:

– Bớ Hà Tiến! Ðổng Thái Hậu có tội gì mà mày nỡ phục độc giết hại? Ngày lễ táng vị Quốc Mẫu, sao mày giả đau không thèm ra dự? Mày chỉ là đồ con nhà hàng thịt hèn hạ, nhờ có bọn tao tiến cử lên Thiên Tử, mày mới được tôn quý đến mực này chứ! Thế mà mày đã không nghĩ đến báo đáp thì thôi, sao lới còn mưu hại bọn ta? Mày chửi bọn ta là đồ ô trọc, vậy thì ai là mặt thanh cao?

Bây giờ Hà Tiến mới biết nguy, vội tìm lối thoát nhưng các cửa cung đều đóng chặt. Hà Tiến chưa biết xử trí cách nào, đã bị phục quân đổ ra chém Tiến một đao đứt làm hai đoạn.

Người sau có thơ rằng:

Vận Hán lâm nguy, khiến giữa trào,

Ngu như Hà Tiến nắm quyền cao.

Khù khờ chẳng chịu nghe can gián,

Mắc nạn trong đền, chết dưới đao.

Bên ngoài Viên Thiệu, Tào Tháo đứng đợi mãi không thấy Hà Tiến trở ra, trong lòng sanh nghi.

Viên Thiệu bèn hô lớn:

– Mời Ðại Tướng quân lên xe trở về!

Bỗng bọn Trương Nhượng xách thủ cấp của Hà Tiến ném qua mặt tường ra ngoài, rồi lên tiếng tuyên dụ:

– Ðứa ngịch thần Hà Tiến mưu phản, đã bị giết rồi, còn tất cả bọn a tòng đều được tha thứ.

Nghe nói, Viên Thiệu đùng đùng nổi giận, thét lớn:

– Bọn yêm hoạn dám mưu sát đại thần! Ai muốn tru diệt ác đảng, phò xã tắc, hãy tới đây trợ chiến.

Bộ tướng của Tiến là Ngô Khuông liền nổi lửa đốt cửa Thanh Tỏa. Viên Thuật liền dẫn binh sấn vào trong cung, hễ gặp tên yêm hoạn nào là giết liền, chẳng kể lớn nhỏ già trẻ.

Viên Thiệu, Tào Tháo cũng vung gươm, chém khóa phá cửa, xông vào trong cung, lại gặp bọn Triệu Trung, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng toan chạy, liền đuổi đến Thúy Hoa Lâu, rồi bằm thây bọn nầy nát như tương.

Lúc ấy, trong cung đình lửa cháy ngất trời. Bọn Trương Nhượng, Ðoàn Khuê, Tào Tiết, Hầu Lãm bốn tên lập tức băng mình theo khói lửa, ép Thái hậu, Thiếu Ðế, và Trần Lưu Vương ra phía nội tỉnh, theo lối sau, chạy về Bắc Cung.

Nói về Lư Thực tuy đã bỏ quan tước, nhưng cũng còn ở tại triều, lúc bấy giờ nghe trong cung có biến, liền mặc giáp cầm thương, chạy tới chờ ở dưới lầu. Vừa gặp Ðoàn Khuê đem Hà Thái Hậu chạy tới, Lư Thực thét lớn:

– Nghịch tặc! Mày bức bách Thái Hậu đi đâu?

Khuê quay đầu chạy trốn. Hà Thái Hậu liều nhào qua cửa sổ nhảy ra, được Lư Thực cứu thoát.

Ngô Khuông chém giết tới nội đình thì gặp Hà Miêu cầm gươm chạy ra. Khuông hô lớn:

– Thằng Miêu đồng mưu hại anh, hãy giết nó đi!

Quân sĩ đồng thanh hô theo:

– Mau chém thằng giặc phản anh!

Miêu toan chạy, nhưng bốn mặt quân vây kín, băm xác ra như bùn.

Viên Thiệu lới sai quân sĩ chia nhau lùng bắt các gia thuộc của mười tên Thường Thị, bất luận lớn nhỏ đều giết hết.

Lúc ấy, tất cả những người không có râu, đều bị nghi là gia quyến của Thập Thường Thị, nên bị giết lầm vô số.

Còn, Tào Tháo thì lo chữa lửa trong cung, cho mời Thái Hậu về triều để nhiếp chánh việc nước. Mặt khác, Tháo sai quân đuổi theo bọn Trương Nhượng để tìm vua Thiếu Ðế.

Nói về Trương Nhượng, Ðoàn Khuê cướp Vua và Trần Lưu Vương, băng qua khói lửa, suốt đêm chạy không nghỉ ra núi Bắc Mang.

Vào khoảng canh ba, bỗng nghe mặt sau có tiếng quân reo ó vang trời, một đoàn binh mã đuổi tới. Thì ra là quan Trung Bộ Duyện Lại ở Hà Nam là Mẫn Cống. Cống phóng ngựa lên chẹn đường, thét lớn:

– Phản thần chớ chạy ! Có ta đến để bắt chúng bây đây !

Trương Nhượng hoảng vía, biết đã đến nước cuối cùng không thể nào trốn thoát được nữa, liền liều mạng nhảy xuống sông tự tử.

Còn Vua và Trần Lưu Vương bơ vơ một mình, chẳng biết việc hung kiết thế nào, nên không dám lên tiếng. Cả hai dắt nhau nép mình nơi bờ sông, trong đám cỏ gai gần đấy.

Mẫn Cống không thấy Vua đâu, bèn phân quân đi tứ tán kiếm tìm, nhưng rốt cuộc không thấy, đành phải kéo nhau trở về.

Còn Vua và Trần Lưu Vương núp đó chờ cho đến đầu canh tư, thấy bốn bề vắng vẻ mới dám bò ra. Ðêm ấy, sương xuống như mưa, hai người lạnh lẽo đói khát, buồn khổ ôm nhau mà khóc. Nhưng lại sợ có người hay được nên không dám khóc to.

Trần Lưu Vương nói vại Vua:

– Chốn nầy không thể ở lâu được, phải đi nơi khác gấp, mới sống được.

Thế là Vua và Trần Lưu Vương lấy chéo áo buộc lới vại nhau cho khỏi lạc, rồi mò mẫm lên mặt đê, gai góc đây đất, cố mà len chân, nhưng bóng tối dầy đặc không nhìn thấy đường lối gì cả. Trong lúc đang lo sợ, bỗng có hàng ngàn đom đóm tụ tập lới, chiếu tỏa sáng như sao sa trước mặt Vua.

Thấy vậy, Trần Lưu Vương nói:

– Hoàng huynh ơi, đây là trời giúp anh em ta!

Liền theo ánh sáng đom đóm mà đi, dần dần tìm thấy con đường. Tới canh năm thì chân đau quá, không thể đi được nữa, thấy bên chân núi có một gò cỏ cao, Thiếu Ðế và Trần Lưu Vương đành tạm ẩn vào trong gò ấy.

Gò này nằm ngay phía sau một trang viện. Trang chủ đêm ấy nằm mộng thấy có hai bóng mặt trời sa xuống đồng cỏ sau nhà, liền giật mình thức giấc, vội mặc áo ra ngoài, nhìn ngó bốn phía, thấy trên gò phía sau trang có hồng quan rực trời. Trang chủ lòng hoang mang kinh lạ, vội tới xem thì thấy có hai thiếu niên nằm trong đám cỏ, bèn hỏi:

– Hai cậu là con nhà ai?

Thiếu Ðế lo sợ, không dám nói gì. Trần Lưu Vương trỏ vào anh mà đáp:

– Ðây chính là đương kim Hoàng đế, vì bị bọn Thập Thường Thị làm loạn nên phải lánh mình nơi đây. Còn ta là Hoàng đệ Trần Lưu Vương.

Trang chủ nghe nói thất kinh, vội sụp xuống đất lạy hai lạy, rồi thưa:

– Hạ thần tên là Thôi Nghị, em của quan Tư Ðồ Thôi Liệt, nhân vì bọn Thập Thường Thị buôn quan bán tước, ghét người hiền, nên Hạ thần mới buồn lòng về ẩn dật nơi đây.

Nói xong phò Vua về nhà dâng rượu thịt cho vua dùng đỡ đói.

Nói về Mẫn Cống đuổi theo Ðoàn Khuê, khi trời hừng sáng thì bắt được được Ðoàn Khuê, liền cật vấn:

– Thiên tử ở đâu?

Khuê khai rằng khi chạy tới nửa đường thì lạc mất, không biết Vua đi về phía nào nữa. Mẫn Cống liền giết Ðoàn Khuê, cắt lấy đầu, treo dưới cổ ngựa, rồi chia quân đi bốn mặt tìm kiếm. Còn Mẫn Cống thì một mình một ngựa, lần đi hỏi dò.

Bỗng Cống đi tới nhà Thôi Nghị. Nghị ra đón, thấy một chiếc thủ cấp treo lủng lẳng trên cổ ngựa, liền hỏi duyên cớ. Cống thuật lại rõ ràng. Thôi Nghị mới dẫn Cống vào ra mắt Vua. Chúa tôi cùng khóc.

Mẫn Cống tâu:

– Một ngày không thể thiếu Vua. Xin Bệ Hạ hãy hồi triều.

Bấy giờ nhà Thôi Nghị chỉ có một con ngựa gầy, để riêng Vua ngự. Trần Lưu Vương phải cưỡi chung ngựa với Mẫn Cống.

Ði được vài dặm gặp được Tư Ðồ Vương Doãn, Thái Úy Dương Bưu, Tả Quân Hiệu Úy Thuần Vu Quỳnh, Hữu Quân Hiệu Úy Triệu Manh, Hậu Quân Hiệu Úy Bảo Tín, Trung Quân Hiệu Úy Viên Thiệu cùng một đoàn khoảng trăm người ngựa đến nghinh tiếp thánh giá.

Mừng mừng tủi tủi, Vua tôi đều khóc. Trước hết, các quan sai đem thủ cấp Ðoàn Khuê về bêu ngoài cửa thành làm lệnh. Rồi chọn ngựa tốt để Thiếu Ðế và Trần Lưu Vương ngự, cùng rước về kinh.

Trước đó ít lâu, trẻ con ở Lộc dương thường hát mấy câu đồng dao rằng:

Ðế không ra đế,

Vương chẳng phải Vương.

Ngàn xe vạn ngựa,

Chạy đến Bắc mang.

Tức là điềm sau này đế bị truất làm Vương, Vương được lên ngôi đế. đến bấy giờ biết ứng nghiệm vào việc đó.

Xa giá đi chưa được vài dặm, bỗng đàng xa có tiếng trống vang lừng, tinh kỳ rợp đất, bụi bay mù trời, rồi một đoàn binh mã ào ào kéo đến.

Bá quan đều thất sắc. Vua cũng sợ hãi. Viên Thiệu vội thúc ngựa ra trước thét hỏi:

– Binh mã của ai đấy?

Từ dưới bóng ngọn cờ thêu rực rỡ, một tướng bên kia thúc ngựa ra, lớn tiếng hỏi lại:

– Thiên tử đâu?

Vua càng sợ, không dám lên tiếng. Trần Lưu Vương quất ngựa sấn ra, nớt rằng:

– Nhà ngươi là ai?

Tướng ấy đáp:

– Thứ Sử Tây Lương là Ðổng Trác đây.

Trần Lưu Vương gằn giọng hỏi:

– Ngươi đến đây bảo giá hay cướp giá?

Thấy vẻ mặt oai nghiêm của Trần Lưu Vương, Ðổng Trác khiếp sợ, thưa:

– Hạ thần đến đây để bảo giá.

Trần Lưu Vương hạch rằng:

– Ðã tới hộ giá, vậy Thiên Tử ngồi kia, sao ngươi không xuống ngựa mà thi lễ?

Ðổng Trác sợ hãi, lật đật xuống ngựa, khấu đầu bên đường, miệng tung hô “vạn tuế”. Trần Lưu Vương lại lấy lời ngọt ngào mà phủ úy Ðổng Trác. Từ đầu chí cuối, lời lẽ đường hoàng, không ngập ngừng lầm lỡ một tiếng nào.

Ðổng Trác thầm lấy làm lạ, sinh lòng khâm phục vô cùng. Và từ đó, Trác đã có ý định phế Thiếu Ðế mà lập Trần Lưu Vương lên làm vua.

Hôm ấy, các quan phò Thiếu Ðế về cung ra mắt Hà Thái Hậu. Mẹ con khóc lóc với nhau, mọi người đều ứa lệ. Khi kiểm điểm lới trong cung, không thấy cái ấn ngọc “truyền quốc” ở đâu nữa!

Bấy giờ Ðổng Trác đem binh đóng ngoài thành. Ngày ngày dẫn giáp sĩ cưỡi ngựa vào thành, hoành hành khắp phố xá, chợ búa. Nhân dân trăm họ lo sợ, hoang mang. Trác lại ra vào tự do nơi chốn cung đình, không kiêng kỵ gì hết. Quan Hậu Quân Hiệu Úy là Bảo Tín tới bảo Viên Thiệu:

– Ðổng Trác ắt manh tâm làm loạn, nên kíp trừ đi.

Viên Thiệu nói:

– Triều đình đã bị hoang mang, nay vừa mới được yên, chớ nên khinh động.

Bảo Tín lới tới gặp Vương Doãn để bàn về việc ấy. Doãn cũng nói:

– Hãy thong thả, để tính kỹ xem đã.

Bảo Tín thấy tình thế như vậy, liền bỏ triều đình, kéo hết quân bản bộ vào núi Thái Sơn.

Nói về Ðổng Trác lại đi chiêu dụ bọn bộ Hạ anh em Hà Tiến. Bao nhiêu binh mã của họ Hà đều về tay Trác hết.

Ngày kia, Ðổng Trác bàn riêng vội hỏi Lý Nhu:

– Ta muốn phế bỏ Vua xuống mà lập Trần Lưu Vương lên ngôi có được chăng?

Lý Nhu nói:

– Nay đang lúc triều đình vô chủ, nên thừa thời cơ mà làm gấp đi, nếu để chậm e sinh biến. Ngày mai hãy triệu tập bá quan tới điện Ôn Minh trong vườn, nói rõ việc phế lập. Kẻ nào không nghe theo, cứ chém đầu. Lấy quyền uy mà làm, kế sách hiện tới phải thế mới xong.

Ðổng Trác nghe nói, lòng mừng khấp khởi. Qua hôm sau, khiến quân bày yến tiệc nơi vườn Ôn Minh và mời tất cả các quan đại thần đến đó để phó hội. Các quan lúc nầy đều sợ Ðổng Trác, nên không có ai dám từ chối. Trác để cho các quan tới đông đủ rồi mới cỡi ngựa thẳng đến trước cửa viên mới chịu xuống ngựa, lại mang gươm vào tiệc.

Uống vừa đặng vài tuần rượu, Trác ra lệnh ngừng rót, im tiếng nhạc, rồi lớn tiếng nói:

– Hôm nay ta mời các quan đến đây với mục đích là bày tỏ một ý kiến.

Bá quan ai nấy cũng đều lắng tai nghe, Trác nói tiếp:

– Thiên tử là chúa tể muôn dân, nếu không có uy nghi xứng đáng, không thể phụng sự tông miếu, xã tắc được. Nay đức Kim Thượng là kẻ nhu nhược không đáng mặt cầm quyền chấp chánh. Còn Trần Lưu Vương vốn là bậc thông minh, hiếu học, có đủ tài đức để trị dân, đáng mặt kế vị ngôi cả. Vậy ý ta muốn phế Vua, mà lập Trần Lưu Vương lên ngôi báu, chẳng hay ý các quan đới thần nghĩ như thế nào?

Các quan đại thần nghe nói đều im lặng, chưa ai dám nói gì, bỗng có một người đứng dậy, xô ghế bước ra nói lớn:

– Không được! Không được! Ngươi là hạng người gì mà dám làm đại ngôn như thế? Vả chăng đức Kim Thượng là con trưởng của Tiên Ðế, sửa trị ngôi trời là lẽ phải, vả lại Người cũng chưa có việc gì lỗi lầm thì sao ngươi dám nghĩ đến chuyện phế lập? Ngươi muốn mưu đồ soán nghịch chăng?

Các quan chăm chú nhìn ra người ấy là quan Thứ Sử Kinh Châu Ðinh Nguyên, Trác nổi giận nạt lớn:

– Nơi đây nếu có kẻ nào nghịch ý ta thì chắc không còn tánh mạng.

Cả tiệc rượu ai nấy nhao nhao, còn Ðổng Trác cầm gươm toan bước tới chém Ðinh Nguyên.

Lúc ấy, Lý Nhu đứng thấy sau lưng Ðinh Nguyên có một người khí vũ hiên ngang, oai phong lẫm liệt, tay cầm một cây “Phương thiên họa kích”, trừng trừng con mắt mà nhìn Ðổng Trác. Nho biết việc chẳng xong, liền bước đến giả vờ can Ðổng Trác:

– Hôm nay trong yến ẩm không nên đem việc nước ra bàn, vậy xin để ngày mai cũng chẳng muộn.

Các quan cùng khuyên giải Ðinh Nguyên, nên Ðinh Nguyên xô ghế bỏ ra về.

Ðổng Trác tay vẫn cầm kiếm, quay lại hỏi các quan:

– Lời ta nói có hợp công đạo hay không?

Lư Thực bước ra, nghiêm nghị nói:

– Ông nói sai rồi. Việc phế lập vua phải có duyên cớ. Xưa vua Thái Giáp vì bất minh nên ông Y Doãn mới đuổi ra Ðồng cung. Xương Ấp Vương lên ngôi mới có hai mươi bảy ngày mà làm hơn ba mươi điều ác, nên ông Hoắt Quang mới phải tế cáo nhà Thái Miếu mà phế đi. Nay Thánh Thượng tuy còn thơ ấu nhưng thông minh nhân trí, chưa lầm lỗi mảy may. Ông chỉ là một vị quan ở ngoài, chưa từng tham dự triều chính, lới không có tài như Y Doãn, Hoắt Quang, mà dám bàn đến chuyện phế lập sao được? Thánh nhân có dạy rằng: “Có chí như Y Doãn thì được. Không có chí như Y Doãn mà bắt chước làm Y Doãn, ấy là kẻ soán nghịch.”

Ðổng Trác nổi giận rút gươm toan chém Lư Thực, thì quan Nghị lang là Bành Bá vội can:

– Lư Thượng thư là bậc có danh vọng, hải nội chư nhân đều mong mỏi. Nếu giết đi, e làm náo động thiên hạ.

Bấy giờ Trác mới ngừng tay. Quan Tư Ðồ Vương Doãn nói:

– Việc phế lập rất quan trọng, không nên đem bàn lúc trà dư tửu hậu. Ðể một ngày khác.

Khi tiệc tan, bá quan ra về, Trác mặt còn hầm hầm, tay cầm gươm đứng ở viên môn. Bỗng Trác thấy có một người lực lưỡng, cầm kích rong ngựa đi đi lới lới phía ngoài, bèn hỏi Lý Nhu:

– Người nào đấy?

Lý Nhu đáp:

– Ðó là con nuôi của Ðinh Nguyên, họ Lữ tên Bố, tự là Phụng Tiên, người ấy là một anh hùng trên đời có một không hai. Tướng quân nên tránh nó kẻo mang họa.

Ðổng Trác nghe nói liền lánh mặt vào trong vườn.

Rạng ngày có quân vào báo vại Ðổng Trác:

– Quân của Ðinh Nguyên đến bên thành khiêu chiến đòi Tướng Quân phải ra binh.

Ðổng Trác tức giận, hiệp với Lý Nhu dẫn quân ra thành nghênh chiến.

Hai bên giàn trận, rồi thấy Lữ Bố hiện ra, đầu búi tóc, đội kim quan, mình mặc bào gấm trăm hoa lồng giáp đường nghê, lưng thắt bảo đới Ti loan, tay cầm tay cầm Phương Thiên Họa Kích, giục ngựa phò Ðinh Nguyên ra trước trận.

Ðinh Nguyên chỉ vào mặt Ðổng Trác mắng:

– Quốc gia gặp lúc không may, lũ yêm hoạn lộng quyền đến nỗi muôn dân đồ thán, mi không hề có thước tấc công lao nào, sao dám nói càn chuyện phế lập, làm loạn triều đình?

Ðổng Trác chưa kịp trả lời thì sau lưng Ðinh Nguyên, Lữ Bố đã phi ngựa vung kích đánh tràn sang. Binh tướng của Ðổng Trác không một người nào dám ra nghinh địch. Cây kích của Lữ Bố đến đâu là quân Trác chết đến đó, làm cho quân của Ðổng Trác cả loạn. Trác hoảng sợ quay đầu chạy. Ðinh Nguyên thúc quân đánh giết. Quân Trác đại bại một trận, phải lui hơn ba mươi dặm mới dám hạ trại, kiểm điểm binh mã thấy hao hơn phân nửa.

Trác họp các tướng, bàn rằng:

– Ta thấy Lữ Bố quả là tay phi thường. Nếu được người ấy, ta còn lo gì việc thiên hạ?

Trong lúc ấy có một người bước đến thưa:

– Chúa công đừng lo. Tôi với Lữ Bố vốn cùng quê quán, biết rõ hắn tuy có tài xuất chúng, song là kẻ hữu dũng vô mưu, thấy lợi mà quên nghĩa. Vậy tôi xin đem ba tất lưỡi đi thuyết, khiến hắn phải chắp tay về hàng Chúa công.

Trác nghe nói mừng rỡ, xem lới thì thấy người ấy là Hổ Bôn Trung Lang Tướng Lý Túc. Trác hỏi:

– Cần đem theo vật gì để dụ hắn?

Túc nói:

– Tôi nghe Chúa công có con ngựa Xích Thố, ngày đi ngàn dặm. Nếu được ngựa ấy với ít vàng ngọc để lấy lòng hắn, rồi tôi lựa lời thuyết dụ, ắt Lữ Bố phản Ðinh Nguyên, hàng Chúa công.

Trác hỏi Lý Nhu:

– Ý ấy thế nào?

Nhu đáp:

– Chúa công muốn gồm thâu thiên hạ lại tiếc chi một con ngựa.

Trác nghe nói, truyền quân dắt con ngựa Xích Thố đến, lới cho lấy ra một ngàn lạng vàng, mươi hạt minh châu, và một cái đai ngọc giao cho Túc.

Túc tức thì mang tất cả lễ vật thẳng đến trới Lữ Bố. Dọc đường bị quân phục bao vây, Túc nói:

– Các ngươi kíp vào báo với Lữ Tướng quân rằng: “Có cố nhân muốn đến thăm.”

Quân vào báo, Bố ra lệnh cho Túc vào. Chào hỏi xong, Túc nói:

– Bấy lâu nay xa cách hiền đệ, tôi rất thương nhớ, khi biết được hiền đệ ở đây nên tôi đến thăm viếng. Nay thấy hiền đệ vẫn khang kiện, tôi rất mừng.

Lữ Bố nắm tay Lý Túc thân mật nói:

– Ðã hằng lâu xa cách nhau, nay hiền huynh ở nơi nào?

Lý Túc đáp:

– Hiện nay tiện huynh đang làm chức Hổ Bôn Trung Lang Tướng, nghe hiền đệ có lòng khuôn phò xã tắc nên tiện huynh vui mừng khôn xiết. Nay có một con ngựa quý, ngày đi ngàn dặm có dư, lới có tài vượt nước trèo non như đi trên đất bằng, tên là Xích Thố, nên đem tới biếu cho hiền đệ, để thêm oai cho hùm đây.

Lữ Bố bèn khiến quân dắt ngựa đến, quả nhiên con ngựa ấy cả mình đều đỏ như lửa, không bợn một sợi lông tạp màu. Từ đầu tới đuôi dài một trượng, từ móng lên đầu cao tám thước. Rồi bỗng nó gầm hí vang rền, giậm vó rung mặt đất, như sắp bay bổng lên không, băng mình qua bể vậỵ

Người sau có thơ vịnh ngựa Xích thố rằng:

Ngàn dặm phi đằng, cát bụi tung,

Băng sông vượt núi, xé sương hồng.

Khác chi rồng lửa trên trời xuống,

Muốn rứt cương tơ, vỡ nhạc đồng.

Lữ Bố thấy ngựa tốt, lòng mừng khấp khởi, bèn tạ ơn Lý Túc:

– Hiền huynh có lòng tốt, cho con ngựa quý này, tôi chẳng biết lấy gì báo đáp?

Lý Túc nói:

– Tôi vì nghĩa khí mà đến đây há cần đâu ân huệ?

Bố sai dọn rượu thết đãi. Rượu ngà ngà, Túc nói:

– Tuy ít gặp hiền đệ, nhưng lệnh tôn thì Túc được gặp luôn.

Bố đáp:

– Hiền huynh say rồi! Cha tôi đã mất từ lâu, còn gặp làm sao được?

Túc cười lớn:

– Không phải thế. Tôi nói “lệnh tôn” tức là Ðinh Thứ Sử đấy chứ.

Bố buồn bã nói:

– Tôi theo Ðinh Kiến Dương cũng là bất đắc dĩ, bỏ đi chưa nỡ đấy thôi!

Túc nói:

– Hiền đệ là người tài ba lỗi lạc, sức mạnh hơn người, anh hùng xuất chúng, bốn bể biết tên. Lẽ ra phải được hưởng chức trọng quyền cao, có lý đâu lới phải cam chịu ở dưới trướng người ta vậy?

Lữ Bố nói:

– Tôi cũng muốn thế, ngặt vì chưa gặp được một đấng minh quân.

Lý Túc cười bảo:

– Chim khôn lựa cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Nếu không sớm tìm thời cơ, e khi hối ra thì đã muộn đấy.

Bố hỏi:

– Hiền huynh đã ở trong triều, vậy có thấy ai xứng đáng là anh hùng đời nay?

Túc đáp:

– Hiện tới triều đình, các đới thần ai nấy tranh giành ngôi thứ, Vua thì còn nhỏ bị kẻ sàm nịnh chiếm đoạt quyền hành. Tôi thấy khắp mặt bá quan, không ai bằng Ðổng công. Ðổng công là người biết kính hiền ái sĩ, thưởng phạt công minh, lới có lòng diệt nịnh phò Vua. Thế nào về sau cũng nên nghiệp lớn, vậy hiền đệ còn đợi gì mà không theo phò để lập thân.

Lữ Bố nói:

– Tôi cũng muốn theo về Ðổng công ngặt vì không ai tiến cử.

Bấy giờ, Túc biết công việc đã có kết quả, lập tức đem cái đai ngọc và vàng bạc bày ra trước mặt Lữ Bố.

Bố giật mình hỏi:

– Hiền huynh đem những thứ này tới làm gì?

Túc bảo cho tả hữu lui hết ra ngoài, rồi mới nói:

– Ðây là của Ðổng công. Ðổng công mộ tiếng lớn của hiền đệ từ lâu. Nay sai Túc này đem lễ vật tới kính biếu. Con Xích Thố kia cũng là của Ðổng công sai đem tặng hiền đệ vậy.

Bố nói:

– Ðổng công có lòng yêu thế này, tôi biết lấy gì đền đáp?

Túc nói:

– Tài thường sức mọn như Túc này, mà còn được phong chức Hổ Bôn Trung Lang Tướng, thì tài như hiền đệ, nếu theo về, ắt được quyền cao chức trọng, phú quý chưa biết đến bậc nào?

Bố ngần ngừ nói:

– Tôi chưa có chút công trạng nào mà làm lễ ra mắt Ðổng công. Khó nghĩ quá.

Túc lửng lơ nói:

– Công trạng ấy đối với người khác thì khó thật, chứ như đối với hiền đệ thì dễ như trở bàn tay, có gì mà phải lo. Chỉ sợ hiền đệ không chịu làm đấy thôi.

Bố trầm ngâm một lúc rồi nói:

– Tôi muốn giết Ðinh Nguyên rồi dẫn quân ra hàng Ðổng công, chẳng biết có nên không? Hiền huynh xét thử?

Túc vội xuýt xoa nói:

– Hiền đệ làm được việc ấy thì còn công nào lớn bằng. Nhưng việc đó cốt phải khẩn mật mới được.

Bố hẹn với Túc nội trong đêm ấy thế nào cũng xong việc. Túc rất hoan hỉ, từ giã ra về.

Ðêm ấy, vào lúc canh hai, Lữ Bố cầm gươm bước vào trong trướng Ðinh Nguyên. Lúc ấy, Nguyên đang thức chong đèn xem sách, thấy Bố vào, bèn hỏi:

– Ðêm khuya, con vào đây có việc gì?

Bố trở mặt mắng rằng:

– Ta đường đường một kẻ trượng phu, há lại đi làm con của ngươi sao?

Nguyên kinh ngớc, trố mắt nhìn Bố hỏi:

– Phụng Tiên, cớ sao con lại đổi lòng như vậy?

Bố chẳng đáp chẳng rằng, bước tới vung gươm chém Ðinh Nguyên một nhát, đầu rơi xuống đất.

Người sau có thơ than Ðinh Nguyên rằng:

Thuơng thay! Hán mạt có Ðinh công,

Nuôi được con tài, tưởng cậy trông…

Ai biết nòi nào ra giống ấy,

Nuôi hùm, hùm cắn, xót xa lòng.

Lại có thơ than Lữ Bố rằng:

Tiếc thay! Mặt đẹp, lực vô song,

Cử đỉnh bớt sơn nức tiếng hùng.

Quen thói bạo tàn, không chút nghĩa,

Trách gì thiên hạ chẳng ai dung.

Chém xong, Lữ Bố xách đầu Ðinh Nguyên ra ngoài, hô lớn:

– Ðinh Nguyên là kẻ bất nhân vô đạo, ta đã giết chết rồi. Vậy thì ai muốn theo ta thì theo, ai không theo thì cứ tự tìm chỗ khác mà đi.

Quân sĩ thấy vậy bỏ đi hơn phân nửa. Hôm sau, Lữ Bố xách đầu Ðinh Nguyên đến gặp Lý Túc. Túc vội dẫn Bố vào dinh ra mắt Ðổng Trác.

Ðổng Trác lòng mừng khôn xiết, hối quân bày rượu thịt thết đãi Lữ Bố, và bước đến trước mặt Bố, cúi đầu nói:

– Trác này được Tướng quân hôm nay chẳng khác đại hạn gặp mưa rào vậy.

Lữ Bố vội vàng đứng dậy thi lễ, mời Trác ngồi lên, rồi sụp lạy mà tạ rằng:

– Minh công đãi Bố này rất hậu, ơn ấy không biết lấy gì đền đáp. Nếu Minh công cho phép, Bố này xin bái Minh công làm nghĩa phụ.

Trác mừng lắm, sai lấy giáp vàng, bào gấm ban thưởng cho Bố, rồi cùng Bố yến ẩm say sưa tối ngày.

Từ đó, Ðổng Trác oai quyền lừng lẫy, không biết nể nang ai nữa. Trác tự lĩnh công việc của Tiền Tướng Quân, phong cho em ruột là Ðổng Mân làm Tả Tướng Quân tước Hổ Hầu, phong cho Lữ Bố làm Kỵ Ðô Úy Trung Lang Tướng tước Ðô Ðình Hầu.

Lý Nhu khuyên Trác sớm định ngay mưu kế phế lập. Trác liền lập tiệc tới đình trung, rồi viết thiệp mời các quan đến phó yến. Lại sai Lữ Bố dẫn hơn ngàn quân giáp sĩ, nai nịt đầy đủ, mai phục xung quanh.

Hôm ấy, quan Thái Phó Viên Ngỗi cùng bá quan đều đến. Rượu được vài tuần, Ðổng Trác đứng dậy chống gươm nói:

– Nay Vua nhu nhược, hôn ám, không thể phụng sự tôn miếu được. Ta noi gương Y Doãn, Hoắt Quang, phế Vua xuống làm Hoằng Nông Vương, lập Trần Lưu Vương lên làm Hoàng đế. Ai không thuận, ta chém đầu?

Quần thần sợ hãi ngồi lặng thinh. Trung Quân Hiệu Úy Viên Thiệu đứng dậy, bước ra khỏi ghế nói:

– Ðức Kim Thượng tức vị chưa bao lâu, chưa làm gì lỗi đạo, ngài muốn bỏ trưởng lập thứ, chính là muốn tạo phản rồi.

Trác nổi giận mắng lớn:

– Việc nước hiện ở trong tay ta. Ta muốn làm gì thì làm, ai dám không thuận? Ngươi tưởng lưỡi gươm của ta không bén chăng?

Thiệu cũng rút gươm ra khỏi vỏ, nói lớn:

– Gươm ngươi bén thật, nhưng gươm của ta đây cũng không phải là loại sắt cùn.

Hai người toan đối địch trước tiệc.

Ðó chính là:

Ðinh Nguyên trượng nghĩa, thân vừa thác, Viên Thiệu tranh phong, thế cũng nguy.

Hồi Thứ Tư

Phế Hán Ðế, Trần Lưu lên ngô
Lừa Ðổng tặc, Mạnh Ðức dâng kiếm

Ðổng Trác muốn giết Viên Thiệu, Lý Nho can rằng:

– Việc chưa định xong không nên giết càn.

Viên Thiệu tay cầm thanh bảo kiếm, cáo từ các quan trở ra, treo trả cờ tiết ở cửa đông rồi bỏ về Ký Châu.

Trác bảo với quan thái phó Viên Ngỗi rằng:

– Cháu ngươi vô lễ, ta tha cho hắn cũng là nể ngươi. Việc phế vua lập Trần Lưu, ngươi nghĩ thế nào?

Ngỗi thưa rằng:

– Thái úy nghĩ thế phải đấy!

Trác lới nói:

– Ai dám ngăn trở việc lớn này, thì ta sẽ lấy phép quân trị tội.

Các quan sợ hãi, đều nói:

– Ngày dạy thế xin vâng!

Cuộc yến tan, Trác hỏi quan Thị Trung là Chu Bật và quan Hiệu Úy là Ngũ Quỳnh rằng:

– Viên Thiệu phen này đi, rồi sẽ ra sao?

Chu Bật đáp:

– Viên Thiệu câm giận mà đi, hễ truy nã riết quá tất sinh biến. Vả lại họ Viên, đã bốn đời làm quan đến bậc tam công, thiên hạ được nhờ nhiều lắm; học trò, đầy tớ đâu đâu củng có. Nếu hắn thu dùng hào kiệt, tập họp đồ đảng, rồi những anh hùng trong thiên hạ nhân đó khởi lên, đất Sơn Ðông sẽ không ở trong tay ông nữa. Không bằng ông tha tội hắn, cho hắn một chức quận thú gì đấy, thì hắn mừng được khỏi tội, sẽ không gây ra hậu hoạn nữa.

Ngũ Quỳnh nói:

– Viên Thiệu là người thích mưu kế, nhưng không quyết đoán, không đánh lo cho lắm. Bất nhược cứ cho hắn một chức quận thú để thu phục lòng dân!

Trác nghe lấy làm phải, ngay hôm ấy sai người đến phong cho Thiệu làm thái thú quận Bột Hải.

Ðến mồng một tháng chín, Trác rước vua ra ngự đền Ôn Ðức, họp hết cả văn võ lại.

Trác tay cầm kiếm nói rằng:

– Thiên tử ngu yếu, không trị vì được, nay có một bài sách văn đọc cho các quan nghe.

Rồi sai Lý Nho tuyên đọc:

“Vua Hiếu Linh mất sớm, vua sau nối ngôi, bốn bề ai ai cũng trông mong.

Nay xét ra vua ta, thiên tử mỏng mảnh, kém vẻ uy nghi nghiêm chỉnh, cư tang biếng nhác, đức xấu đã rõ, không xứng ngôi lớn.

Hoàng thái hậu không có uy nghi của người mẹ, nhiếp chính rối tung. Việc bà Vĩnh Lạc thái hậu mất, dân chúng có nhiều dị nghị. Ðối với đạo tam cương và đường Trời đất, phải chăng có thiếu sót nhiều?

Trần Lưu Vương tên Hiệp, đức hạnh nghiêm trang, khuôn phép kính cẩn, cư tang thương xót, nói năng chính đính, lời hay tiếng tốt, thiên hạ ai ai cũng biết. Nên nối ngôi vua, làm phép cho vạn thế!

Nay phế vua ra làm Hoằng Nông Vương, thái hậu thì phải trả quyền chính.

Xin tôn Trần Lương Vương lên làm hoàng đế,

Ứng thiên, thuận nhân, để yên bụng thiên hạ!”

LÝ Nho đọc xong bài chiếu, Trác thét tả hữu vực vua xuống điện, lột tỉ thụ, bắt quỳ, ngoảnh mặt về phương Bắc, xưng thần nghe chiếu, lại bắt Hà thái hậu, cởi đồ phẩm phục ra mà đợi chiếu.

Vua và Thái hậu kêu khóc, quần thần trông thấy ai cũng xót xa bi thảm.

Lúc ấy ở dưới thềm có một viên quan to, tức tối thét to lên rằng:

– Thằng giặc Ðổng Trác kia, ngươi dám lập mưu lừu trời dối đất, ta lấy máu cổ họng bôi vào mặt ngươi bây giờ!

Nói rồi cầm cái hốt ngà xông thẳng vào đánh Ðổng Trác.

Trác giận lắm, sai võ sĩ bắt lại xem ai, thì là quan thượng thư Ðinh Quản. Trác sai đem ra chém. Quản cứ luôn mồm chửi mắng Ðổng Trác cho đến lúc chết; chết rồi, thần sắc vẫn như lúc sống.

Người sau có thơ than rằng:

Giặc Ðổng lòng mang dạ khuyển lang

Cơ đồ nhà Hán đổ tan hoang,

Trong triều văn võ mồm câm cả

Chỉ có Ðinh công thực giỏi giang!

Trác mời Trần Lưu Vương lên điện, Quần thần làm lễ mừng xong rồi. Trác sai bắt Hà thái hậu, vua và vợ vua là Ðường thị giam ở cung Vĩnh An, khóa cửa cung, cấm quần thần, không ai được vào thăm.

Thương thay! Thiếu đế mới lên ngôi tháng tư, đến tháng chín đã phải phế.

Trầu Lưu Vương, nhờ Trác được lên ngôi trời, vốn tên là Hiệp, tên chữ là Bá Hòa, là con thứ vua Linh đế, tức là Hiến đế về sau. Lúc lập lên, Hiến đế mới lên chín tuổi, đổi niên hiệu năm đầu là Sơ Bình.

Ðổng Trác làm tướng quốc, lạy vua không phải xưng tên, vào chầu không phải bước rảo, lên điện được đeo kiếm, tác uy tác phúc, không ai bì được.

Lý Nho khuyên Trác nên dùng những người có danh vọng để thu phục lòng người; nhân thể Lý Nho tiến cử tài năng Sái Ung. Trác cho mời Sái Ung, Ung không chịu đến. Trác giận sai người bảo Ung hễ không đến thì giết cả họ. Ung sợ, phải đến. Trác thấy Ung đến, mừng lắm, một tháng thăng chức ba lần, làm đến chức Thị Trung. Trác rất hậu đãi Ung.

Thiếu đế, Hà thái hậu và Ðường phi bị giam ở cung Vĩnh An, đồ ăn, thức mặc, mỗi ngày một kém. Thiếu đế không lúc nào ráo nước mắt.

Một hôm Thiếu đế trông thấy hai con chim én bay ở trong sân, ngâm một bài thơ rằng:

Xanh xanh khóm cỏ dày

Cặp én phất phơ bay.

Trong veo dòng lạc thủy,

Người đồng nội khen hay.

Xa trông mây thăm thẳm,

Cung điện cũ ta đây.

Biết ai kẻ trung nghĩa,

Gỡ cho oán hận này!

Ðổng Trác thường sai người đến dò ý tứ; hôm ấy có kẻ bắt được bài thơ đem trình Ðổng Trác, Trác nói rằng:

– Làm bài thơ oán vọng này, đem giết đi là có cớ rồi!

Bèn sai Lý Nho và mười võ sĩ vào cung giết vua!

Vua, thái hậu và Ðường phi đương ở trên lầu, thấy người cung nữ báo rằng có Lý Nho đến, vua sợ giật mình.

Nho đem rượu thuốc độc dâng vua.

Vua hỏi việc gì. Nho thưa:

– Ngày xuân mát mẻ, Ðổng tướng quốc sai tôi đem dâng chén rượu thọ.

Thái hậu bảo Lý Nho:

– Có phải rượu thọ thì ngươi thử uống trước đi!

Nho giận lắm, hỏi vua:

– Ngươi không uống phải không?

Rồi gọi tả hữu cầm con dao với tấm lụa trắng, để trước mặt vua, mà nói rằng:

– Rượu thọ chẳng uống, thì phải chọn hai thứ này.

Ðường phi quỳ xuống nói rằng:

– Thiếp xin thay vua uống chén rượu này, xin ngài để toàn mệnh cho hai mẹ con vua.

Lý Nho quát mắng:

– Ngươi là đứa nào, mà dám đòi chết cho vua?

Nho cầm chén rượu đưa cho Hà thái hậu và bảo rằng:

– Bà phải uống trước đi!

Hà thái hậu nhiếc mắng Hà Tiến là đồ vô mưu, đem giặc vào kinh đô, để có cái vạ ngày nay.

Nho bức vua phải uống rượu.

Vua nói:

– Hãy khoan! Ðể ta cùng thái hậu từ biệt đã.

Vua đau xót lắm, làm bài ca như sau:

Trời đất chao, trăng sao cũng đổ

Bỏ ngôi cao, ra chỗ phiên phong

Bởi ai nên sự lạ lùng?

Việc đời ngán ngẩm, ròngròng châu tuôn.

Ðường phi cũng làm bài ca rằng:

Trời nghiêng đất lại lở tan,

Phận mình thê thiếp, trái oan lạ thường!

Tử sinh nay đã khác đường,

Một người một bóng xót thương tấm lòng!

Vua và Ðường phi ca rồi, ôm nhau mà khóc. Lý Nho lại quát mắng:

– Tướng quốc đứng chờ tin! Các người dùng dằng để mong ai cứu đấy?

Thái hậu thét mắng:

– Thằng giặc Ðổng kia! Ngươi hại mẹ con ta, rồi trời lại hại ngươi! Chúng bay tùng đảng với nhau làm điều ác, rồi chúng bay sẽ bị giết cả họ cho mà xem!

Nho tức lắm, hai tay ôm lấy thái hậu ném xuống dưới lầu, giết chết; lại sai võ sĩ thắt cổ Ðường phi, rót rượu độc bắt Thiếu đế uống chết, rồi về báo Ðổng Trác.

Trác sai đem táng ba mẹ con ở ngoài thành.

Tự bấy giờ, Trác đêm nào cũng vào cung thông dâm với các cung nữ, rồi thì lên ngủ trên sập rồng.

Thường thường Trác hay đem quân ra ngoài thành. Một bữa Trác đến Dương Thành. Bấy giờ đang tháng hai, dân mở hội hát, con trai con gái tụ họp nhau xem hội rất đông. Trác sai quân vây cả lại, rồi giết sạch, cướp đàn bà con gái và của cải chất đầy xe, treo hơn một ngàn đầu lâu ở dưới xe, nối đuôi nhau kéo về kinh đô, nói phao lên rằng đi đánh giặc thắng trận.

Trác lại sai đốt đầu lâu người ở dưới cửa thành, còn đàn bà con gái và của cải thì đem chia cho quân sĩ.

Quan việt kỵ hiệu úy tên là Ngũ Phu, tên chữ là Ðức Du, thấy Ðổng Trác tàn bạo quá, tức lắm, thường mặc áo giáp nhỏ vào trong áo đại trào, giắt một con dao ngắn, rình tiện dịp để giết Trác.

Một hôm Trác vào chầu, Phu ra đón. Lúc Trác đến dưới gác. Phu rút dao ra đâm, không ngờ sức Trác khỏe hơn, hai tay ôm chặt được Phu, Lữ Bố trông thấy, chạy lại ôm Phu ra vật ngã xuống. Trác hỏi Phu rằng:

– Ai xui ngươi làm phản?

Phu trợn mắt thét mắng rằng:

– Ngươi không phải là vua ta, ta không phải là tôi ngươi, sao lại gọi là phản được? Tội ngươi đầy trời, ai ai là chẳng muốn giết ngươi? Ta tiếc rằng không xé nhỏ được xác ngươi ra để tạ thiên hạ!

Trác tức lắm, sai Phu đem ra mổ. Phu cứ mắng chửi Ðổng Trác không buông miệng cho đến lúc chết.

Ðời sau có thơ khen Ngũ Phu rằng:

Ngũ Phu này cũng bậc anh hùng,

Tiết liệt xem ai được thế không?

Ðánh giặc, hãy còn danh tiếng để,

Ngàn thu vằng vặc mảnh gương chung!

Ðổng Trác từ khi ấy ra vào trường có quân sĩ mặc áo giáp đi theo hộ vệ.

Viên Thiệu bấy giờ ở Bột Hải, nghe thấy Trác lộng quyền, sai người đưa mật thư cho tư đồ Vương Doãn, thư rằng:

Giặc Trác dối trời bỏ chúa. Người ta đau xót đến nỗi không nỡ nói, thế mà ông cứ mặc kệ, để nó lăng ngược như con cá nhảy vượt qua đăng, làm thin như không nghe không thấy, sao gọi là người trung thần ái quốc! Thiệu nay chiêu tập binh mã cũng muốn vì nhà vua, quét sạch quân giặc, nhưng chưa dám khinh động. Ông nếu cùng lòng với tôi, xin tìm cơ hội lo tính ngay đi. Có việc gì sai khiến, tôi xin vâng mệnh.

Vương Doãn được thư, nghĩ mãi không tìm được kế gì. Một hôm đang lúc chầu ở nội các, Doãn thấy ở đó có đủ mặt các cựu thần, bèn nói với các quan rằng:

– Hôm nay là sinh nhật lão phu. đến chiều xin mời các quan quá bước đến nhà lão phu xơi rượu.

Các quan đều nhận lời, hẹn đến chiều sẽ đến chúc thọ.

Chiều hôm ấy Doãn mở tiệc ở hậu đường. Các quan đến cả. Rượu được vài tuần, tự nhiên Doãn che mặt hu hu khóc.

Các quan giật mình hỏi rằng:

– Hôm nay là sinh nhật của quan tư đồ, sao ngài lại khóc như vậy?

Doãn thưa rằng:

– Hôm nay có phải là sinh nhật của tôi đâu! Tôi vì có một việc muốn nói với các vị, nhưng sợ Ðổng Trác sinh nghi, cho nên mượn cớ nói thác ra thế. Thằng Trác dối vua lộng quyền, xã tắc nay mai đổ mất. Ðức Cao Hoàng ngày xưa đánh nhà Tần, diệt nước Sở, bao nhiêu công phu mới nên được cơ đồ này, ngờ đâu nay mất vào tay thằng Ðổng Trác. Tôi khóc là vì thế!

Các quan nghe nói cũng đều khóc cả.

Trong đám ngồi có một người, vỗ tay cười ầm lên mà nói rằng:

– Các quan thử khóc từ tối đến sáng, lại khóc từ sáng đến tối, xem khóc có chết được thằng Ðổng Trác không?

Doãn ngoảnh lại xem ai, thì là kiêu kỵ hiệu úy Tào Tháo. Doãn giận nói rằng:

– Tổ tôn nhà ngươi cũng ăn lộc nhà Hán, sao nhà ngươi không biết nghĩ cách báo quốc, lại còn cười à?

Tháo nói:

– Tôi cười, có phải cười gì đâu! Cười là cười các quan không biết nghĩ kế gì trừ được thằng Ðổng Trác. Tháo nay tuy không có tài cán gì, nhưng xin lập tức chặt được đầu thằng Ðổng Trác, treo ở cửa phủ để tạ thiên hạ.

Doãn liền đứng dậy hỏi rằng:

– Mạnh Ðức có kế gì tài thế?

Tháo nói:

– Tôi lâu nay sở dĩ nép mình thờ Ðổng Trác cũng là vì muốn thừa cơ giết nó. Nay nó rất tin tôi, tôi được gần nó luôn. Nghe quan tư đồ có con dao thất bảo, xin cho tôi mượn. Tôi nguyện phen nầy vào tận tướng phủ đâm chết thằng giặc Ðổng Trác, dẫu chết cũng không oán hận gì.

Vương Doãn mừng lắm nói rằng:

– Nếu Mạnh Ðức có bụng như thế, thực là may cho thiên hạ lắm!

Doãn thân hành rót chén rượu mời Tào Tháo. Tháo đổ rượu , cất lời thề. Doãn bèn đem dao thất bảo đưa cho. Tháo uống rượu xong, giắt dao đứng dậy đi ra. Các quan ngồi một lát rồi cũng về cả.

Hôm sau Tháo giắt dao đến tướng phủ, hỏi:

– Thừa tướng ở đâu?

Ðầy tớ nói:

– – trong gác.

Tháo vào, thấy Trác ngồi trên giường; Lữ Bố đứng hầu bên cạnh.

Trác thấy Tào Tháo vào, hỏi rằng:

– Sao hôm nay Mạnh Ðức đến chậm thế?

Tháo nói:

– Thưa, ngựa tôi gầy hóa đi chậm.

Trác ngoảnh lại bảo Lữ Bố rằng:

– Ta có ngựa tốt ở Tây Lương mới tiến. Phụng Tiên đi chọn một con đem lại đây cho Mạnh Ðức.

Bố vâng lời đi lấy ngựa. Tháo thấy còn một mình Trác, bụng đã bảo dạ rằng:

– Thằng này số nó đến lúc chết đây!

Lập tức muốn rút dao đâm ngay, nhưng lại sợ Trác khoẻ chưa dám đâm vội.

Trác mình mẩy to béo, xưa nay không ngồi được lâu, bèn ngả mình nằm xuống; ngoảnh mặt vào trong. Tháo lại nghĩ rằng:

– Thằng nầy thực số chết!

Liền rút dao ra, chực đâm. Không ngờ Trác trông vào trong cái gương, thấy bóng Tào Tháo rút dao ra ở sau lưng, vội vàng quay đầu lại hỏi:

– Mạnh Ðức làm gì thế?

Bấy giờ Lữ Bố vừa giắt ngựa đến ngoài gác. Tháo tay đương cầm con dao, vội quỳ xuống thưa:

– Tháo tôi có con dao quý xin dâng thừa tướng.

Trác cầm lấy dao xem, thấy dao dài hơn một thước, cán bằng ngọc thất bảo, lưỡi thực sắc, quả là dao quý, bèn đưa cho Lữ Bố cất đi. Tháo còn đeo vỏ dao ở lưng, liền cởi ra, đưa nốt cho Lữ Bố.

Trác đem Tháo ra xem ngựa. Tháo tạ rồi xin phép đem ngựa ra cưỡi thử. Trác sai đem yên cương đóng ngựa cho Tháo. Tháo dắt ngựa ra ngoài cửa tướng phủ, lên yên, rồi ra roi đi nước đại thẳng hướng đông nam mà chạy.

Tào Tháo đi khỏi. Lữ Bố nói với Trác rằng:

– Vừa rồi tôi trông Tào Tháo hình như có ý muốn đâm trộm thái sư! Vì thái sư trông thấy, hắn mới nói lảng ra là đến dâng dao.

Trác nói:

– Ta cũng hơi nghi.

Ðang nói chuyện thì Lý Nho ở đâu đến. Trác hỏi Lý Nho. Nho nói:

– Tháo không có vợ con gì ở kinh, chỉ trọi một mình ở quán trọ, nay nên sai người đến gọi. Hắn đến ngay thì quả là hắn dâng dao thật, nếu thoái thác không đến, thì đích là thích khách. Lúc bấy giờ ta sẽ bắt mà hỏi.

Trác liền sai bốn người coi ngục đi gọi Tào Tháo. Lính đi một hồi lầu rồi trở về trình rằng:

– Tháo không về nhà trọ. Có người gặp hắn cưỡi ngựa ra cửa đông. Lính canh hỏi đi đâu thì hắn nói rằng thừa tướng sai đi có việc kíp, rồi tế ngựa đi thẳng.

Nho nói:

– Thôi, không còn nghi ngờ gì nữa, hắn chột dạ chạy trốn, tất là có bụng hành thích.

Trác nói:

– Ta tin dùng hắn thế, sao hắn lại muốn hại ta?

Nho thưa:

– Tất nhiên có người đồng mưu. Bắt được Tào Tháo thì ra cả.

Trác liền tư đi các nơi, chỗ nào cũng vẽ hình ảnh Tào Tháo ai bắt được sẽ thưởng ngàn vàng, lại phong cho làm vạn hộ hầu; ai chứa chấp sẽ bị trị tội.

Trong khi ấy, Tháo cắm đầu cắm cổ chạy. Chạy đến Tiêu Quận, đi qua huyện Trung Mâu, bị quân canh cửa thành bắt được, đem nộp quan huyện. Tháo khai là khách buôn, họ tên là Hoàng Phủ.

Quan huyện nhìn kỹ Tháo, nghĩ ngợi một lúc rồi nói:

– Trước ta cầu quản ở Lạc Dương đã được gặp ngươi, chính ngươi là Tào Tháo, ngươi nói dối sao được? Lính đâu, hãy đem giam nó xuống trại, đến mai ta sẽ giải về kinh lãnh thưởng.

Quan huyện nói thế rồi cho quân canh cửa thành cơm no rượu say rồi về.

Ðến nửa đêm, quan huyện sai người thân tín xuống gọi Tào Tháo lên, bảo dẫn vào nhà sau để hỏi. Tháo vào, quan huyện hỏi rằng:

– Ta nghe thừa tướng hậu đãi ngươi, sao ngươi lại tự chuốc lấy vạ vào thân?

Tháo nói:

– Ngươi như chim sẻ biết đâu được chí chim hồng! ựã bắt được ta thì cứ đem nộp mà lấy công, hà tất phải hỏi nhiều!

Quan huyện bèn đuổi cả tả hữu đi rồi bảo Tháo rằng:

– Anh đừng coi thường tôi. Tôi đây không phải là bọn tục lại đâu… Cũng vì chưa gặp được chủ đấy thôi!

Tháo nói:

– Ông cha ta, đời đời ăn lộc nhà Hán. Nếu ta không biết nghĩ cách báo quốc, có khác gì giống muông thú! Ta phải hạ mình thờ thằng Ðổng Trác là muốn tìm cơ hội thuận tiện giết nó. Nay việc không xong, cũng là lòng trời!

Quan huyện nói:

– Mạnh Ðức bây giờ định đi đâu?

Tháo nói:

– Ta muốn về làng, phát lời kêu gọi, vời cả chư hầu trong thiên hạ khởi binh giết Ðổng Trác. Ðó là sở nguyện của ta!

Quan huyện nghe nói, bèn cởi trói cho Tháo, mời ngồi lên trên rồi thụp xuống lạy hai lạy mà nói rằng:

– Ông thực là người trung nghĩa ở đời này!

Tháo cũng lạy đáp lại, rồi hỏi tên họ, quan huyện nói:

– Tôi họ Trần, tên Cung, tên chữ là Công Ðài; tôi có mẹ già và vợ con ở Ðông Quận. Nay cảm bụng trung nghĩa của ông, xin bỏ chức quan này, theo ông đi trốn.

Tháo mừng lắm. Ngay đêm hôm ấy, Trần Cung thu xếp hành trang và lộ phí, cả hai người thay quần áo, mỗi người đeo một thanh kiếm; cưỡi một con ngựa, đi về quê Tào Tháo.

Ði được ba hôm đến Thành Cao, trời đã xâm xẩm tối. Tháo cầm roi ngựa, trỏ vào một đám cây cối um tùm bảo Cung rằng:

– – trong này có Lã Bá Sa là bạn kết nghĩa với cha tôi. Tôi muốn vào hỏi thăm tin nhà, rồi ngủ đấy một đêm; nên không?

Cung nói:

– Thế thì hay lắm!

Hai người, đến cửa trại xuống ngựa vào chào Lã Bá Sa, Sa hỏi Tháo rằng:

– Ta nghe triều đình tầm nã anh gấp lắm. Cha anh phải lánh sang ở Trần Lưu rồi. Sao anh đến được đây?

Tháo bèn đem chuyện đầu đuôi kể với Lã Bá Sa, rồi lại trỏ vào Trần Cung nói:

– Nếu không gặp được quan huyện đây, thì bây giờ đã thịt nát xương tan rồi.

Lã Bá Sa vái Trần Cung rồi nói:

– Cháu nó không gặp được ngài, thì họ Tào còn gì! đêm nay xin ngài hãy thong thả nghỉ lới đây.

Nói xong, đứng dậy vào trong nhà, một chốc trở ra, bảo Trần Cung:

– Nhà tôi không có rượu ngon. để tôi sang xóm tây, mua một bình rượu ngon về uống.

Nói rồi lật đật cưỡi lừa ra đi.

Tháo với Cung ngồi ở nhà, chợt nghe thấy sau nhà có tiếng mài dao. Tháo bảo Trần Cung rằng:

– Lã Bá Sa đối với tôi không thân thiết gì lắm. Chuyện nầy đáng nghi đấy!

Hai người sẽ rón rén bước vào sau nhà tranh, chỉ nghe thấy có tiếng người nói:

– Trói lại mà giết!

Tháo bảo Trần Cung:

– Ðúng rồi! Nếu ta không hạ thủ trước, thì sẽ bị bắt mất!

Tháo và Cung hai người cùng rút kiếm đi thẳng vào, gặp người nào trong nhà giết người ấy; giết một lúc tám người. Khi vào đến bếp, chỉ thấy một con lợn trói bốn vó, sắp đem chọc tiết.

Cung giật mình nói:

– Mạnh Ðức ơi! Ta đa nghi quá, giết nhầm phải người tử tế rồi.

Hai người vội vàng trở ra lên ngựa đi. đi được độ hai mươi dặm gặp Lã Bá Sa cưỡi lừa về, trước yên treo hai bình rượu, tay xách một nắm rau quả. Lã Bá Sa hỏi hai người rằng:

– Hiền đệ với sứ quân sao lại đi?

Tháo nói:

– Tôi là người có tội, không dám ở lâu.

Lã Bá Sa nói:

– Ta đã dặn người nhà làm thịt con lợn rồi. Sứ quân với hiền đệ ngại gì một đêm, xin quay ngựa lại cho!

Tháo cứ tế ngựa đi. đi được vài bước, rút kiếm ra, quay ngựa trở lại, gọi Lã Bá Sa hỏi:

– Ai đi đằng sau ông đấy?

Sa quay đầu lại xem. Tháo chém ngay, Sa ngã xuống chết.

Cung cả sợ hỏi Tháo:

– Lúc nãy lầm đã đành, bây giờ sao lại còn đang tay như thế?

Tháo nói:

– Bá Sa về nhà, thấy nhiều người chết, tất nhiên không để im, nếu đem người đi đuổi thì ta bị vạ ngay.

Cung nói:

– Biết rằng mình lầm rồi, lại còn cố Ý giết người nữa thực là đại bất nghĩa!

Tháo nói:

– Thà ta phụ người, không để người phụ ta!

Cung im lặng, không nói gì nữa.

Ðêm trăng sáng ròi rọi, hai người cứ phóng ngựa đi. đi được vài dặm, hai người vào nhà hàng ngủ. Sau khi cho ngựa ăn no, Tháo đi ngủ trước.

Cung suy nghĩ:

– Ta những tưởng Tào Tháo là người tốt, cho nên bỏ quan đi theo hắn. Ai ngờ hắn là hạng người tàn nhẫn. Nếu để hắn sống ở đời, tất có ngày hắn gây ra vạ lớn.

Nghĩ vậy bèn rút kiếm toan giết Tào Tháo…

Ấy thực rõ là:

Mang tâm hiểm độc người đâu thế,
Trác, Tháo hai tên cũng một phường!

Chưa biết Tào Tháo sống chết thế nào, xem đến hồi sau sẽ tỏ.

Hồi Thứ Năm

Tiếp Hịch Văn, Các Trấn Ứng Tào Công
Phá Quan Ải, Tam Anh Chiến Lữ Bố

Nhắc lại Trần Cung rút gươm, đang sắp hạ thủ Tào Tháo, bỗng lại nghĩ:

– Mình vì việc nước theo hắn đến đây, nếu mình lại giết hắn thì mình cũng bất nghĩa chẳng khác gì hắn. Thôi thì bỏ quách hắn mà đi nơi khác cho xong.

Nghĩ như thế, Trần Cung tra kiếm vào vỏ, lên ngựa đi thẳng về hướng Ðông quận.

Tào Tháo ngủ cho đến lúc mờ sáng mới thức giấc, không thấy Trần Cung đâu, Tháo nhủ thầm:

– Hừ! Trần Cung có lẽ đã nghi ta là đứa bất nghĩa nên bỏ đi rồi. Thế thì ta cũng phải đi gấp, không nên trì hoãn nơi đây nữa.

Nội ngày hôm ấy, Tháo bôn ba thẳng đến Trần lưu tìm gia quyến. Khi gặp được thân phụ, Tháo liền đem tất cả mọi việc đã xảy ra tại triều kể lại cho Tào Tung nghe, và tỏ ý muốn đem hết gia sản dùng vào việc chiêu mộ nghĩa binh để mưu đồ đại sự.

Tào Tung nói:

– Của nhà không được bao nhiêu, sợ không đủ dùng vào việc lớn. Gần nhà ta có người họ Vệ tên Hoằng, thi đỗ Hiếu liêm, gia cư thuộc vào hàng cự phú, tánh tình lại trọng nghĩa khinh tài. Nếu được người ấy giúp cho thì mới mong được việc.

Tào Tháo mừng rỡ bày tiệc sai người mời Vệ Hoằng đến nhà yến ẩm và nói:

– Nay nhà Hán suy vi, Ðổng Trác chuyên quyền làm bậy, dối vua hại dân, trăm họ đều thán oán. Tôi muốn nhân cơ hội này ra sức khuông phò xã tắc, khôi phục lại nhà Hán, nếu được ngài giúp cho một tay thì may mắn lắm.

Vệ Hoằng khẳng khái nói:

– Lòng tôi lâu nay đã ước vọng như thế, song chưa gặp được kẻ anh hùng. Nay Mạnh Ðức đã có chí lớn thì tôi còn tiếc gì mà không đem hết tài sản ra cống hiến.

Tào Tháo mừng rỡ, liền thảo tờ hịch vặn phát khắp các đạo chiêu tập nghĩa binh, kéo cờ trắng đề hai chữ “Trung Nghĩa” rất lớn.

Chưa được mấy ngày, các dũng sĩ khắp nơi đến ứng mộ đông như kiến. Trong số này đáng kể là một người ở đất Bình Dương nước Vệ, họ Nhạc tên Tiến, tự là Văn Khiêm, một người học Lý tên Ðiển, tự là Man Thành ở vùng Sơn dương, huyện Cư lộc. Tào Tháo lưu dùng làm thủ túc dưới trướng.

Kế đó, có một người ở nước Bái, thuộc Tiêu quận, họ Hạ Hầu tên Ðôn, vốn là dòng dõi Hạ Hầu Anh thời xưa. Từ nhỏ, Hạ Hầu Ðôn đã tập cưỡi ngựa bắn cung, múa thương rất tài. Năm mười bốn tuổi, theo thầy học võ, gặp kẻ chửi mắng thầy, Ðôn nổi giận giết kẻ ấy, rồi trốn ra xứ ngoài. Nay nghe Tào Tháo khởi binh, Ðôn cùng người em họ là Hạ Hầu Uyên mỗi người dẫn một ngàn tráng sĩ đến giúp Tháo. Hai người này vốn là anh em họ của Tháo, vì cha Tháo là Tung vốn họ Hạ Hầu, sau làm con nuôi họ Tào, mới đổi ra họ này.

Ít ngày sau lại có hai anh em Tào Nhân, Tào Hồng mỗi người dẫn hơn một ngàn quân đến giúp Tháo. Tào Nhân tự là Tử Hiếu, Tào Hồng tự là Tử Liêm, cả hai đều giỏi về nghề bắn cung cởi ngựa.

Thu dụng được một số hào kiệt, Tào Tháo rất mừng, ngày ngày điều luyện quân mã ở trong thôn. Vệ Hoằng thì bỏ của cải ra sắm áo giáp, khí giới cho quân sĩ, may cờ quạt, tàng lọng. Thiên hạ nghe tin tải lương thực đến giúp vô số.

Bấy giờ Viên Thiệu đang ở Bột Hải, cũng chiêu binh mãi mã, luyện tập suốt ngày. Khi nghe tin Tào Tháo cử sự, liền dẫn ba vạn quân rời Bột Hải kéo đến hội thề với quân Tào.

Thấy đã đến lúc khởi sự, Tào Tháo bèn thảo một tờ hịch văn gởi đến các trấn chư hầu.

Hịch rằng:

Tôi Hiệu Úy tên là Tào Tháo,
Tánh thẳng ngay bố cáo viên quan.
Kể từ khi Ðổng Trác lăng loàn,
Việc nhà nước chứa chan nhiều nỗi.
Vua Thiếu đế vốn không lầm lỗi,
Bỏ giết đều quyền nội trong tay.
Ngoài nhân dân ngặm đắng nuốt cay,
Trong triều sĩ đêm ngày ta thán.
Ngũ Phu, Ðinh Nguyên, Ðinh Quảng,
Ba gã đều bị nạn vong thân.
Chốn cung đình uế trược phân vân,
Trác tàn bạo xa gần thiết xĩ.
Vâng ngày nọ thiên nhan mật chỉ,
Ta hội binh nghĩa vị cần vương.
Quận Trần lưu tề tận diện thương,
Quét trừ đứa nhiễu nhương quân trắc.
Ðồng hiệp sức ra tài phụ bọc,
Như thuốc hay gặp tật mới lành.
Tờ hịch văn đưa đến trấn thành,
Xin liệt vị phụng hành cấp tốc.

Hồi Thứ Sáu

Ðốt Kim Quyết, Ðổng Trác Làm Càn
Giấu Ngọc Tỷ, Tôn Kiên Trái Ước

Trương Phi tế ngựa xấn vào cửa quan, nhưng tên và đá bắn xuống như mưa, không thể nào tiến vào được, phải quay ngựa trở về.

Chư hầu tám xứ cùng mời Lưu, Quan, Trương đến mừng công rồi lại sai người về trại Viên Thiệu báo tin mừng. Thiệu bèn đưa tờ hịch đến Tôn Kiên bảo Kiên tiến binh.

Tôn Kiên liền đem Hoàng Cái, Trình Phổ, đến trại Viên Thuật, rồi cầm gậy vạch xuống đất nói rằng:

– Ðổng Trác với tôi thật không có hằn thù gì, nay tôi không nghĩ gì đến thân, xông pha mũi tên hòn đạn để trừ hắn, trước vì nước nhà, sau để báo thù riêng cho nhà tướng quân (trỏ Viên Ngỗi), thế mà tướng quân nghe lời gièm pha, không phát lương cho tôi, để đến nỗi tôi bị thua, sao tướng quân đành lòng thế được?

Thuật thấy vậy, sợ hãi không biết nói sao, bèn sai đem chém người gièm, để tạ lỗi Tôn Kiên. Khi ấy bỗng có người đến báo với Kiên rằng:

– Trên cửa ải có một tướng cưỡi ngựa đến trại, muốn vào hầu tướng quân.

Kiên từ giã Thuật về trại, gọi hỏi ai, hóa ra viên tướng yêu của Ðổng Trác, tên là Lý Thôi.

Kiên hỏi:

– Ngươi lại đây làm gì?

Lý Thôi nói:

– Thừa tướng chỉ kính trọng tướng quân thôi! Nay thừa tướng muốn kết thân với tướng quân; thừa tướng có một cô con gái muốn gả cho con trai tướng quân.

Tôn Kiên nổi giận mắng rằng:

– Ðổng Trác là thằng nghịch thiên vô đạo, làm xã tắc nghiêng đổ, ta muốn giết cả chín họ nhà hắn đi để tạ thiên hạ, sao lại thèm kết thân với hắn! Ta tha chém cho ngươi, ngươi về mau đem dâng cửa ải cho ta. Mau mau lên! Chậm thì ta băm xương ra bây giờ!

Lý Thôi lủi thủi ra về, kể với Ðổng Trác. Trác giận lắm, bèn hỏi Lý Nho.

Nho nói:

– Lữ Ôn Hầu thua trận mới về, quân sĩ ngã lòng cả, không có bụng đánh nhau nữa. Nay nên kéo quân về Lạc Dương, đem vua sang Trường An, để ứng vào lời đồng giao mấy hôm nay có nói rằng:

Mé Tây một nhà Hán.

Mé Ðông một nhà Hán.

Hươu chạy về Trường An,

Mới khỏi phải gặp nạn.

Mé Tây một nhà Hán nghĩa là: đức Cao Tổ ngày xưa đóng đô ở Trường An, truyền ngôi được mười hai vua. Mé Ðông một nhà Hán nghĩa là: vua Quang Vũ đóng đô ở Lạc Dương, cũng truyền ngôi được mười hai vua. Thế là vận trời xoay vần. Nay thừa tướng lại lên thiên đô về Trường An, mới khỏi lo được.

Trác mừng nói rằng:

– Ngươi không nói thì ta không biết!

Trác bèn đem Lữ Bố về Lạc Dương, rồi hội ngay các quan văn võ để bàn việc thiên đô.

Khi các quan đã đến đông. Trác nói rằng:

– Nhà Hán ta ở Lạc Dương, hơn hai trăm năm nay, khí số đã hết. Ta xem bây giờ vương khí tụ ở Trường An. Vậy ta muốn rước vua về đó, các quan nên gấp rút sắm sửa hành trang.

Tư Ðồ là Dương Bưu nói rằng:

– Trường An bị tàn phá đã lâu rồi. Nay bỗng dưng ta bỏ cả tôn miếu, hoàng lăng mà đi sang đó, tôi sề rằng thiên hạ kinh động, mà thiên hạ kinh động lên thì dễ, yên lại thì khó. Xin Thừa Tướng hãy xét cho kỹ.

Trác giận mắng Dương Bưu:

– Ngươi lại dám ngăn trở việc lớn nước nhà à?

Thái Úy là Hoàng Uyển cũng nói rằng:

– Dương Tư Ðồ nói thế phải đấy: trước kia trong lúc Vương Mãng thoán nghịch, kế đến Canh Thủy, Xích Mi nổi loạn, Trường An bị đốt cháy thành ra tro sỏi. Vả lại nhân dân xiêu tán, trăm phần không còn một hai phần. Tôi nghĩ không nên bỏ cả cung điện ở đây mà đi chỗ đất hoang ấy.

Trác nói:

– Tại Lạc Dương đây trộm giặc nhiều lắm, nhân dân loạn lạc, đi mất cả. Trường An có núi Hào, núi Hàm hiểm trở; lại gần Lũng Hữu, đá gỗ và gạch ngói dễ kiếm, sửa sang cung thất độ hơn một tháng thì xong, không ai được nói lôi thôi nữa!

Tư Ðồ là Tuân Sảng lại can rằng:

– Thừa Tướng thiên đô đi thì thiên hạ tất sẽ nhiễu động ngay.

Trác tức mình gắt rằng:

– Ta vì thiên hạ mà lo việc thiên đô, có xá gì những đứa tiểu nhân!

Ngay hôm ấy Trác cách chức Dương Bưu, Hoàng Uyển, Tuân Sảng, giáng xuống làm thứ dân.

Trác trở ra lên xe, thấy có hai người đứng trước vái, trông ra thì là Thượng Thư Chu Bật và Hiệu Úy Ngũ Quỳnh, Trác hỏi có việc gì. Bật nói:

– Chúng tôi nghe thừa tướng muốn thiên đô, nên lại can ngăn.

Trác giận nói:

– Trước ta nghe hai ngươi, dùng Viên Thiệu cho hắn làm quan, bây giờ hắn làm phản. Thế ra hắn với các ngươi cùng một đảng!

Nói rồi, Trác sai võ sĩ đem Chu Bật, Ngũ Quỳnh ra cửa phủ chém, rồi hạ lệnh thiên đô, hạn đến ngày hôm sau phải đi.

Lý Nho xui Ðổng Trác:

– Nay tiền lương thiếu thốn nhiều, ở Lạc Dương nhiều nhà giàu, ta nên tịch thu của cải, lấy phát lương cho quân. Phàm bao nhiêu môn hạ Viên Thiệu ngày trước, nên đem giết cả đi để lấy của, sẽ thu được vô số.

Trác lập tức sai năm ngàn quân thiết kỵ đi bắt cả những người giàu ở Lạc Dương, cả thẩy mấy ngàn hộ, mỗi người cắm một lá cờ lên đầu, để bốn chữ “Phản Thần Nghịch Đảng” rồi đem ra ngoài chém tuốt, bao nhiêu của cải lấy sạch.

Lý Thôi, Quách Dĩ, bắt hết cả dân Lạc Dương, ước mấy trăm vạn, đưa sang Trường An, cứ mỗi một toán dân lại cho một đội quân đi đàn áp, người chết ở dọc đường không biết bao nhiêu mà kể. Lại cho quân sĩ đi hãm hiếp đàn bà con gái, cướp hết lương thực của dân, tiếng kêu khóc động trời chuyển đất. Người nào đi chậm, đằng sau có quân lính đốc thúc: quân lính cầm đao, giết người ngay ở giữa đường.

Lúc Trác ra đi, sai phóng hỏa đốt cả cửa nhà dân chúng, và tôn miếu, cung phủ; Nam, Bắc hai cung, lửa khói mù mịt; bao nhiêu cung cấm hóa ra tro cả.

Trác lại sai Lữ Bố khai quật hết cả những lăng tiên hoàng, hậu phi để lấy vàng bạc châu báu. Quân sĩ thấy vậy cũng thừa thế đào mả các nhà quan, nhà dân.

Ðổng Trác sai xếp những đồ vàng bạc vóc nhiễu được vài ngàn xe, rồi bức thiên tử và hậu phi phải sang Trường An.

Tướng Ðổng Trác tên là Triệu Xầm, thấy Trác đã bỏ Lạc Dương, bèn dâng ngay cửa Dĩ Thủy cho Tôn Kiên. Kiên kéo binh vào trước. Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi vào cửa Hổ Lao; chư hầu cũng dẫn quân vào cả.

Tôn Kiên đi đến Lạc Dương thấy trong thành lửa cháy ngùn ngụt, ngọn lửa bốc lên tận trời; dưới đất khói đen mù mịt; trong một quãng hai ba trăm dặm, tịnh không có tiếng gà kêu chó cắn.

Ðầu tiên Kiên sai quân vào dập lửa, đoạn ra lệnh cho chư hầu đến đóng quân mã ở trên bãi đất hoang. Tào Tháo đến, thấy Viên Thiệu cũng ở đấy, bèn hỏi rằng:

– Nay Ðổng tặc đã kéo về Trường An rồi, ta nên thừa thế mà đuổi theo bắt hắn mới phải, Bản Sơ lại đóng quân ở đây, là ý làm sao?

Thiệu nói:

– Chư hầu đều mỏi mệt cả, đuổi theo, tôi sợ không được việc gì.

Tháo nói:

– Ðổng tặc đốt cung thất, bức vua thiên đô; trong nước rối động, dân không biết theo ai. Ðó là lúc trời hại hắn đấy, nhân lúc nầy chỉ đánh một trận là yên thiên hạ, sao các ông không đánh?

Chư hầu đều nói:

– Ta không nên khinh động!

Tháo giận nói rằng:

– Ðồ trẻ con cả, không đáng cùng mưu đồ việc lớn!

Nói rồi tự dẫn hơn một vạn quân, sai Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên, Tào Nhân, Tào Hồng, Lý Ðiển, Nhạc Tiếu, luôn ngày đêm đuổi theo Ðổng Trác.

Khi Ðổng Trác đi đến Vinh Dương, Thái Thú là Từ Vinh ra tiếp.

Lý Nho nói:

– Thừa Tướng mới đi khỏi Lạc Dương, tôi sợ có quân đuổi theo nên sai Từ Vinh phục quân ở bên cạnh núi ngoài thành; hễ có quân đuổi theo đi qua thì cứ để cho đi, đợi khi nào đi khỏi chỗ quân phục, trong này ta đánh trở ra, hắn tất thua chạy, bấy giờ ông sẽ đánh chẹn đường, còn quân đi sau tất không dám đánh đuổi nữa.

Trác nghe kế ấy, sai Lữ Bố đem tinh binh đi chặn hậu.

Bố đang đi bỗng có một toán quân Tào xấn đến. Bố cười nói rằng:

– Lý Nho đoán không nhầm!

Bố đem quân mã bày dàn, Tào Tháo tế ngựa lên gọi to:

– Nghịch tặc! Bây bức thiên tử và đem trăm họ đi đâu?

Lữ Bố mắng rằng:

– Tên phản chủ kia, sao dám nói càn?

Hạ Hầu Ðôn vác giáo nhảy ngựa, xông thẳng vào để đâm Lữ Bố. Ðôn với Bố đánh nhau được vài hiệp. Lý Thôi dẫn một đội quân từ bên tả kéo ra. Tháo lại sai Hạ Hầu Uyên ra địch. Lúc bấy giờ lại thấy ở bên hữu có tiếng reo. Quách Dĩ kéo quân ra. Tháo sai Tào Nhân ra địch, nhưng đằng kia ba mặt quân mã đánh dồn lại, thế khó đương nổi.

Hạ Hầu Ðôn chống với Lữ Bố không lại, phi ngựa chạy về. Bố thúc quân vào đánh gấp. Quân Tháo thua chạy kéo về Vinh Dương.

Khi chạy đến dưới sườn núi, bấy giờ đã canh hai, trăng sáng như ban ngày, Tháo sắp sửa hội quân lại làm bếp thổi cơm ăn, bỗng nghe thấy bốn mặt tiếng reo ầm ầm; quân phục của Từ Vinh xông ra. Tào Tháo vội vàng tế ngựa cướp đường chạy trốn; không ngờ gặp ngay Từ Vinh, Tháo lại quay đầy chạy, Vinh giương cung bắn một phát tên trúng ngay vào vai Tháo.

Tháo vừa đeo tên vừa chạy; chạy qua một rặng núi, có hai tên lính phục trong đám cỏ, trông thấy ngựa Tháo đi đến, hai ngọn giáo cùng phóng ra. May đâu một tướng vừa tế ngựa đến, múa đao chém chết hai tên lính, cứu được Tào Tháo.

Tháo trông xem ai thì là Tào Hồng. Tháo bảo Hồng rằng:

– Thôi! Ta đành chết ở đây, hiền đệ nên trốn đi mau.

Hồng nói rằng:

– Xin ngài lên ngựa ngay. Tôi tình nguyện đi bộ.

Tháo hỏi:

– Giặc đuổi đến nơi, ngươi làm thế nào?

Hồng nói:

– Thiên hạ có thể không có tôi, nhưng thiên hạ không thể không có ngài!

Tháo nói:

– Ta nếu lại được sống, thực là nhờ ngươi đó!

Tháo lên ngựa. Hồng cởi áo giáp, cắp đao chạy theo sau.

Chạy đến độ canh tư, chẹn mất đường đi. Ðằng sau nghe thấy tiếng reo hò đã đến nơi. Tháo nói:

– Thôi! Mệnh ta đến thế này, sống sao được nữa!

Hồng kíp vực Tháo xuống ngựa, cởi áo bào ra, cùng Tháo lội qua sông. Vừa qua đến bờ sông bên kia, quân đuổi cũng vừa đến, tên bắn qua sông như mưa. Tháo cứ mặc cả quần áo ướt, lướt thướt mà chạy, chạy mãi đến mờ mờ sáng, được hơn ba mươi dặm, đến một gò đất mới tạm nghỉ hơi một chốc.

Bỗng nghe có tiếng reo, một toán quân mã kéo lại, thì ra Từ Vinh cứ bên kia sông chạy theo lên mạn trên, sang đò đuổi kịp.

Trong khi Tháo đương hoảng hốt. Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên vừa đem vài mươi quân kỵ đến, quát to lên rằng:

– Từ Vinh, chớ được hại chủ ta!

Vinh xông đến đánh Hạ Hầu Ðôn. Ðôn vác giáo đâm Vinh ngã xuống ngựa, rồi đánh tan quân Vinh. Ðằng sau, Tào Nhân, Lý Ðiển, Nhạc Tiến cũng dần dần tìm đến, ra mắt Tào Tháo, nửa lo nửa mừng. Tháo thu thập tàn quân, còn độ năm trăm, kéo về Hà Nội. Tàn quân của Trác chạy về Trường An.

Ðây nói ở Lạc Dương, chư hầu chia quân đóng trại. Tôn Kiên dập tắt lửa trong cung, đóng quân trong thành, đặt trướng ngay trên đền Kiến Chương rồi sai quân quét dọn những gạch ngói ở các cung điện. Phàm những lăng tẩm mà Ðổng Trác đã khai quật lên, Kiên sai chôn cất lại cả. Lại cất ba gian điện, lợp cỏ ở trên nền nhà Thái Miếu, đặt linh vị các vua, giết trâu mổ bò, mời chư hầu đến tế. Tế xong rồi, các tướng ai về trại ấy.

Kiên về trại, đêm hôm ấy trăng sao vàng vặc. Kiên cầm thanh kiếm ra sân, ngẩng mặt lên xem thiên văn thấy trong tồ tử vi có khí trắng mờ mờ. Kiên than rằng:

– Ðế tinh không được tỏ, cho nên tặc thần loạn nước, muôn dân phải lầm than, kinh thành không còn gì nữa.

Vừa nói vừa rỏ nước mắt khóc. Bên cạnh có tên lính trỏ tay bảo Kiên rằng:

– Kìa, ở phía Nam điện này có hào quang năm sắc, từ dưới đáy giếng bốc lên.

Kiên liền sai quân sĩ đốt đuốc xuống giếng tìm xem. Một lát quân mò đem lên được một cái thây người đàn bà chết đã lâu ngày nhưng chưa nát; người này mặc theo lối của cung đình, dưới cổ đeo một cái túi gấm, mở túi ra xem thấy một cái ấn bằng ngọc, vuông bốn tấc, trên núm dấu chạm năm con rồng; bên cạnh có sứt một miếng phải lấy vàng bịt lại; mặt dấu khắc tám chử triện: “Phụ Mệnh Vu Thiên, Ký Thọ Vĩnh Xương”

Kiên được ấn ngọc ấy, hỏi Trình Phổ, Phổ nói:

– Ðấy là ngọc tỷ truyền quốc. Ngày xưa, Biện Hồ ở dưới núi Kinh Sơn trông thấy chim phượng hoàng đậu ở trên hòn đá, đem đá ấy về tiến vua Văn Vương nước Sở. Lúc phá đá ra trong có hòn ngọc. Ðến đời nhà Tần, năm thứ 26 (221 trước công nguyên) vua Tần sai thề ngọc dũa ra làm ấn quốc bảo. Tám chữ triện viết ở trên mặt ấn là chử Lý Tư. Năm thứ 28 Tần Thủy Hoàng đi tuần đến hồ Ðộng Ðình, gặp sóng to gió lớn, thuyền sắp đắm, vua vội vàng ném ngọc tỷ ấy xuống hồ mới không việc gì. Ðến năm thứ 38, Thủy Hoàng đi tuần đến núi Hoa Âm, đương đi gặp một người tay cầm ngọc tỷ đứng đón đường, đưa cho quân hầu nói rằng: “Ðem cái nầy về trả Tổ Long”

Nói xong rồi biến mất. Ấn ngọc ấy lại về nhà Tần. Ðến năm sau, Thủy Hoàng mất. Tử Anh đem ngọc dâng cho Cao Tổ nhà Hán. Ðến lúc Vương Mãng khởi loạn, hoàng hậu vua Hiếu Nguyên cầm ngọc ấy đánh Vương Tầm, Tô Hiến sứt mất một góc, phải lấy vàng bịt vào. Vua Quang Vũ được ấn ngọc ấy ở Nghi Dương, truyền đến bây giờ. Khi mười tên hoạn quan làm loạn, bức đem Thiếu đế ra Bắc Mang, lúc về thấy mất ngọc tỷ. Nay tướng quân lại tìm được, tất là trời cho tướng quân đó. Ðiềm này là điềm báo tướng quân sẽ làm vua. Vậy tướng quân không nên ở lâu chốn nầy, mà nên về ngay Giang Ðông để mưu toan việc lớn!

– Ngươi nói chính hợp ý ta. Ngày mai ta sẽ cáo bệnh về.

Bàn định xong, Kiên truyền quân sĩ không được nói hở cho ai biết. Không ngờ trong đám quân sĩ có một người cùng làng với Viên Thiệu, biết việc đó, muốn nhân dịp tiến thân, ngay đêm hôm ấy lẻn sang báo với Viên Thiệu.

Thiệu thưởng cho người ấy rồi giữ lại ở trong quân.

Hôm sau Tôn Kiên sang trại Viên Thiệu để cáo từ, nói rằng:

– Tôi hơi khó ở, xin phép về Trường Sa.

Thiệu cười nói rằng:

– Tôi đã biết bệnh của ông rồi. Bệnh ấy là bệnh ngọc tỷ!

Kiên thất sắc, hỏi rằng:

– Ai nói với ông thế?

Thiệu nói:

– Nay chúng ta vì nước đánh giặc. Ngọc tỷ là của báu triều đình, ông bắt được, nên ở chỗ minh chủ, đợi khi nào giết được Ðổng Trác, thì đem trả lại cho nhà vua. Nay ông giấu ấn ấy mà bỏ đi, định làm gì?

Kiên cứ chối:

– Ngọc tỷ làm gì có ở tôi?

Thiệu nói:

– Cái gì bắt được ở đáy giếng đền Kiến Chương, bây giờ ở đâu?

Kiên nói:

– Tôi không có của ấy cưỡng bức nhau làm gì thế?

Thiệu nói:

– Mau mau bỏ ra đây, kẻo vạ vào thân bây giờ!

Kiên trỏ tay lên trời thề rằng:

– Tôi được của ấy mà giấu đi, thì sẽ chết dưới mũi tên hòn đạn.

Các tướng đều nói rằng:

– Văn Ðài đã thề như thế, chắc là không bắt được ngọc tỷ.

Thiệu gọi người làm chứng ra, hỏi Tôn Kiên rằng:

– Lúc mò được ngọc, có người này ở đấy không?

Kiên giận lắm, rút ngay kiếm ra, định chém người ấy. Thiệu cũng rút kiếm ra bảo rằng:

– Hễ ngươi chém hắn thì ngươi dối ta.

Nhan Lương, Văn Sú đứng sau lưng Viên Thiệu cũng rút kiếm ra. Sau lưng Tôn Kiên, Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương, cũng cầm đao lăm lăm ở trong tay. Các tướng đều xúm lại can đôi bên. Kiên lập tức trở ra, lên ngựa về nhổ trại, bỏ Lạc Dương đi.

Thiệu giận lắm, liền viết một lá thư, sai người tâm phúc ngay đêm hôm ấy đem sang Kinh Châu, đưa cho quan Thứ Sử là Lưu Biểu, sai Biểu chẹn đường Kiên, lấy lại ngọc tỷ.

Hôm sau có người báo rằng:

– Tào Tháo đuổi Ðổng Trác, đánh nhau ở Vinh Dương thua to trở về.

Thiệu bèn sai người đón Tháo vào trại, ở tiệc rượu cùng với Tháo giải phiền.

Trong khi uống rượu, Tào Tháo than rằng:

– Ta trước kia khởi nghĩa lớn, cốt là muốn vì nước trừ hại. Các ông đã có bụng trượng nghĩa mà đến với tôi, ỵ tôi muốn phiền Bản Sơn đem quân Hà Nội sang đóng ở Mạch Tân; còn các quân Toan, Táo cứ giữ vững Thành Cao, giữ cửa ải Ngao Thương, ngăn Hoàn Viên, Ðại Cốc, khống chế những nơi hiểm yếu. Còn Công Lộ đem quân Nam Dương sang đóng ở Ðan Triết, tiến vào cửa Vũ Quan, để cho cái uy thế ở Tam Phụ to lên. Nơi nào cũng thành cao, hào sâu, không đánh nhau, chỉ giữ làm nghi binh, để thiên hạ trông rõ hình thế, cho ta là kẻ thuận đi trừ gian, thì việc lớn có thể định ngay được. Thế mà các ông dùng dằng mãi chẳng tiến quân, làm mất cả lòng mong đợi của thiên hạ, tôi lấy làm xấu hổ quá!

Lũ Thiệu không ai nói câu gì. Một chốc tiệc tan.

Tháo thấy lũ Thiệu mỗi người một bụng, nghĩ cũng không làm được việc lớn, bèn tự kéo quân về Dương Châu.

Công Tôn Toản thấy tình cảnh thế, cũng chán. Một bữa Toản bảo với Lưu, Quan, Trương:

– Tôi xem Viên Thiệu không làm nên được trò trống gì đâu; ở lâu tất sinh biến , chi bằng chúng ta hãy về.

Bèn nhổ trại về phía Bắc. Ði đến huyện Bình Nguyên, Toản sai Lưu Bị làm tướng ở đó, giữ lấy đất, nuôi lấy quân.

Thái Thú Duyện Châu Lưu Ðại, thiếu lương hỏi vay Thái Thú Ðông Quận là Kiều Mạo, Mạo không cho vay, Ðại đem quân xông vào dinh Mạo, giết Mạo rồi thu phục quân sĩ và thu hết của quân lương.

Viên Thiệu thấy chư hầu mỗi người đi một ngả, cũng rời Lạc Dương kéo quân về Quan Ðông.

Thứ Sử Kinh Châu là Lưu Biểu, bắt được thư của Viên Thiệu xin đem quân chẹn đường Tôn Kiên, liền sai ngay Khoái Việt và Sái Mạo dẫn một vạn quân ra đón đường đánh Kiên.

Lưu Biểu, tên chữ là Cảnh Thăng, quê ở Cao Bình, đất Sơn Dương, cũng là tôn thân nhà Hán. Lúc còn nhỏ, Biểu kết bạn với bảy danh sĩ, bấy giờ người ta gọi là “Giang Hạ bát tuấn”. Trong tám người ấy thì một người là Lưu Biểu, còn tám người nữa là: 1- Trần Tường; 2- Phạm Phang; 3- Khổng Giực; 4- Phạm Khang; 5- Ðàn Phu; 6- Trương Kiệm; 7- Sầm Hĩnh.

Biểu cùng bảy người ấy kết làm bạn, nhưng ngoài ra còn có mấy người phù tá. Một là Khoái Lương, người ở Diên Bình, hai là Khoái Việt cũng người ở Diên Bình, ba là Sái Mạo người ở Tương Dương.

Khoái Việt, Sái Mạo dẫn một vạn quân ra chặn đường Tôn Kiên vừa đến đó, Khoái Việt bày trận rồi nhảy ngựa ra.

Kiên thấy Việt, hỏi rằng:

– Khoái Việt cớ sao chẹn đường ta?

Việt nói:

– Ngươi đã làm tôi nhà Hán, sao được giấu ngọc tỷ truyền quốc? Ðưa ra ngay ra đây, ta sẽ cho đi.

Kiên tức lắm, sai ngay Hoàng Cái ra đánh. Sái Mạo múa đao lại địch. Ðược vài hiệp, Cái hoa ngọn roi, đánh trúng ngay miếng kính che ngực Mạo. Mạo quay đầu ngựa chạy. Kiên thừa thế đuổi đánh khỏi cửa ô. Lúc bấy giờ, ở trong núi bỗng thấy chiêng trống khua rầm lên. Thì ra Lưu Biểu vừa dẫn quân đến. Kiên ngồi trên ngựa chào hỏi tử tế, rồi nói với Lưu Biểu rằng:

– Ta với Cảnh Thăng là láng giềng với nhau. Sao Cảnh Thăng lại nở tin lời Viên Thiệu và xử tệ với ta làm vậy?

Biểu nói:

– Nhà ngươi dấu quốc bảo, muốn làm phản à?

Kiên lại thề:

– Ta mà có của ấy ở trong mình, xin chết ở dưới mũi tên viên đạn.

Biểu nói:

– Muốn cho ta tin, nhà ngươi phải để cho ta khám cả đồ hành Lý.

Kiên nổi khùng, mắng Lưu Biểu rằng:

– Tài sức ngươi thấm vào đâu, mà dám khinh ta!

Hai bên sắp sửa giao binh đánh nhau. Lưu Biểu lui ngay. Kiên thấy vậy thả ngựa sấn lại. Bấy giờ quân phục ở sau hai rặng núi kéo ồ ra; sau lưng Khoái Việt, Sái Mạo ập lại, vây bọc lấy Tôn Kiên ở giữa trận.

Thế rõ thực là:

Ngọc tỷ đem về không dùng được,
Lại vì của ấy động binh đao.

Chưa biết Tôn Kiên làm thế nào mà thoát được thân, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi Thứ Bảy

Viên Thiệu Qua Cầu Ðuổi Công Tôn Toản
Tôn Kiên Sang Sông Ðánh Lưu Cảnh Thăng

Nhắc lại Tôn Kiên đang bị quân Lưu Biểu vây ngặt, may nhờ có ba tướng Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương đánh phá vòng vây cứu thoát. Tôn Kiên thu góp tàn quân thấy hao hơn phân nữa, liền kéo về Giang Ðông. Và, từ đấy Tôn Kiên ôm mối hận với Lưu Biểu.

Bấy giờ, Viên Thiệu đóng quân ở Hà nội, lương thảo thiếu hụt, không tìm đâu ra để chu cấp cho binh lính.

Quan Thứ sử Ký Châu là Hàn Phúc thỉnh thoảng cho người chở lương thực đến giúp.

Mưu sĩ Phùng Kỷ thấy vậy, bảo nhỏ với Viên Thiệu:

– Ðại trượng phu phải tự mình tung hoành thiên hạ cho phỉ chí, cần gì nhờ vả kẻ cho lương? Ký Châu đất rộng dân giàu, sao Tướng quân không đem quân chiếm quách cho rồi?

Viên Thiệu nói:

– Ta cũng nghĩ thế, nhưng chưa có kế hay.

Phùng Kỷ nói:

– Nay ngầm sai người mang mật thư gởi cho Công Tôn Toản, bảo Công Tôn Toản kéo quân đánh Ký Châu, và hẹn sẽ giúp sức rồi chia đôi mảnh đất ấy. Tôi chắc thế nào Công Tôn Toản cũng hưng binh. Còn Hàn Phúc là đứa vô mưu, nếu bị Công Tôn Toản đem quân đánh, thế nào cũng mời Tướng quân đem binh vào Ký Châu giúp sức. Chừng ấy Tướng quân sẽ tự lĩnh mọi việc, rồi chỉ trở bàn tay là lấy được, có khó gì?

Viên Thiệu cả mừng, liền thảo một bức mật thư sai người đem đến cho Công Tôn Toản.

Công Tôn Toản xem thư thấy Viên Thiệu hẹn cùng đánh Hàn Phúc, và chia đất Ký Châu, lòng mừng lắm, lập tức khởi binh.

Trong lúc đó, Viên Thiệu lại ngầm sai người đến báo cho Hàn Phúc biết. Phúc hoảng sợ, triệu hai mưu sĩ là Tuân Thầm và Tân Bình vào thương nghị.

Tuân Thầm bàn:

– Công Tôn Toản thống lãnh quân hai nước Yên, Ðại, đông lắm, nếu kéo binh đến đấy, Ký Châu chúng ta ắt mất. Vả lại, Công Tôn Toản lại có ba anh em Huyền Ðức giúp sức thì chúng ta chống sao nổi? Nay có Viên Bản Sơ trí dũng hơn người, dưới trướng có nhiều danh tướng. Vậy bây giờ Tướng quân nên mời Viên Bản Sơ đến đây để cùng coi việc cai trị châu quận với ta. Ông ấy sẽ hậu đãi Tướng quân, và như thế không sợ gì Công Tôn Toản nữa.

Hàn Phúc nghe theo, liền sai viên biệt giá là Quan Thuần đi mời Viên Thiệu. Quan Trưởng sử Cảnh Vũ vội can:

– Không nên. Hiện nay Viên Thiệu là kẻ cô thế, quân lương cùng quẩn, phải nhờ đến chúng ta mà sống, chẳng khác nào đứa hài nhi trong tay, không cho bú nữa là chết. Sao chúng ta lại đem việc châu quận mà giao cho hắn? Làm như thế chẳng khác nào dẫn cọp vào chuồng dê.

Hàn Phúc nói:

– Ta vốn là môn hạ cũ của họ Viên, tài ba kém cõi, may được trấn giữ châu quận nầy. Người xưa có nói: “Lựa người tài đức mà nhường ngôi”. Huống hồ, ta với Viên Bản Sơ nghĩa trọng, dẫu hai người có cai trị một châu cũng chẳng sao.

Cảnh Vũ than:

– Tướng quân đã có Ý như vậy thì Ký Châu coi như đã mất rồi.

Hay được việc ấy, trong số bộ hạ của Hàn Phúc có hơn ba mươi người bỏ đi nơi khác. Chỉ còn Cảnh Vũ với Quan Thuần ở lại, phục sẵn ngoài thành để đợi Viên Thiệu.

Vài ngày sau, Viên Thiệu dẫn quân tới. Cảnh Vũ và Quan Thuần bất thần nhảy ra, vung đao chém Viên Thiệu. Nhưng nhanh như cắt, Nhan Lương đã chém chết Cảnh Vũ, và Văn Xủ giết ngay Quan Thuần,

Viên Thiệu vào thành Ký Châu, cho Hàn Phúc làm Phấn Uy tướng quân, rồi cắt đặt cho bọn Ðiền Phong, Thư Thụ, Hứu Du, Phùng Kỷ chia nhau nắm giữ việc châu. Thế là Viên Thiệu đoạt hết quyền hành của Hàn Phúc.

Hàn Phúc hối hận thì đã muộn, bực mình, bỏ cả nhà cửa, vợ con lên ngựa sang Trần Lưu, nương nhờ Thái Thú Trương Mạc.

Công Tôn Toản hay tin Viên Thiệu đã chiếm Ký Châu, liền sai em là Công Tôn Việt sang gặp Viên Thiệu, yêu cầu chia đất cho mình như lời hứa.

Viên Thiệu bảo Công Tôn Việt:

– Hãy về mời lệnh huynh sang đây mới tính chuyện ấy được.

Công Tôn Việt ra về. Nhưng đi chưa đầy năm mươi dặm, có một toán quân phục xông ra chận đường, và hô lớn:

– Ta là gia tướng của Ðổng Thái Sư đây.

Dứt lời, quân sĩ dùng cung tên bắt như mưa. Công Tôn Việt không thoát khỏi, phải tử nạn. Những quân tùy tùng chạy thoát về báo rõ sự thể với Công Tôn Toản. Toản đùng đùng nổi giận mắng lớn:

– Thằng Viên Thiệu lừa dối, gạt ta đem binh đánh Hàn Phúc, để chiếm trọn Ký Châu. Nay lại cho người giả làm quân Ðổng Trác, hại mạng em ta nữa. Thù nầy không lẽ không báo?

Mắng rồi, liền khởi binh bản bộ đi đánh Ký Châu. Viên Thiệu được tin Công Tôn Toản kéo quân tới liền khai thành dẫn quân ra ứng chiến. Hai bên gặp nhau trên sông Bàn Hà. Viên Thiệu thì bố trận nơi đầu cầu phía Ịông, còn Công Tôn Toản thì dàn quân ở đầu phía Tây. Công Tôn Toản cỡi ngựa đứng trên cầu mắng lớn:

– Thằng bội nghĩa! Ngươi dám dối gạt ta sao?

Viên Thiệu cũng giục ngựa đến đầu cầu chỉ mặt Công Tôn Toản nói:

– Hàn Phúc là đứa bất tài, tình nguyện đem Ký Châu giao cho ta, việc ấy can hệ gì đến ngươi.

Công Tôn Toản thét lên:

– Ngày trước, ta tưởng ngươi là kẻ trung nghĩa, lại con nhà dòng dõi Tam Công nên mới bầu ngươi làm Minh chủ. Ngờ đâu bây giờ ta mới biết ngươi là đồ sài lang! Ngươi còn mặt mũi nào mà đứng trên cõi đời này nữa.

Viên Thiệu nổi giận quay lại hỏi các tướng:

– Ai dám ra bắt tên nghịch tặc ấy?

Viên Thiệu vừa dứt lời, Văn Xú đã thúc ngựa vung thương xông thẳng lên cầu. Công Tôn Toản giục ngựa tới đầu cầu giao phong chưa đầy mười hiệp đã đuối sức bỏ chạy. Văn Xú thừa thế đuổi theo. Toản chạy vào giữa trận, Xú đuổi vào tận trung quân, xung đột Ịông Tây như vào chỗ không người, khiến cho đại binh của Công Tôn Toản sợ hãi kéo nhau chạy trốn. Bốn viên tướng thủ hạ của Công Tôn Toản đổ xô ra cự chiến. Văn Xú đâm một thương khiến một tướng bị té xuống ngựa, còn ba tướng kia bỏ chạy. Xú lại đuổi theo Toản ra mãi sau trận. Toản nhìn về phía hẻm núi mà chạy, Xú thúc ngựa đuổi sát tới, nạt lớn:

– Mau xuống ngựa đầu hàng đi!

Công Tôn Toản sợ quá, chạy đến nỗi rơi hết cung tên mà không hay, cái mũ trên đầu cũng rơi xuống đất, đầu tóc tối bù, cứ phi ngựa theo chân núi mà chạy quanh. Rủi thay, con ngựa lại vấp chân ngã phục xuống, làm cho Toản lăn xuống chân núi.

Văn Xú hăm hở cầm thương tới đâm. Trong lúc tính mạng Công Tôn Toản sắp nguy, bỗng từ sau hòn đá cao có một thiếu niên dũng tướng phi ngựa ra, cầm giáo đâm Văn Xú một nhát. Văn Xú vội né mình lùi lại. Công Tôn Toản thừa dịp ấy bò lên sườn núi lánh nạn, và xem thử ai đã cứu mình.

Thì ra thiếu niên mình cao tám thước, mày rậm mắt to, uy phong lẫm liệt. Thiếu niên đánh với Văn Xú năm, sáu mươi hiệp vẫn chưa phân thắng bại. Lúc đó có quân bộ hạ của Toản kéo tới tiếp cứu. Văn Xú vội quay ngựa bỏ chạy. Thiếu niên đuổi theo truy kích, nhưng Công Tôn Toản đã gọi lại để tạ ơn, và hỏi tên họ.

Người ấy thi lễ rồi đáp:

– Tôi vốn người Chân Ịịnh, huyện Thường Sơn, họ Triệu tên Vân, tự là Tử Long, cũng là người ở địa hạt thuộc quyền Viên Thiệu, nhưng thấy Viên Thiệu không có phò vua cứu nước, nên tôi mới bỏ Thiệu đến đây tìm hầu quan Thái Thú, không ngờ lại được gặp nơi đây.

Công Tôn Toản mừng rỡ dắt Triện Vân về trại, chỉnh đốn quân ngũ, sửa sang khôi giáp. Hôm sau, Công Tôn Toản lại chia quân làm hai đội tả hữu, khí thế rất hùng mạnh như đôi cánh đại bàng. Có năm ngàn con ngựa thì quá nửa là ngựa trắng.

Nguyên trước kia, khi đánh nhau với rợ Khương, Toản lựa một đoàn kỵ binh cưỡi rặt ngựa trắng đi tiên phong, nổi tiếng là “Bạch Mã tướng quân”. Sau nhiều trận bị Toản đánh bại, quân Khương cứ trông thấy ngựa trắng là bỏ chạy. Do đó, Toản có rất nhiều ngựa trắng.

Viên Thiệu hay tin, sai Nhan Lương, Văn Xú đi tiên phong, mỗi tướng dẫn một ngàn quân cung nỏ, cũng chia làm hai đội tả hữu, lại truyền lệnh rằng:

– Ðội bên tả cứ bắn cánh quân bên hữu của Toản, đội bên hữu thì bắn cánh quân bên tả của Toản.

Lại sai Cúc Nghĩa dẫn tám trăm quân cung thủ, hợp với một vạn năm ngàn bộ binh dàn ngay giữa trận. Còn Viên Thiệu thì tự dẫn vài vạn bộ binh theo sau tiếp ứng.

Công Tôn Toản mới thu nạp được Triệu Vân, chưa rõ tài sức ra sao, nên sai Triệu Vân dẫn một toán quân đi ứng hậu, rồi sai đại tướng Nghiêm Cương dẫn quân đi tiền đạo. Toản thì thống lãnh trung quân, dừng ngựa trên cầu, bên mình có trương một lá cờ đỏ rất lớn, thêu chữ “Soái” bằng chỉ vàng lóng lánh, bay trước mặt.

Công Tôn Toản truyền lệnh giục trống khiêu khích từ giờ Thìn qua đến giờ Tỵ, mà quân Viên Thiệu vẫn không tiến lại.

Tướng của Viên Thiệu là Cúc Nghĩa truyền quân cung nỏ phục xuống sau những tấm mộc che tên, dặn khi nào nghe tiếng pháo lệnh mới được bắn.

Bên kia, Nghiêm Cương sai đánh trống hò reo vang trời, rồi xông ra đánh Cúc Nghĩa. Quân của Nghiêm Cương đã kéo đến gần, mà quân của Cúc Nghĩa vẫn còn nằm yên không động.

Chở cho địch quân đến vừa tầm, Cúc Nghĩa mới đốt lên một tiếng pháo lệnh, tức thì tám trăm tên cung nỏ bắn ra một loạt.

Nghiêm Cương thất kinh quay về, nhưng Cúc Nghĩa đã tế ngựa theo, chém Cương một đao lăn xuống ngựa.

Quân Toản thua to, hai cánh kỵ binh tả hữu ra cứu ứng đều bị quân cung nỏ của Nhan Lương, Văn Xú chia nhau bắn như mưa. Quân Thiệu nhất tề đồng tiếng lên cầu.

Cúc Nghĩa phóng thẳng tới chém chết viên tướng vác cờ.

Lá cờ “Soái” của Toản đổ xuống. Toản thấy thế quay ngựa bỏ cầu mà chạy.

Cúc Nghĩa dẫn quân xông vào hậu quân của Toản thì gặp ngay Triệu Vân thúc ngựa xông ra cản lại.

Ðánh được vài hiệp, Triện Vân đã đâm Cúc Nghĩa một giáo chết lăn, rồi một mình một ngựa xông thẳng vào trung quân của Viên Thiệu, tả xung, hữu đột, chém giết như đi vào chỗ không người.

Công Tôn Toản thấy vậy cũng dẫn quân đánh quật trở lại, làm cho quân Viên Thiệu rối loạn, chạy tơi bời.

Bấy giờ, Viên Thiệu đang ở phía sau, sai quân đi dò trận thế, được thám mã về báo rằng Cúc Nghĩa đã chém tướng đoạt cờ, đang đuổi giết quân Toản.

Thiệu cả mừng, không phòng bị gì nữa, liền cùng Ðiền Phong dẫn vài trăm quân vác kích, vài chục tay mã cung, cỡi ngựa ra trước quan sát. Thiệu cười ha hả bảo Công Tôn Toản là kẻ vô dụng.

Nhưng trong lúc đang cười nói, bỗng đâu Triện Vân đã phi ngựa đến trước mặt. Quân cung thủ thất kinh vội lắp tên bắn, nhưng tên chưa kịp rời nỏ thì Triện Vân đã xông vào giết một loạt bảy, tám đứa, những tên khác khiếp vía bỏ chạy. Tiếp đó, quân Công Tôn Toản lại ùn ùn kéo đến, bao vây Viên Thiệu.

Ðiền Phong thấy thế nguy, liền bảo Viên Thiệu:

– Có bức tường đằng kia, mời Chúa công mau tạm lánh vào đó chốc lác.

Viên Thiệu đưa tay trật cái mũ đâu mâu ném xuông đất, nói lớn:

– Ðại trượng phu đã lâm trận, mong được chết giữa chiến trường, há lại chạy trốn sao?

Quân binh của Viên Thiệu thấy thế nức lòng, vác kích xông đến tử chiến. Do đó, Triệu Vân không sao xông vào được. Kế đó lại có đại quân của Thiệu vừa đến kịp, lại thêm Nhan Lương cùng kéo quân tới, hai mặt cùng đánh.

Triệu Vân phải bảo hộ Công Tôn Toản phá vòng vây, rút về bên kia đầu cầu.

Quân Viên Thiệu lại thừa thế đuổi theo làm cho quân Công Tôn Toản chen nhau qua cầu mà té xuống nước chết vô số. Viên Thiệu xông lên trước, xua quân đuổi Công Tôn Toản.

Ðuổi chưa được năm dặm đường, bỗng nghe sau lưng núi có tiếng reo hò vang dậy, rồi một đạo binh hùng hổ kéo ra, đi đầu là ba viên tướng dung mạo phi thường. Thì ra đó là ba anh em Lưu Huyền Ðức.

Số là Huyền Ðức ở tại huyện Bình nguyên, nghe tin Công Tôn Toản giao binh với Viên Thiệu, nên đến trợ chiến. Bấy giờ vừa gặp lúc, ba con ngựa phi tới, ba thứ binh khí bay lại phía quân Ký Châu, nhắm thẳng Viên Thiệu mà đánh.

Thấy ba anh em Huyền Ðức xuất hiện, Viên Thiệu sợ hãi rụng rời, hồn vía tức thì bay lên mây xanh. Cây bửu đao đang cầm trong tay rơi xuống đất lúc nào không hay. Thiệu vội quay ngựa chạy một mạch…

Ba quân liều chết hộ vệ Viên Thiệu qua cầu.

Công Tôn Toản thu binh về trại. Ba anh em Huyền Ðức vào hỏi thăm, Toản nói:

– Nếu không có Huyền Ðức từ xa tới cứu, thì tôi khốn đốn rồi.

Kế đó, Công Tôn Toản đem Triệu Vân đến giới thiệu với Huyền Ðức.

Vừa trông thấy viên tướng trẻ này, Huyền Ðức đã đem lòng yêu mến, và sau khi trao đổi tâm tình, hai người không muốn rời nhau nữa

Còn Viên Thiệu, sau khi thua trận ấy, đành cố thủ không dám ra binh. Công Tôn Toản cứ ít ngày lại đem binh khiêu chiến, nhưng thấy Viên Thiệu không đánh lại rút quân về.

Bây giờ, tại triều Ðồng Trác đã xếp đặt công việc tạm ổn, cho người ra ngoài thám thính, mới hay tin Viên Thiệu và Công Tôn Toản đánh nhau đã hơn một tháng trời.

LÝ Nhu nói với Ðổng Trác:

– Viên Thiệu và Công Tôn Toản đều là hào kiệt trên đời, nay ta mượn chiếu Thiên tử sai người đến giải hòa, như thế tất cả hai người mang ơn và phục tùng Thái Sư.

Ðổng Trác khen phải, liền sai quan Thái phó Mã Nhật Ðàn, và quan Thái bộc Triệu Kỳ đem chiếu mệnh ra đi.

Hai người nầy cùng qua Hà Bắc một lúc.

Viên Thiệu hay tin ra ngoài trăm dặm đón tiếp, lạy hai lạy mà vâng chiếu.

Ngày hôm sau, hai người lại đến dinh Công Tôn Toản để hiểu dụ.

Công Tôn Toản cũng bằng lòng, viết thư đưa sang Viên Thiệu giải hòa, rồi dâng biếu về triều tiến cử Lưu Huyền Ðức làm Bình Nguyên tướng.

Huyền Ðức phải sang Bình Nguyên trấn nhậm nên từ biệt Triệu Vân. Hai người cầm tay nhau nhỏ lệ, không nỡ rời.

Triệu Vân than rằng:

– Trước đây tôi tưởng Công Tôn Toản là anh hùng, nay xem lại thì Công Tôn Toản cũng chỉ thường tình như Viên Thiệu mà thôi.

Huyền Ðức nói:

– Thôi, Tử Long hãy chịu khó khuất thân nơi đây, chúng ta sẽ có ngày tái ngộ.

Hai người bùi ngùi giã biệt, lòng lữu luyến không nguôi.

Bấy giờ, Viên Thuật ở Nam Dương, nghe tin Viên Thiệu lấy được Ký Châu, vội sai sứ sang xin một ngàn con ngựa. Viên Thiệu không cho nên Viên Thuật oán hận, và từ đó anh em bất hòa nhau.

Viên Thuật sai sứ sang Kinh Châu vay của Lưu Biểu hai chục vạn hộc lương. Lưu Biểu cũng không cho, nên Viên Thuật căm giận ngầm sai người mang thư cho Tôn Kiên, xúi Tôn Kiên đánh Lưu Biểu.

Ðại lược lá thư ấy như sau:

Trước đây, Lưu Biểu chận đường đánh ngày, chính là do kế của anh Bản Sơ tôi. Này tôi lại nghe tin anh Bản Sơ tôi ngầm mưu với Lưu Biểu muốn cùng đánh chiếm Giang Ðông của ông đấy. Vậy ông kíp khởi binh đánh Lưu Biểu. Tôi sẽ giúp ông mà đánh chẹn Bản Sơ. Như thế sẽ báo được hai mối thù. Và, ông chiếm lấy Kinh Châu, tôi chiếm lấy Ký Châu. Xin chờ ông chại ngại…

Tôn Kiên được thư liền nói:

– Căm hận thay! Thằng Lưu Biểu trước đây dám chẹn đường về của ta. Nay không nhân cơ hội này mà rửa hận thì còn đợi đến bao giờ nữa.

Liền tập họn Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàng Dương dưới trướng để bàn luận. Trình Phổ nói:

– Viên Thuật là đứa dối trá, không nên tin vội.

Tôn Kiên nói:

– Không cần! Ta muốn đánh Lưu Biểu một trận báo thù, dẫu Viên Thuật không giúp sức cũng được.

Bàn định xong, Tôn Kiên sai Hoàng Cái ra bến sông, sắp đặt chiến thuyền, trang bị khí giới, tích lũy lương thảo, lựa những thuyền thật lớn để chở ngựa, sắp sẵn để bất thần khởi quân.

Quân tế tác Kinh Châu hay được vội về báo với Lưu Biểu. Lưu Biểu sợ hãi triệu tập chư tướng bàn kế. Khoái Lương nói:

– Việc này không đáng lo, chỉ cần sai Hoàng Tổ đem quân phục ở Giang Hạ làm tiền khu, rồi Chúa công thân hành dẫn đại binh Kinh tương đi làm hậu viện. Chờ cho quân Tôn Kiên mới qua sông mỏi mệt, đánh cho một trận tất quân giặc phải bị thua.

Lưu Biểu nghe theo và ra lệnh cho Hoàng Tổ phòng bị ở Giang Hạ, rồi kéo đại binh sắp đặt ứng chiến…

Lại nói về Tôn Kiên vốn có bốn người con trai do Ngô phu nhân sinh ra. Con trưởng tên Sách, tự Bá Phù. Người thứ hai tên Quyền tự là Trọng Mưu. Người thứ ba tên Dực, tự là Thúc Bật. Người thứ tư tên Khuông, tự là QuÝ Tá. Còn người em gái của Ngô phu nhân lại cũng lấy anh rể, tức là vợ thứ của Tôn Kiên. Bà này sinh được một trai một gái. Trai tên là Lãng tự Tảo An, gái là Nhân. Tôn Kiên lại còn nuôi một người con trai họ Du, tên Thiều tự Công Lễ, tức là nghĩa tử Tôn Thiền vậy.

Bấy giời, người em ruột của Tôn Kiên là Tôn Tĩnh, tự Ẩu Ðài, thấy anh mình sắp xuất quân, mới dắt cả các con mình ra vái lạy trước ngựa nà can ngăn khuyên giải:

– Nay Ðổng Trác chuyên quyền, Thiên tử nhu nhược, nhân dân loạn lạc, các trấn chư hầu mỗi người làm bá một phương. Giang Ðông ta mới yên được ít lâu, theo lẽ phải củng cố binh lực, sao anh lại vì một chút giận nhỏ mà động binh? Xin anh xét lại.

Tôn Kiên bảo Tôn Tĩnh

– Thôi, em đừng ngăn cản. Anh đang muốn tung hoành khắp thiên hạ, lẽ nào một mối thù nhỏ mà không báo?

Con trưởng Tôn Kiên là Tôn Sách nói:

– Phụ thân đã quyết đi, con xin cùng đi với.

Tôn Kiên nhận lời, dẫn Tôn Sách lên thuyền kép quân đến đánh Phàn thành. Bấy giờ, Hoàng Tổ đã phục sẵn cung nỏ ở bờ sông, thấy chiến thuyền của Tôn Kiên kéo đến, liền ra lệnh bắn như mưa.

Tôn Kiên truyền cho quân sĩ không được vội động, cứ phục sát xuống thuyền, rồi cho thuyền chèo lui để dụ địch, đồng thời đánh trống thị uy ba ngày liền.

Cứ mỗi ngày thuyền Tôn Kiên lại lượn sát vào bờ, rồi lùi ra xa.

Quân của Hoàng Tổ cứ nhắm mắt bắn càn, bắn đến nỗi hết sạch cả tên.

Bấy giờ Tôn Kiên mới ra lệnh thu nhặt số tên của địch bắn dính hai bên ven thuyền, ước độ vài chục vạn mũi. Ngày hôm sau, gặp chiều gió thuận, Tôn Kiên sai bắn lên bờ như mưa.

Quân trên bờ đã hết tên, lại bị phản công bất ngờ nên ùn ùn bỏ chạy.

Tôn Kiên kéo quân lên bờ. Trình Phổ, Hoàng Cái chi ra hai đường đánh thốc vào trại Hoàng Thổ, mặt sau, Hàn Ðương cũng kéo tới nơi. Thế là ba mặt đánh dồn lại.

Hoàng Tổ thua to, đành bỏ Phàn thành chạy về Ðặng thành.

Tôn Kiên sai Hoàng Cái ở lại giữ các chiến thuyền, còn mình thì thân hành kéo quân truy kích địch.

Hoàng Tổ bị Tôn Kiên đuổi theo quá gấp, phải dùng lại bày trận giữa cách đồng, để nghênh địch.

Tôn Kiên cũng dàn quân thành trận thế, thúc ngựa ra đứng dước cờ.

Tôn Sách, toàn thân khôi giáp gọn ghẽ, cầm giáo đứng sát bên cha.

Bên kia, Hoàng Tổ dẫn hai tướng ra trận. Một tướng là Trương Hổ, người Giang Hạ; một tướng là Trần Sinh, người Tương Dương. Hoàng Tổ đứng ở giữa, tay cầm roi trỏ Tôn Kiên mắng lớn:

– Lũ chuột Giang Ðông ! Sao dám xâm phạm đất đai của bậc tôn thân nhà Hán?

Mắng rồi sai Trương Hổ ra đánh. Bên kia Hàn Ðương từ trong trận phi ngựa ra đón lại. Hai tướng đánh nhau đến ba mươi hiệp.

Trần Sinh thấy Trương Hổ có vẻ đuối sức, liền phi ngựa ra trợ chiến.

Tôn Sách thấy thế, vội cặp ngọn giáo và nách, giương cung bắn ra một mũi tên, trúng ngay giữa mặt Trần Sinh.

Trần Sinh té nhào xuống ngựa.

Trương Hổ thấy Trần Sinh bị chết một cách độc ngột như vậy, tay chân bủn rủn, bị Hàn Ðương chém một đao bay nửa cái sọ, óc văng ra ngoài.

Thắng thế, Trình Phổ vội tế ngựa sang trận địch, định bắt sống Hoàng Tổ.

Hoàng Tổ không còn tâm trí nào đề nghĩ cánh chống đỡ, vội bở bỏ mũ, bỏ luôn cả ngựa, lẫn trốn vào đám tàn quân tẩu thoát.

Tôn Kiên xua quân chém giết, đuổi đến tận bò sông Hán thủy rồi truyền lệnh gọi Hoàng Cái đem chiến thuyền lên đống ở bến Hán giang, còn Tôn Kiên thì tiếp tục đánh Kinh Tương

Hoàng Tổ thâu thập tàn quân, đến ra mắ Lưu Biểu, nói rõ thế quân của Tôn Kiên mạnh lắm, không sao cự nổi. Lưu Biểu lo sợ, cho triệu Khoái Lương vào bàn. Khoái Lương nói:

– Ta vừa bị thua một trận, quân sĩ đã nản lòng. Vậy chỉ nên đào hào sâu đáp lũy cao cố thủ để tránh mũi giặc, rồi ngầm sai người qua Ký Châu để cầu cứu Viên Bản Sơ giải vây mới được.

Thái Mạo nói:

– Khoái Tử Nhu bàn kế như vậy không xong! Quân giặc nay đã đên sát chân thành mà còn đợi quân cầu cứu, chẳng lẽ chúng ta chờ chết hay sao? Tôi tuy bất tài cũng xinh lãnh binh khai thành quyết một trận tử chiến.

Lưu Biểu thuận lời, Thái Mạo dẫn hơn một vạn quân ra khỏi thành Tương dương, kéo tới chân núi Hiệp sơn bày trận.

Tôn Kiên kéo quân đắc thắng ồ ạt tiến đến. Thấy Thái Mạo cầm quân, Tôn Kiên chỉ vào mặt Thái Mạo nói với các tướng:

– Thằng kia là anh ruột người vợ kế của Lưu Biểu đấy! Ai ra bắt nó cho ta?

Trình Phổ liền vung cây thiết quyền xà mâu đến đánh Thái Mạo.

Thái Mạo mới chỉ đánh đỡ vài hiệp đã đuối sức, quay ngựa chạy dài.

Tôn Kiên xua quân đuổi theo giết quân Kinh tương tơi bời, thây chết nằm ngổn ngang đầy đồng.

Thái Mạo chạy thoát vào thành Tương Dương đóng cửa, không dám nói đến chuyện giao binh.

Khái Lương nói với Lưu Biểu:

– Thái Mạo không nghe lời phải, khiến cho quân đại bại, nay phải chiếu quân luật mà chém đầu làm lệnh.

Lưu Biểu vì mới cưới em gái Thái Mạo, không nỡ gia hình nên bỏ qua việc ấy.

Tôn Kiên kéo quân đến Tương dươntg liền chia quân vây chặct bốn cửa thành, đánh phá dữ dội.

Trong thành cố thủ không ai dám ra đánh.

Bỗng một hôm có trận gió lốc thổi đến làm gãy ngọn cờ “Súy” ở trung quân.

Hàn Ðương thất kinh nói với Tôn Kiên:

-Gãy cờ là điềm chẳng làm, xin Chúa công hãy tạm ban sư.

Tôn Kiên nói:

– Ta đánh trận nào thắng trận ấy, thành Tương dương chỉ sớm tối về tay ta, há vì chuyện gãy cờ mà thu quân sao?

Rồi chẳng nghe lời Hàn Ðương, và thúc quân phá thành càng gấp.

Lúc ấy, ở trong thành, Khoái Lương cũng đang bàn với Lưu Biểu:

– Ðêm qua tôi xem thiên văn thấy một vì tướng tinh sắp sa xuống. Cứ theo phận dã mà đoán thì vì sao ấy ứng vào Tôn Kiên. Vậy Chúa công nên gấp rút viết thư sang cầu cứu Viên Bản Sơ đi.

Lưu Biểu theo lời viết thư sang cầu cứu Viên Thiệu. Nhưng việc phá vòng vây đem thư ra ngoài là việc khó.

Lưu Biểu hỏi các tướng:

– Ai dám xông ra vòng vây địch đem thư nầy đến Ký Châu?

Có một viên kiện tướng là Lữ Công xin lãnh việc ấy. Khoái Lương bảo Lữ Công:

– Ngươi đã có gan đi thì hãy nghe kế của tay đây: Ngươi hãy lựa năm trăm quân thiện xạ, khi ra lọt vòng vây rồi phải chạy ngay đến núi Hiện sơn mà mai phục. Quân giặc thế nào cũng đuổi theo. Ngươi chia một trăm người lên núi tìm những hòn đá dự bị trên cao, một trăm người khác cầm cung tên vào phục trong rừng. Quân giặc đuổi đến nơi, ngươi chớ chạy thẳng mà phải kéo ba trăm quân chạy quanh co, loanh quanh chân núi, để dẫn giặc vào chỗ có mai phục, cho cung tên bắn ra, đá núi tống xuống. Thắng giặc thì đốt pháo liên châu làm hiệu để trong thành đánh ra tiếp ứng. Nếu giặc không đuổi thì đừng đốt pháo, cứ việc lên đường qua Ký Châu. Ðêm nay chắc trăng không sáng lắm đâu. Ðợi lúc nhá nhem tối ngươi dẫn quân ra khỏi thành là vừa.

Lữ Công lãnh kế, sắp sẵn binh mã, chờ lúc trời sẫm tối bí mật mở cửa Ðông kéo ra. Bấy giờ Tôn Kiên đang ngồi trong trướng, bỗng nghe có tiếng quân mã di động, vội lên ngựa dẫn ba mươi tên quân kỵ ra khỏi trại để xem xét. Quân thám mã lại đến báo:

– Có một toán quân từ trong thành vừa thoát ra đang chạy thẳng về phía chân núi.

Tôn Kiên sợ bỏ lỡ cơ hội, vội vã tức tốc đuổi theo, không kịp gọi thêm tướng sĩ, chỉ đem có ba mươi tên quân kỵ có sẵn tới đấy.

Lữ Công bấy giờ đã chia quân lên núi và vào rừng mai phục… Tôn Kiên phóng ngựa chạy quá nhanh, nên chỉ chốc lát đã bỏ xa hẳn ba mươi tên quân kỵ lại phía sau. Thấy đằng trước quân giặc không còn cách bao xa, Tôn Kiên hét lớn:

– Muốn sống thì dừng lại!

Lữ Công quay ngựa lại đánh. Nhưng chỉ đánh được một hiệp, Công lại bỏ chạy, lẻn vào trong đường núi quanh co mà trốn.

Tôn Kiên cứ đuổi theo mãi, nhưng khi đến sau núi thì còn thấy Lữ Công đâu nữa. Kiên toan trèo lên núi nhìn xem thì bỗng đâu một hồi cồng nổi lên vang dậy.

Tức thì đá trên núi ném xuống như mưa và tên trong rừng bắn ra như châu chấu.

Than ôi Tôn Kiên! Thân thể bị tên, đá bắn loạn, đầu vỡ phọc óc, một người một ngựa chết ở chân núi. Năm ấy Tôn Kiên mới ba mươi bảy tuổi.

Lữ Công xuống chặn được cả ba mươi lính kỵ mã của Tôn Kiên, liền đánh giết hết, rồi nổi pháo hiệu.

Trong thành nghe tiếng pháo, Khoái Việt, Hoàng Tổ, Thái Mạo mở cửa thành, chia làm ba đạo quân đánh ra.

Quân sĩ Giang Ðông náo loạn, không biết đường nào mà chạy.

Hoàng Cái đang giữ thuyền nới mé sông, nghe tiếng quân reo vang trời dậy đất, vội dẫn quân kéo lên bờ gặp ngay Hoàng Tổ.

Mới đánh được vài hiệp, Hoàng Cái đã bắt sống được Hoàng Tổ.

Còn Trình Phổ thấy loạn liền hộ vệ tiểu chủ Tôn Sách tìm đường chạy.

Vừa ra khỏi trại gặp ngay Lữ Công, Trình Phổ tế ngựa lại đánh nhau với Công.

Cũng chỉ vài hiệp, Phổ đã đâm Công một xà mâu chết lăn xuống ngựa.

Hai bên đánh nhau đến trời sáng mới thu quân về. Quân Lưu Biểu kéo vào thành.

Còn quân Giang Ðông kéo về Hán thủy.

Bấy giờ, Tôn Sách mới biết tin cha đã chết vì loạn tên, mà thi thể bị quân Kinh châu khiêng vào thành mất. Sách bèn khóc rống lên rất thảm thiết.

Các tướng sĩ cũng đều rơi lệ. Trình Phổ đến khuyên giải, Tôn Sách gạt lệ hỏi chư tướng:

– Bây giờ biết làm cách nào để lấy được thi thể của phụ thân ta đem về cố quận?

Hoàng Cái nói:

– Tôi có bắt dược Hoàng Tổ đây, nên cho một người vào thành giảng hòa với Lưu Biểu, và hẹn đem Hoàng Tổ đổi lấy thi thể Chúa công.

Cái vừa dứt lời, thì viên Quân lại là Hoàn Khải bước ra thưa:

– Trước đây tôi có quen biết với Lưu Biểu, nay xin lãnh việc nầy đi sứ vào thành.

Tôn Sách bằng lòng. Hoàn Khải vào thành ra mắt Lưu Biểu nói rõ việc giảng hòa và trao đổi.

Lưu Biểu nói:

– Thi hài Văn Ðài ta đã cho tẩm liệm tử tế, bỏ vào áo quan rồi. Ngươi về bảo đem Hoàng Tổ đến đây, rồi hai nhà cùng bãi binh, từ nay không xâm phạm bờ cõi nhau nữa.

Hoàng Khải bái tớ ra về, nhưng vừa bước xuống thềm, bỗng có Khoái Lương chạy đến can Lưu Biểu rối rít:

– Không nên! Không nên hòa! Tôi đã có kế lấy Giang Ðông rồi. Xin hãy chém đầu Hoàn Khải trước, rồi sau hãy dụng kế của tôi.

Ðó chính là

Ðuổi địch Tôn Kiên vừa uổng mạng,
Cầu hòa Hoàn Khải lại lâm nguy.

Hồi Thứ Tám

Vương Tư Ðồ Khéo Dụng Liên Hoàn Kế
Ðổng Thừa Tướng Náo Lộng Phượng Nghi Ðình

Khoái Lương nói với Lưu Biểu rằng:

– Ngày nay Tôn Kiên đã chết, các con còn bé, nên thừa thế tiến quân nhanh lên, chỉ đánh một trận là lấy được Giang Ðông. Nếu chúa công trả thây Tôn Kiên và bãi binh về, để cho kẻ thù nuôi dưỡng sức khỏe, đó là cái vạ của Kinh Châu về sau vậy!

Biểu nói:

– Ta còn có Hoàng Tổ ở bên ấy, sao nỡ bỏ được?

Lương nói:

– Bỏ một anh Hoàng Tổ vô mưu, mà lấy được cả Giang Ðông, việc gì mà còn phải cân nhắc?

Biểu lại nói:

– Ta với Hoàng Tổ là bạn tâm phúc với nhau, bỏ y là trái nghĩa.

Biểu cho Hoàn Khải về, hẹn rằng hễ bên ấy tha Hoàng Tổ, thì bên nầy cho đem xác Tôn Kiên về.

Tôn Sách tha Hoàng Tổ, rồi sang rước linh cữu cha về, rút quân về Giang Ðông, táng cha ở gò Khúc A.

Việc tang xong, Tôn Sách dẫn quân về Giang Ðông với người hiền, dùng kẻ sĩ; khéo nhún mình trọng người; hào kiệt bốn phương dần dần kéo đến theo Tôn Sách cả. Trong khi ấy, Ðổng Trác ở Trường An được tin Tôn Kiên đã chết, mừng mà nói rằng:

– Ta trừ được một mối lo lớn trong lòng!

Trác hỏi con Kiên bao nhiêu tuổi, có người thưa mười bảy tuổi. Trác không cho vào đâu; từ bấy giờ lại càng kiêu căng tự xưng là thượng phụ, khi ra khi vào dùng toàn nghi vệ thiên tử. Trác lại phong em là Ðổng Mẫn làm Tả tướng quân, tước vu hầu; cháu là Ðổng Hoành làm Thị Trung, coi cả quân cấm binh. Tôn tộc họ Ðổng chẳng cử già trẻ, ai cũng được phong tước hầu cả.

Cách Trường An 250 dặm, Trác sai đắp một cái thành gọi là My , bắt hai mươi lăm vạn dân phu đắp cao, dày, theo y như kiểu thành Trường An. Trong thành lại làm những cung thất kho tàng, chứa được đủ lương ăn trong hai mươi năm; lại kéo gái thanh tân tám trăm người chứa trong ấy; vàng, ngọc, gấm, vóc, trân châu chất vào không biết bao nhiêu mà kể. Họ hàng Trác đều được đem vào cả trong thành.

Trác thì đi đi về về Trường An, khi nửa tháng một lần, khi một tháng một lần. Công khanh đưa đón thường phải đứng trực ở ngoài cửa Hoành Môn.

Trác nhiều khi đặt trướng ở dọc đường, cùng với công khanh ăn tiệc.

Một hôm Trác ra ngoài cửa Hoành Môn, các quan đi tiễn. Trác mời các quan ở lại uống rượu, đoạn cho gọi mấy trăm hàng binh vừa dụ được ở đất Bắc đến. Trác sai đem ra trước chỗ ăn tiệc, đứa thì đem chặt chân chặt tay, đứa thì đem khoét mắt xẻo mũi, đứa thì đem cắt lưỡi, đứa thì đem bỏ vạc dầu đun. Tiếng kêu khóc vang lừng trời đất.

Các quan đang ăn tiệc, thấy thế người nào người nấy đều run cầm cập, đánh rơi cả đũa. Trác vừa uống rượu vừa cười nói như không.

Lại một hôm khác, Trác ở sảnh đài, hội cả bá quan, ngồi sắp ra hai hàng. Rượu uống được độ vài tuần, thì Lữ Bố đi tắt vào, ghé vào tai Ðổng Trác nói thầm mấy câu, rồi thấy Trác cười mà nói rằng:

– Ạ ra thế!

Nói rồi sai Lữ Bố lôi quan Tư Không, tên là Trương Ôn, đang ngồi dự tiệc, đem xuống nhà dưới. Các quan không biết đầu đuôi thế nào đều thất sắc. Một lát thấy quân hầu bưng lên một cái mâm đỏ, giữa để đầu lâu Trương Ôn. Các quan đều sợ mất vía. Ðổng Trác cười nói:

– Các quan đừng sợ. Trương Ôn kết liên với Viên Thuật, toan hại ta. Nhân hai đứa gửi thư cho nhau, đưa nhầm cho con ta là Lã Ôn Hầu, nên ta mới đem chém. Các quan không có việc gì, đừng sợ.

Các quan dạ dạ rồi lui về.

Quan Tư Ðồ Vương Doãn, hôm ấy về đến phủ, nghĩ đến những việc trông thấy ở trong bữa tiệc, ngồi đứng không yên. Ðến đêm khuya, trăng sáng vằng vặc, Doãn chống gậy đi ra vườn sau, đứng bên cạnh bụi đồ mi, ngẩng mặt lên trời, mà khóc.

Chợt nghe có tiếng người thở dài ở bên cạnh đình Mẫu Ðơn. Doãn rón rén lại nhìn xem ai thì là một con hát trong phủ, tên là Ðiêu Thuyền.

Ðiêu Thuyền từ thuở nhỏ được kéo vào phủ, học múa học hát, bấy giờ mới mười sáu tuổi, đủ cả tài sắc. Doãn thương yêu như con đẻ. Doãn đứng nghe một hồi lâu, mắng rằng:

– Con này đã có tư tình gì đây?

Thuyền quỳ xuống thưa rằng:

– Lạy cha, con đâu có dám tư tình.

Doãn hỏi:

– Không có tư tình thì việc gì canh khuya lại ra đứng đây mà thở vắn than dài?

Thuyền nói:

– Lạy cha! Xin cho con bày tỏ nỗi lòng

Doãn nói:

– Con không được giấu giếm, phải nói cho thực.

Thuyền nói:

– Con nhờ ơn cha nuôi nấng, dạy bảo múa hát, lại được hậu đãi, dù thịt nát xương tan, cũng không báo được muôn một. Gần đây con thấy cha mặt thảm mày chau, tất cha có lo việc lớn gì trong nước, con vẫn không dám hỏi. Nhân chiều hôm nay con thấy cha đứng ngồi không yên, cho nên con cũng buồn rầu mà thở dài, không ngờ cha nghe thấy. Nếu cha có việc gì cần sai bảo đến con, dù chết con cũng không ngại.

Doãn đập gậy xuống đất nói rằng:

– Ai ngờ cơ đồ nhà Hán lại ở trong tay con! Hãy theo cha đến nhà gác cha bảo!

Doãn đến đó, đuổi hết tỳ thiếp ra, dắt Ðiêu Thuyền ngồi lên trên sập, rồi thụp xuống lạy.

Ðiêu Thuyền sợ hãi, cuối rạp xuống đất, thưa rằng:

– Sao cha lại làm thế?

Doãn nói:

– Con hãy thương lấy sinh linh nhà Hán!

Nói rồi khóc như nước suối chảy. Thuyền thưa:

– Vừa rồi con đã thưa, cha có việc gì sai khiến, dẫu chết con cũng không từ.

Doãn lại quỳ xuống nói:

– Hiện nay trăm họ như bị treo ngược, vua tôi ngất ngưởng như trứng chồng, thật nguy cấp, phi con không ai cứu được. Tặc thần Ðổng Trác sắp cướp ngôi vua. Văn võ trong triều không ai nghĩ được kế gì. Ðổng Trác có một đứa con nuôi là Lữ Bố, sức khỏe lạ thường. Ta xem hai tên ấy cùng là tuồng hiếu sắc. Nay ta muốn dùng một kế liên hoàn: trước đem con gả cho Lữ Bố, sau lại đem con dâng cho Ðổng Trác. Con ở trong, tùy cơ lập kế, ly gián hai bố con hắn, xui khiến thế nào cho Lữ Bố giết Ðổng Trác để trừ kẻ đại ác, giữ yên xã tắc, dựng lại giang sơn. Ðó là nhờ ở sức con, con nghĩ thế nào?

Ðiêu Thuyền thưa:

– Con xin thưa, dẫu chết con cũng không từ. Xin đem ngay con dâng cho chúng, con sẽ lập mưu ở trong.

Doãn nói:

– Việc nầy nếu tiết lộ họ nhà ta sẽ chết hết!

Thuyền thưa rằng:

– Xin cha chớ lo. Nếu con không báo đền được nghĩa lớn, con sẽ chết dưới muôn vàn ngọn giáo.

Doãn lạy tạ.

Hôm sau Doãn sai người đem ngọc minh châu, xưa nay vẫn cất kỹ một nơi, gọi thợ khéo, làm một cỗ mũ vàng, mật sai người đem biếu Lữ Bố.

Bố mừng rỡ, thân đến nhà Doãn tạ ơn.

Doãn làm sẵn của ngon vật lạ đợi Bố đến. Doãn ra cửa đón rước vào hậu đường, mời ngồi lên trên.

Bố nói:

– Tôi là một tiểu tướng ở trong phủ, Tư Ðồ là là một vị đại thần trong triều, sao lại quá tôn kính như vậy?

Doãn nói:

– Nay thiên hạ không có ai là anh hùng, tôi chỉ thấy duy có tướng quân mà thôi. Tôi tỏ lòng tôn kính, không phải là tôn kính cái chức tước của tướng quân mà là tôn kính cái tài của tướng quân đó.

Bố mừng lắm, Doãn khẩn khoản mời rượu, khen lấy khen để mãi cái đức Ðổng Thái Sư và cái tài Lữ Bố.

Bố cười vang và uống rượu thỏa thích. Bấy giờ Doãn mới đuổi đầy tạ lui ra, chỉ để vài người tỳ thiếp đứng hầu rượu. Khi Bố ngà ngà say, Doãn mới truyền rằng:

– Gọi con em nó ra đây!

Một lát hai thị tỳ đỡ Ðiêu Thuyền trang điểm thật lộng lẫy bước ra. Lữ Bố trông thấy giật mình, hỏi:

– Người nào vậy?

Doãn nói:

– Ðó là con gái nhỏ của lão, tên là Ðiêu Thuyền. Lão nay được ơn tướng quân có lòng hạ cố mà coi như chỗ chí thân, nên lão sai nó ra để chào tướng quân.

Liền sai Ðiêu Thuyền bưng chén rượu mời.

Thuyền nâng chén rượu mời Bố. Hai bên nhìn nhau, đầu mày cuối mắt.

Vương Doãn giả tảng say, nói:

– Con cố mời tướng quân uống vài chén con nhé! Cả nhà ta đều trông nhờ vào tướng quân đấy.

Bố mời Thuyền ngồi, Thuyền giả cách thẹn thùng, muốn lui vào, Doãn nói:

– Tướng quân là bạn chí thân với ta, con cứ ngồi đừng ngại.

Thuyền khép nép, ngồi bên cạnh Doãn.

Lữ Bố nhìn Thuyền chòng chọc, không chớp mắt, lại uống thêm vài chén.

Doãn mới trỏ tay vào Thuyền mà bảo Lữ Bố rằng:

– Lão vẫn có ý cho nó hầu hạ tướng quân làm tỳ thiếp, chưa biết tướng quân có bụng hạ cố thương đến không?

Bố nghe nói vội vàng đứng dậy, ra ngoài chiếu, tạ mà nói rằng:

– Nếu được như thế, tôi xin một đời làm khuyển mã để báo đáp ơn sâu.

Doãn nói:

– Nay mai xin chọn ngày lành tháng tốt, đưa nó đến phủ tướng quân.

Lữ Bố mừng hớn hở, đưa mắt nhìn Ðiêu Thuyền.

Ðiêu Thuyền cũng liếc mắt đưa tình đáp lại.

Một chốc tiệc tan, Doãn nói:

– Lão phu muốn mời tướng quân nghỉ lại đây chơi, nhưng sợ Thái Sư sinh nghi.

Bố hai ba lần tạ đi tạ lại, rồi lui về.

Ðược vài hôm, Vương Doãn ở trong triều gặp Ðổng Trác, nhân thể không có Lữ Bố ở đấy bèn thụp xuống đất lạy, nói rằng:

– Tôi muốn rước Thái Sư quá bước lại nhà tôi xơi chén rượu, nhưng không biết Thái Sư có lòng hạ cố chăng?

Trác nói:

– Ðược quan Tư Ðồ mời, tôi xin đến ngay.

Doãn lạy tạ, về nhà trang hoàng nhà cửa lịch sự, bày đủ các món sơn hào hải vị; giữa gian sảnh, kê một cái sạp : gấm vóc rải cả xuống đất, trong ngoài trướng rủ màn che.

Buổi trưa hôm sau, Ðổng Trác đến, Doãn mặc áo đại trào ra đón, lạy hai lạy rồi mời vào.

Trác xuống xe, tả hữu hơn một trăm người vác kích đi thẳng vào nhà, đứng xếp thành hai hàng. Doãn xuống dưới thềm lạy hai lạy. Trác sai người dắt Doãn lên ngồi bên cạnh.

Doãn nói:

– Công đức Thái Sư to lắm! Y Doãn, Chu Công ngày xưa cũng không bằng!

Trác mừng lắm. Doãn sai tấu nhạc và dâng rượu, rất là cung kính. Ðến chiều Trác uống rượu đã say, Doãn mời Trác vào nhà trong. Trác quát giáp sĩ lui ra. Doãn bưng một chén rượu, mừng Trác rằng:

– Chúng tôi thuở nhỏ có học thiên văn, đêm xem tượng trời, thấy khí số nhà Hán đã hết. Thái Sư công đức đã vang lừng cả thiên hạ. Ngày xưa, vua Thuấn nối ngôi vua Nghiêu, vua Vũ nối ngôi cho Thuấn. Thế là hợp lòng trời và lòng người lắm.

Trác nói:

– Ta có đâu dám mong như thế!

Doãn nói:

– Xưa nay người có đạo thay người vô đạo, người không có đức nhường người có đức, có gì là không đúng.

Trác cười và nói rằng:

– Nếu mệnh trời về ta, Tư Ðồ phải làm nguyên huân.

Doãn lại tạ.

Bấy giờ đèn nến đốt sáng choang, chỉ có mấy đứa hầu gái đứng hầu rượu và dâng đồ ăn.

Doãn nói:

– Phường nhạc không đáng đem ra cung phụng Thái Sư. Nay có một con hát của nhà, xin Thái Sư cho phép được gọi ra hầu.

Trác nói:

– Hay lắm!

Doãn mới sai kéo bức màn ra, đàn sáo vang lừng, Ðiêu Thuyền đứng ở ngoài mành lượn múa dịu dàng, ở ngoài trông vào thực là ngoạn mục.

Có bài ca khen Ðiêu Thuyền như sau:

Người ở cung Chiêu Dương đó nhỉ

Cánh hồng bay phớn phở trên tay

Ðộng Ðình chừng đã qua bay.

Lương Châu vỗ nhịp nhẹ giầy gót sen

Một cành gió tả hoa mềm

Mùi hương ngào ngạt dày thềm vẻ xuân

Lại có một bài thơ nữa khen rằng:

Én liệng la đà nhịp phách ngà,

Mây bay một áng diễu thềm hoa.

Mày ngài gợi khách sầu man mác.

Vẻ ngọc xui người dạ thiết tha,

Hồ dễ ngàn vàng mua được miệng,

Lọ cùng trăm báu xức vào da?

Rèm cao múa đoạn ai nhìn trộm

Nào biết Tương vương mấy kẻ là!

Ðiêu Thuyền múa xong. Trác gọi lại gần.

Ðiêu Thuyền ở ngoài thềm đi vào, lạy hai lạy.

Trác thấy Ðiêu Thuyền dung nhan xinh đẹp bèn hỏi Doãn:

– Con bé nầy là thế nào?

Vương Doãn thưa:

– Bẩm, nó là con hát ở phủ, tên là Ðiêu Thuyền.

Trác hỏi:

– Biết hát không?

Doãn sai Ðiêu Thuyền gõ nhịp hát một bài.

Thật là:

Môi son hé nở cánh đào tân

Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân

Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc

Rắp toan chém cổ kẻ gian thần!

Ðổng Trác khen nức nở.

Doãn sai Thuyền dâng rượu.

Trác cầm lấy chén rượu hỏi rằng:

– Xuân xanh năm nay bao nhiêu?

Thuyền thưa:

– Tuổi tiện thiếp vừa đôi tám.

Trác cười nói rằng:

– Thật là người chốn thần tiên!

Doãn đứng dậy thưa rằng:

– Chúng tôi có ý định muốn dâng lên Thái Sư, không biết Thái Sư có nhận cho không.

Ðổng Trác nói:

– Ơn ấy ta biết lấy gì báo lại.

Doãn nói:

– Nếu nó được hầu hạ Thái Sư thì thực phúc cho tôi lắm.

Trác cảm tạ hai ba lần. Doãn lập tức sai đưa Ðiêu Thuyền đến tướng phủ. Trác đứng dậy cáo từ. Doãn đi tiễn Trác đến tận phủ rồi mới về.

Doãn cưỡi ngựa về đến xấp nữa đường, trông thấy hai bên đường có đèn đỏ, ở giữa là Lữ Bố, cưỡi ngựa cầm kích đi lại. Lúc Vương Doãn đến, Bố dừng ngựa, một tay nắm lấy áo Vương Doãn rồi hỏi to rằng:

– Tư Ðồ đã gả Ðiêu Thuyền cho ta, nay lại đem Ðiêu Thuyền dâng cho Thái Sư, sao lại đùa như thế?

Doãn vội vàng ngăn Lữ Bố, nói rằng:

– Nói chuyện ở đây không tiện, xin ngài hãy quá bước lại nhà lão phu.

Bố theo Doãn về. Hai người dắt nhau vào nhà trong. Chào hỏi xong, Doãn nói:

– Sao tướng quân lại trách lão?

Bố nói:

– Có người nói vại ta rằng Tư Ðồ dùng xe đưa Ðiêu Thuyền vào tận tướng phủ, là cớ làm sao?

Doãn thưa:

– Rõ khổ, tướng quân không biết! Hôm qua ở triều, Thái Sư bảo tôi rằng:

-Ta có một việc phải đến nhà ngươi.

Vậy tôi mới sửa soạn tiệc nhỏ đón tiếp.

Trong khi uống rượu, Thái Sư hỏi:

-Ta nghe ngươi có con gái tên là Ðiêu Thuyền, đã gả cho con ta là Lã Phụng Tiên. Có thực không? Ðem con lão ra đây cho ta coi!

Tôi không dám không vâng lệnh, phải gọi Ðiêu Thuyền ra lạy bố chồng.

Thái Sư lại truyền rằng:

-Hôm nay tốt ngày, để ta đem Ðiêu Thuyền về cho Phụng Tiên!

Tướng quân thử nghĩ xem: Thái Sư thân hành đến nơi truyền bảo, lão phu sao dám gàn trở!

Lữ Bố nói:

– Quan Tư Ðồ không có lỗi gì, tôi trót nghĩ lầm, ngày mai tôi xin mang roi đến chịu tội.

Doãn lại nói:

– Con tôi có ít nhiều đồ nữ trang. Khi nào nó về phủ tướng quân, tôi sẽ mang đến.

Lữ Bố tạ, rồi về.

Sáng hôm sau, Bố ở nhà nghe ngóng, chẳng thấy tin tức gì, bèn sang tướng phủ, vào thẳng nhà trong hỏi tin những người hầu.

Một người thưa:

– Ðêm qua Thái Sư cùng nghỉ với người hầu mới, bây giờ chưa dậy.

Bố giận lắm, lẻn vào sau buồng nằm của Ðổng Trác để dò xem.

Bấy giờ Ðiêu Thuyền đã dậy rồi, đang ngồi trong cửa sổ chải đầu, chợt trông xuống ao trước cửa sổ, thấy bóng người cao lớn, đầu đội mũ bịt tóc, biết ngay là Lữ Bố, Ðiêu Thuyền cố ý chau ngay đôi mày, làm ra dáng buồn bã, tay cầm khăn thỉnh thoảng nâng lên lau nước mắt.

Lữ Bố đứng nhìn hồi lâu rồi trở ra, một lát lại vào.

Ðổng Trác ngồi ở trung đường, thấy Bố đến, hỏi rằng:

– Ở ngoài không có việc gì chứ?

Bố thưa:

– Không.

Rồi đứng hầu một bên. Trác ăn cơm, Bố liếc mắt dòm trộm, thấy trong rèm có người con gái đi đi lại lại, hơi thò nửa mặt ngoảnh ra ngoài, liếc mắt đưa tình. Bố biết là Ðiêu Thuyền, tâm thần mê mẩn.

Trác nhìn thấy dáng điệu của Bố như vậy, trong lòng nghi hoặc liền bảo rằng:

– Phụng Tiên không có việc gì, hãy lui ra!

Lữ Bố bực tức trở ra.

Trác từ khi được Ðiêu Thuyền, hơn một tháng trời không coi đến việc quan. Một bữa Trác hơi khó ở, Ðiêu Thuyền hết lòng hầu hạ, mặc áo không lúc nào cởi đai, cố ý chiều chuộng. Trác lại càng yêu quý hơn nữa.

Một hôm Lữ Bố vào hỏi thăm, gặp lúc Ðổng Trác đang ngủ, Ðiêu Thuyền đứng ở sau giường thò nửa người ra, trông thấy Bố, lấy tay trỏ vào tim mình rồi lại trỏ vào Ðổng Trác, và luôn luôn gạt nước mắt.

Bố cảm thấy ruột như nát ra.

Trác nằm, hai mắt lim dim, thấy Bố nhìn chòng chọc về phía sau chỗ mình nằm, quay lại thì thấy Ðiêu Thuyền đứng ở sau giường. Trác nổi giận mắng Bố rằng:

– Mày ghẹo vợ yêu của tao à?

Bèn sai tả hữu đuổi Lữ Bố ra và từ nay cấm vào nhà trong.

Lữ Bố tức giận trở về, đi đường gặp Lý Nho, kể lại đầu đuôi.

Nho lập tức vào ra mắt Ðổng Trác, nói rằng:

– Thái Sư muốn lấy thiên hạ, sao lại vì một việc nhỏ mọn mà trách mắng Lã Ôn Hầu. Nếu y thay lòng đổi dạ, việc lớn hỏng mất.

Trác hỏi:

– Bây giờ nên làm thế nào?

Nho nói:

– Sớm mai gọi y vào, cho vàng lụa, dùng lời ngọt ngào an ủi y, thì sẽ không có việc gì xảy ra nữa.

Trác nghe lời, hôm sau cho gọi Lữ Bố vào nhà trong bảo rằng:

– Hôm qua trong cơn đau yếu, tinh thần hoảng hốt ta có nói mấy câu, nhà ngươi đừng để bụng.

Nói rồi, sai đưa cho Lữ Bố mười cân vàng và hai mươi tấm gấm.

Bố lạy tạ rồi về, nhưng từ lúc ấy tuy đứng hầu ở bên Ðổng Trác, mà ruột gan lúc nào cũng vơ vẩn chung quanh Ðiêu Thuyền.

Khi Trác đã khỏi bệnh, vào triều bàn việc, Bố vẫn cầm kích đi theo.

Một bửa, Trác đang ngồi bàn việc với vua Hiến Ðế, Bố vác kích lẻn ra cửa sau, lên ngựa chạy đến tướng phủ, buộc ngựa ở cửa phủ, cầm kích vào thẳng hậu đường, để tìm Ðiêu Thuyền.

Thuyền bảo:

– Hãy ra vườn sau bên đình Phượng Nghi đợi thiếp!

Bố vác kích đi trước, đứng bên bao lơn ở dưới đình chờ một hồi lâu, thấy Ðiêu Thuyền rẽ hoa gạt liễu đi đến, chẳng khác gì tiên trên cung trăng.

Thuyền sụt sùi khóc bảo Bố rằng:

– Tiện thiếp tuy không phải Vương Tư Ðồ sinh ra, nhưng Tư Ðồ coi thiếp như con đẻ. Từ khi gặp tướng quân được nhận cho làm kẻ nâng khăn sửa túi thiếp đã lấy làm mãn nguyện lắm. Ngờ đâu Thái Sư đem lòng bất lương, làm ô nhục thiếp, thiếp giận không chết ngay được, chỉ vì chưa gặp được tướng quân để từ giả lần cuối cùng, cho nên còn nhịn nhục sống đến bây giờ. Nay may được gặp nhau, thế là hả rồi. Tấm thân đã nhơ nhuốc này không xứng đáng thờ người anh hùng, thiếp xin chết ở trước mặt chàng để tỏ rõ tấm lòng thiếp!

Ðiêu Thuyền nói xong, tay vịn bao lơn, mắt nhìn ra ao sen, định nhảy xuống.

Lữ Bố vội vàng ôm ngay lấy Ðiêu Thuyền, khóc nói rằng:

– Lòng nàng tôi biết đã lâu, chỉ hiềm chưa được nói với nhau đấy thôi!

Ðiêu Thuyền gạt tay Lữ Bố ra, nói rằng:

– Kiếp này thiếp không được làm vợ chàng, xin hẹn để kiếp sau!

Lữ Bố nói:

– Nếu kiếp nầy không lấy được nàng, tôi không phải là người anh hùng nữa.

Ðiêu Thuyền nói:

– Thiếp coi một ngày dài bằng một năm, xin chàng thương mà cứu vớt.

Bố nói:

– Tôi lên đến đây, sợ thằng giặc già nó nghi, tôi phải đi ngay.

Thuyền lôi vớt áo Lữ Bố lại nói rằng:

– Chàng còn sợ thằng giặc già như thế, thiếp này không còn mong có ngày nào được trông thấy trời và đất nữa!

Bố dừng lại nói rằng:

– Ðừng vội vàng, để tôi nghĩ cách đã.

Nói rồi vác kích định đi ra.

Ðiêu Thuyền níu lại nói rằng:

– Khi tôi ở chốn buồng đã được nghe tiếng tướng quân, lừng lẫy như sấm rót vào tai, tưởng rằng ở đời này chỉ có một người như thế chớ không có hai. Ai ngờ tướng quân lới chịu dưới quyền áp chế của người khác!

Nói rồi, nước mắt chảy xuống như mưa.

Lữ Bố thẹn đỏ cả mặt, dựa kích một chỗ, quay lại ôm lấy Ðiêu Thuyền, dỗ dành an ủi. Hai người quấn quấn quýt quýt không nỡ buông nhau ra.

Ðổng Trác ở trên điện, bỗng ngoảnh lại không thấy Lữ Bố trong bụng nghi ngay, vội vàng xin cáo từ lên xe về phủ. Thấy ngựa của Bố buộc trước cửa phủ. Trác bèn hỏi lính canh cửa. Lính canh nói:

– Ôn Hầu vào nhà sau.

Trác mắng quân canh cửa, đi thẳng ngay vào hậu đường, không thấy Lữ Bố, Trác gọi Ðiêu Thuyền cũng không thấy thưa. Trác hỏi người hầu gái. Người hầu gái thưa:

– Ðiêu Thuyền ở trong vườn sau ngắm hoa.

Trác vào vườn sau tìm, thấy Lữ Bố và Ðiêu Thuyền đang nói chuyện với nhau ở bên Ðình Phượng Nghi, họa kích dựng một bên.

Trác giận quát to một tiếng.

Bố thấy Trác đến, cả sợ, quay đầu chạy.

Trác vớ ngay lấy ngọn họa kích đuổi theo. Bố chạy nhanh, Trác béo phục phịch, đuổi không kịp, bèn cầm kích ném theo Lữ Bố. Bố gạt rơi xuống đất. Trác nhặt kích lại đuổi, nhưng Bố đã chạy xa. Trác đuổi ra tận cửa vườn, thì một người xăm xăm chạy đến, đâm sầm ngay vào Ðổng Trác. Trác ngã quay xuống đất.

Thế rõ thực là:

Khi căm xông thẳng trên mây tía.
Mình béo lăn kền đến đất đen.

Chưa biết người ấy là ai, xem hồi sau mới rõ.

Hồi Thứ Chín

Trừ Hung Bạo, Lữ Bố Giúp Tư Ðồ
Chiếm Trường An, Lý Thôi Nghe Giả Hủ

Người đi va vào Ðổng Trác, tức là Lý Nho.

Nho thấy Trác ngã, vội vàng đỡ Trác đứng dậy, dìu vào ngồi trong thư viện.

Trác hỏi Lý Nho:

– Ngươi đến đây làm gì?

Lý Nho thưa:

– Tôi chợt qua cửa phủ, thấy nói Thái Sư giận đi vào vườn sau tìm Lữ Bố, tôi vội vàng chạy vào, thì gặp Lữ Bố chạy ra, kêu lên rằng: Thái Sư giết ta. Bởi thế tôi hấp tấp vào đây để can ngăn Thái Sư, chẳng may chạm phải Thái Sư, thật đáng tội chết!

Trác nói:

– Không thể tha được thằng nghịch tặc ấy! Hắn dám đùa bỡn ái cơ của ta. Thế nào ta cũng giết chết hắn mới nghe.

Lý Nho can rằng:

– Thái Sư không nghĩ cho chín; ngày xưa vua Trang Vương nước Sở, trong bữa tiệc “Dứt dải mũ” đã tha tội cho Tưởng Hùng đã đùa bỡn với người vợ yêu đến sau bị binh nhà Tần làm khốn, được Tưởng Hùng cố sức liều chết cứu thoát được. Nay Ðiêu Thuyền chẳng qua là một đứa con gái mà Lữ Bố là một mãnh tướng tâm phúc của Thái Sư, nếu Thái Sư nhân dịp này đem Ðiêu Thuyền cho Bố, chắc Bố cảm ơn lắm, lấy chết báo lại Thái Sư, xin Thái Sư nghĩ đi nghĩ lại.

Trác nghĩ ngợi hồi lâu rồi nói rằng:

– Ngươi nói cũng phải, để ta nghĩ kỹ xem.

Lý Nho từ tạ rồi ra.

Trác vào ngay hậu đường gọi Ðiêu Thuyền ra hỏi rằng:

– Sao ngươi có tư tình với Lữ Bố?

Ðiêu Thuyền khóc thưa rằng:

– Thiếp đang đứng xem hoa, bỗng Lữ Bố đột ngột ở đâu đến. Thiếp vội vàng toan tránh. Bố nói: Tôi là con Thái Sư, việc gì phải tránh? Rồi y cầm kích ép thiếp đến Ðình Phượng Nghi. Thiếp thấy y có lòng bất lương, sợ xâm phạm tại mình thiếp, định đâm đầu xuống ao sen tự vận, nhưng lại bị y ôm chặt lấy. Ðang lúc giằng co không biết sống chết thế nào, may có Thái Sư chạy lại cứu được tính mệnh.

Trác lại hỏi:

– Nay ta đem ngươi gả cho hắn, ngươi có thuận không?

Ðiêu Thuyền giật mình, khóc rằng:

– Thiếp đã được vào hầu quý nhân, nay lại đem gả cho thằng ở, thiếp thà chết chứ không chịu được nhục này!

Bèn rút ngay thanh bảo kiếm treo ở vách, toan tự vẫn.

Trác vội vàng giằng lấy thanh kiếm, ôm chặt lấy Ðiêu Thuyền và nói rằng:

– Ta nói bỡn đấy mà!

Thuyền nằm vào lòng Trác, bưng mặt khóc rằng:

– Ðây hẳn là mẹo của Lý Nho, Nho với Bố hai đứa là bạn thân với nhau, nên Nho mới bày ra mẹo này, không kể gì đến thể diện của Thái Sư và tính mệnh của tiện thiếp, thiếp phải xẻ thịt chúng nó ra.

Trác nói:

– Ta sao nỡ bỏ nàng.

Ðiêu Thuyền lại nói:

– Thái Sư dẫu có lòng thương yêu, cũng không nên ở đây lâu, sợ bị Lữ Bố làm hại.

Trác dỗ dành Ðiêu Thuyền rồi nói rằng:

– Ngày mai chúng ta về My , cùng hưởng sung sướng, đừng lo gì nữa.

Thuyền mới lau nước mắt lạy tạ.

Hôm sau Lý Nho vào ra mắt, nói rằng:

– Hôm nay tốt ngày Thái Sư nên đem Ðiêu Thuyền gả cho Lữ Bố.

Trác nói:

– Chuyện ấy ta đã nghĩ rồi. Lữ Bố với ta là quan hệ cha con, làm thế không tiện. Ta tha tội cho Bố, ngươi nên truyền đạt cho Bố biết ý ta và tìm lời an ủi Bố, thế là được rồi!

Nho nói:

– Thái Sư đừng dễ mê hoặc vì một người đàn bà.

Trác giận đổi sắc mặt mắng rằng:

– Thế thì vợ con ngươi, ngươi có đem cho hắn không? Việc Ðiêu Thuyền cấm được nói động đến nữa, còn nói ta sẽ chém đầu.

Lý Nho trở ra, ngẩng mặt lên trời than rằng:

– Lũ chúng ta chết cả về tay người đàn bà!

Ðời sau có thơ rằng:

Tư Ðồ khéo mượn khách má đào,
Chẳng dùng gươm giáo, chẳng dùng dao
Hổ Lao ba trận hoài bao sức,
Phượng Nghi chiến thắng ấy lạ sao!

Ngày hôm ấy Ðổng Trác hạ lệnh về My , trăm quan đều đi tống tiễn. Ðiêu Thuyền ngồi trên xe, xa trông thấy Lữ Bố đứng ở trong đám đông người, mắt nhìn vào trong xe.

Thuyền giả cách che mặt làm ra dáng đau khổ bi thảm.

Xe đã đi xa. Lữ Bố còn cầm cương ngựa đứng trên gò đất, nhìn đám bụi mù mịt than tiếc bực dọc. Chợt nghe sau lưng có người hỏi rằng:

– Ôn Hầu sao không theo Thái Sư đi, lại đứng đấy nhìn xe mà than thở?

Bố quay đầu lại xem ai, thì ra là Tư Ðồ Vương Doãn.

Chào hỏi xong, Doãn nói:

– Tôi mấy bữa nay, hơi khó ở, không đi đâu, cho nên chưa có dịp gặp tướng quân. Bữa nay Thái Sư về My , nên tôi phải gượng ra tiễn, may sao lại gặp tướng quân. Xin hỏi tướng quân làm sao lại đứng đây thở than?

Bố nói:

– Chỉ vì con gái ông đấy!

Doãn giả cách thất kinh hỏi rằng:

– Từ hôm ấy đến nay con tôi vẫn chưa về với tướng quân à?

Bố nói:

– Thằng giặc già ấy lấy làm thiếp của hắn đã lâu rồi!

Doãn lại giả cách thất kinh:

– Không ngờ lại như thế!

Bố bèn đem chuyện kể lại đầu đuôi cho Vương Doãn nghe. Vương Doãn mặt ngửa lên trời, chân dẫm xuống đất, thừ người ra không nói gì. Mãi hồi lâu, Doãn mới nói rằng:

– Không ngờ Thái Sư lại làm việc cầm thú ấy…

Rồi kéo tay Lữ Bố, nói rằng:

– Xin tướng quân hãy đến nhà tôi nói chuyện.

Bố theo Doãn về, Doãn mời Bố vào nhà trong kín đáo, sai làm rượu khoản đãi.

Bố lại đem việc gặp Ðiêu Thuyền ở Ðình Phượng Nghi kể hết đầu đuôi cho Doãn nghe.

Doãn nói:

– Thái Sư làm nhục con gái tôi, cướp vợ tướng quân. Thiên hạ người ta sẽ chê cười cho, nhưng người ta không chê cười Thái Sư đâu mà người ta chỉ chê cười tướng quân và tôi thôi. Tôi già yếu chẳng kể làm gì, chỉ tiếc thay tướng quân là bậc anh hùng tiếng tăm lừng lẫy một đời, mà phải chịu cái nhục này.

Bố nghe nói, cơn giận bốc lên bừng bừng, nắm tay đấm xuống bàn, kêu một tiếng thật to.

Doãn vội vàng nói rằng:

– Lão trót lỡ lời… xin tướng quân nguôi giận!

Bố nói:

– Ta thề sẽ giết chết thằng giặc già ấy để rửa nhục.

Doãn vội vàng lấy tay bưng miệng Bố can rằng:

– Tướng quân chớ nói, nhỡ ra có liên lụy đến lão.

Bố nói:

– Ðại trượng phu sinh ra trong trời đất, lẽ đâu lại cứ ngậm ngùi chịu làm tôi tớ người khác mãi ru!

Doãn nói thêm một câu rằng:

– Tài như tướng quân thì sao Thái Sư có thể kìm hãm được.

Bố lại nói:

– Tôi muốn giết thằng giặc già ấy, nhưng ngại rằng còn vương tình cha con, sợ người sau chê cười chăng?

Doãn tủm tỉm cười nói rằng:

– Tướng quân họ Lữ, mà Thái Sư họ Ðổng, thử hỏi lúc Thái Sư cầm kích lao tướng quân ở Ðình Phượng Nghi, liệu còn có tình cha con không?

Bố hăng hái đứng lên nói rằng:

– Nếu Tư Ðồ không dạy tôi câu ấy, suýt nữa tôi lầm.

Doãn thấy Lữ Bố đã quyết tâm giết Trác bèn bảo Lữ Bố rằng:

– Giúp nhà Hán, tướng quân mới thực là trung thần để tiếng trong sử xanh mãi mãi. Nếu tướng quân giúp Ðổng Trác thì là phản thần, sẽ để tiếng xấu muôn đời.

Bố đứng dậy lạy Vương Doãn nói rằng:

– Ý tôi đã quyết rồi. Tư Ðồ không nên nghĩ nữa.

Doãn nói:

– Tôi sợ việc không xong thì vạ to.

Bố liền rút con dao đeo ở mình, đâm một nhát vào cánh tay, chảy máu ra để thề.

Doãn quỳ xuống lạy tạ, nói rằng:

– Hương hỏa nhà Hán, nay không đến nỗi mất, đều là ơn tướng quân giữ kín, đừng để tiết lộ ra. Khi nào việc đến nơi tôi sẽ có mưu kế. Lúc đó tôi sẽ xin báo cho tướng quân biết.

Bố khẳng khái nhận lời rồi trở ra.

Doãn lập tức mời quan Bộc Sa là Sĩ Tôn Thụy, quan Tư Lệ Hiệu Úy là Hoàng Uyển đến để bàn việc ấy.

Thụy nói:

– Nay vua mệt mới khỏi, nên sai một người nói khéo đến Mỵ mời Trác vào đây để bàn việc nước. Một mặt lấy mật chiếu của thiên tử trao cho Lữ Bố, sai phục quân trong cửa triều, đợi Trác vào đến nơi sẽ giết đi. Chước ấy là hơn cả.

Uyển nói:

– Nhưng có ai dám đi mời không?

Thụy nói:

– Có quan Kỵ Ðô Úy Lý Túc là người cùng quận với Lữ Bố. Vì Trác không thăng chức cho, vẫn mang bụng oán tức, ta sai người ấy đi chắc Trác không nghi ngờ

Doãn cho là phải, bèn mời Lữ Bố đến nhà bàn bạc.

Bố nói:

– Ngày xưa xui ta giết Ðinh Nguyên cũng là người ấy. Nay hễ sai mà không đi, ta sẽ chém ngay trước.

Các quan mật sai mời Lý Túc đến. Bố bảo Túc:

– Xưa ông xui tôi giết Ðinh Kiến Dương để về với Ðổng Trác. Nay Ðổng Trác trên dối thiên tử, dưới hại sinh linh, tội ác đã nhiều, cả người và thần đều giận. Vậy ông hãy mang chiếu thiên tử, triệu Trác vào chầu, rồi ta phục binh giết nó đi, cố giúp nhà Hán, cùng làm trung thần nghĩa sĩ, ông tính thế nào?

Túc nói:

– Tôi cũng muốn trừ thằng giặc ấy đã lâu, hiềm vì chưa gặp ai cùng lòng. Nay tướng quân có bụng ấy, là trời giúp tôi đó. Tôi sao dám hai lòng?

Nói đoạn Túc bẻ một cái tên ra thề.

Doãn nói:

– Ông làm nổi việc này, lo gì chẳng được quyền cao chức trọng.

Hôm sau Túc dẫn vài mươi tên kỵ mã đến My , sai người báo tin cho Trác rằng có chiếu thiên tử đến. Trác cho mời vào, Lý Túc vào lạy, Trác nói:

– Thiên tử có chiếu gì?

Túc thưa:

– Thiên tử vừa mệt khỏi, muốn hội văn võ ở cung Vị Ương để bàn nhường ngôi cho Thái Sư, nên sai tôi cầm chiếu này đến đây.

Trác hỏi:

– Ý Vương Doãn thế nào?

Túc thưa:

– Vương Tư Ðồ đã sai người đắp đền thụ thiện, chỉ mong đợi Thái Sư về.

Trác mừng rỡ nói rằng:

– Thảo nào đêm ta nằm mộng thấy một con rồng quấn vào mình. Hôm nay quả nhiên có tin mừng. Dịp này không nên để lỡ.

Bèn sai bốn tướng tâm phúc là Lý Thôi, Quách Di, Trương Tế, Phàn Trù lĩnh ba ngàn quân phi hùng giữ My rồi ngay hôm ấy sắp xe kiệu vào kinh.

Trác ngoảnh lại bảo Lý Túc:

– Hễ ta làm vua thì cho ngươi làm chức Chấp Kim Ngô.

Túc lạy tạ, xưng thần.

Trác vào từ giả mẹ. Mẹ Trác bấy giờ đã hơn chín mươi tuổi, hỏi Trác:

– Con đi đâu?

Trác nói:

– Con sắp đi nối ngôi vua nhà Hán. Nay mai mẹ sẽ lên làm Hoàng thái hậu đấy.

Mẹ Trác nói:

– Ta mấy hôm nay cứ nóng ruột giật mình, sợ không phải điềm hay!

Trác nói:

– Mẹ sắp làm quốc mẫu, chẳng trách giật mình!

Nói rồi từ giã mẹ. Ðến lúc đi, bảo Ðiêu Thuyền rằng:

– Ta làm thiên tử, sẽ lập nàng làm quý phi.

Ðiêu Thuyền đã biết rõ mọi chuyện, giả cách hớn hở mừng rỡ, lạy tạ.

Trác lên xe về Trường An, quân sĩ đi tiễn tiền hô hậu ủng. Ði chưa được ba mươi dặm, tự nhiên xe gẫy một bánh. Trác xuống xe cưỡi ngựa, đi chưa được mười dặm, ngựa tự dưng lồng lên gầm thét dữ tợn, lôi đứt dây cương.

Trác hỏi Lý Túc:

– Xe gẫy bánh, ngựa đứt dây cương, là điềm thế nào?

Túc nói:

– Thế là cái điềm Thái Sư nối ngôi nhà Hán, thay cũ đổi mới. Từ nay Thái Sư sẽ ngồi kiệu ngọc yên vàng.

Trác nghe lấy làm lọt tai.

Hôm sau đương đi bỗng có cơn gió dữ nổi lên ầm ầm, mây kéo nghịt trời, Trác lại hỏi Túc:

– Thế là điềm gì?

Túc nói:

– Chúa công sắp lên ngôi rồng, cho nên mới có những ráng hồng mây tía, để thêm oai trời.

Trác lại mừng không lo gì nữa.

Khi Ðổng Trác đến Trường An, trăm quan đều ra đón rướt, duy có Lý Nho cáo bệnh ở nhà không ra đón.

Trác đến tướng phủ, Lữ Bố vào mừng.

Trác nói:

– Hễ ta làm vua, Phụng Tiên sẽ thống lĩnh cả binh mã trong thiên hạ.

Bố lạy tạ rồi nghỉ ngay ở dưới trướng.

Ðêm hôm ấy, có một lũ trẻ đi ngoài đường hát rong, gió đưa tiếng hát vào tận màn.

Hát rằng:

Thiên lý thảo
Hà thanh thanh
Thập nhật bốc

Bất đắc sinh!
(Cỏ ngàn dặm
Sao xanh xanh?
Trên mười ngày
Chẳng được sống)

Tiếng hát nghe thực ai oán.

Trác nghe thấy mới hỏi Lý Túc:

– Trẻ hát như thế, hay dở thế nào?

Túc thưa:

– Thế nghĩa là họ Lưu sắp mất, họ Ðổng sắp lên.

Mờ mờ sáng hôm sau Trác sai bày ghi vệ, rồi bắt kẻ hầu người hạ, đi theo vào trong triều. Bỗng thấy một đạo quân áo xanh, khăn trắng, tay cầm một cái sào dài trên buộc mảnh vải dài một trượng, hai đầu viết hai chữ khẩu .

Trác lại hỏi Lý Túc:

– Người ấy là người thế nào?

Túc nói:

– Hắn là một thằng rồ.

Rồi bảo tướng sĩ cứ việc đẩy xe đi.

Trác vào đến triều, các quan đều mặc áo trào, đứng đón cả hai bên đường. Lý Túc tay cầm thanh bảo kiếm, vịn xe Ðổng Trác đẩy đi. Ðến cửa Bắc Dịch, quân sĩ đều bị ngăn cả lại ở ngoài cửa, chỉ có hai mươi người được đẩy xe đi vào.

Trác vào khỏi cửa, thấy bọn Vương Doãn, ai nấy đều cầm kiếm đứng ở điện, sợ hỏi Lý Túc:

– Họ cầm kiếm là ý gì?

LÝ Túc không trả lời, cứ việc đẩy xe thẳng vào.

Vương Doãn bấy giờ mới thét to lên rằng:

– Phản tặc đã đến đây, võ sĩ đâu?

Hai bên hơn một trăm võ sĩ kéo ra, người cầm gươm, kẻ vác dao, cùng đổ xô lại đâm Ðổng Trác. Trác mặc áo giáp ở trong, giáo đâm không thủng, chỉ bị thương ở tay, ngã xuống xe, Trác gọi to lên rằng:

– Con ta Phụng Tiên đâu?

Lữ Bố đứng ở đằng sau, nghe thấy gọi đến tên, bèn thét to lên một tiếng rồi chạy ra nói rằng:

– Nay ta vâng chiếu vua giết thằng giặc này!

Một ngọn kích đâm trúng ngay cổ họng Ðổng Trác, Lý Túc liền cắt đầu Trác, lấy tay xách lên.

Lữ Bố tay trái cầm kích, tay phải thò vào bọc, lấy tờ chiếu ra, nói to lên rằng:

– Phụng chiếu vua, giết được tặc thần là Ðổng Trác rồi, còn các người khác tha cho cả!

Các tướng sĩ đều reo:

– Vạn tuế!

Ðời sau có thơ rằng:

Bá nghiệp thành công hóa đế vương
Không thành cũng vẫn được giàu sang
Ai biết lòng trời không thiên vị
My thành ra đất nát hoang.

Lữ Bố lại hô lên rằng:

– Giúp Ðổng Trác làm điều tàn ngược, đều tự Lý Nho cả, ai đi bắt nó cho ta?

Lý Túc xin đi.

Chợt có tiếng reo ngoài cửa triều rồi có người vào báo rằng:

– Người nhà Lý Nho đã trói Lý Nho đem lại nộp.

Vương Doãn sai điệu Lý Nho ra chợ chém; rồi lại sai đem đầu và thây Ðổng Trác đi diễu, loan báo khắp các ngả đường cho mọi người cùng biết.

Thây Trác to béo, quân sĩ lấy mồi cắm vào rốn đốt lửa làm đèn, mỡ chảy đầy cả ra đường cái; nhân dân ai đi qua cũng lấy gạch đá ném vào đầu, lấy chân đạp vào thây.

Vương Doãn lại sai Lữ Bố cùng với Hoàng Phủ Tung, Lý Túc lĩnh năm vạn quân đến My bắt người nhà Ðổng Trác và tịch biên gia sản.

Lý Thôi, Quách Dĩ, Trương Tế, Phàn Trù, nghe tin Trác đã chết, mà Lữ Bố thì đến My , liền dẫn quân phi hùng, ngay đêm hôm ấy chạy ra Lương Châu.

Lữ Bố đến My , trước hết tìm Ðiêu Thuyền.

Hoàn Phủ Tung sai đem những con gái nhà lương thiện bị Ðổng Trác bắt hiếp vào làm tỳ thiếp, tha cho về nhà cả. Còn bao nhiêu họ hàng thân thuộc nhà Ðổng Trác, không cứ lớn bé già trẻ đều đem ra giết sạch. Mẹ Trác cũng bị giết, em Trác là Ðổng Mẩn, cháu Trác là Ðổng Huynh cũng bị chém, đầu bêu đi các ngã ba. Lại tịch thu những của cải chứa ở trong nhà, vàng vài mươi vạn lạng, bạc vài trăm vạn lạng, vốc, nhiễu, châu báu, đồ đạc không biết bao nhiêu mà kể. Xong rồi Tung về báo với Vương Doãn biết.

Doãn khao thưởng quân sĩ thực to, mở tiệc yến ở lễ đường tướng phủ, họp cả các quan lại uống rượu ăn mừng.

Ðang ăn bỗng có người vào báo rằng:

– Thây Ðổng Trác đang phơi ở chợ, bỗng có một người đến cúi xuống thây khóc vang lên.

Doãn giận lắm, quát rằng:

– Giết được Ðổng Trác, quan dân ai ai cũng mừng cả, đứa nào lại dám khóc? Võ sĩ đâu, ra trói cổ hắn điệu vào đây ta hỏi?

Một lát quân dẫn người khóc vào, tưởng là ai, hóa ra quan Thị Trung Sái Ung. Doãn tức giận nói:

– Nay trừ được thằng giặc Ðổng Trác đi, là may cho xã tắc lắm. Ngươi là bề tôi nhà Hán, đã không mừng cho xã tắc, lại khóc thằng giặc là cớ làm sao?

Ung xin nhận tội nói rằng:

– Tôi tuy chẳng ra gì, cũng có biết đôi điều nghĩa lớn lẽ đâu lại theo Ðổng Trác. Nhưng vì tôi với Trác có chút ơn tri ngộ, nên tôi tự cảm xúc thương khóc. Tôi cũng biết như thế là có tội nặng. Nhưng xin ngài hãy rộng thứ cho: nếu bị thích chữ vào mặt, chặt chân nhưng vẫn được sống chép nốt pho Hán sử để chuộc tội, thì may cho tôi quá!

Các quan tiếc Ung là người tài, ai cũng cố sức nói hộ. Quan Thái Phó là Mã Nhật Ðề cũng ghé vào tai Doãn nói thầm rằng:

– Sái Ung là người tài, không mấy đời có được. Ðể cho hắn sống làm nốt pho Hán sử cũng là một điều hay! Vả lại Ung là một người hiếu hạnh, nay đem giết đi, e mất lòng thiên hạ.

Doãn nói:

– Ngày xưa, vua Hiếu Vũ không giết Tư Mã Thiên. Sau để cho Tư Mã Thiên chép nốt sách sử, vì thế cho nên mới có sách sử gièm pha truyền đến bây giờ. Nay đang lúc vận nước suy yếu, chính sự nhầm lẫn, không nên để kẻ nịnh thần cầm bút ở bên mình ấu chúa, chúng ta sẽ bị hắn chê cười.

Mã Nhật Ðê không nói gì nữa, đi trở ra, nói riêng với các quan rằng:

– Vương Doãn cũng không toàn mệnh được đâu! Người hiền là rường mối nhà nước, sách sử là điển cố nhà nước. Bỏ cả rường mối, đứt cả điển cố, bền lâu làm sao được?

Doãn không nghe lời Mã Nhật Ðê, sai bỏ Sái Ung vào ngục, bắt phải thắt cổ chết.

Các sĩ phu bấy giờ nghe thấy chuyện, ai cũng thương khóc.

Người đời sau bàn rằng Ung khóc Ðổng Trác đã là không phải, nhưng Doãn giết Ung thì cũng là quá lắm.

Có thơ than Ung rằng:

Ðổng Trác chuyên quyền thật bất nhân

Ung sao rước lấy vạ vào thân?

Bấy giờ Gia Cát nằm trong núi

Ðâu chịu ra thờ kẻ loạn thần?

Lý Thôi, Quách Dĩ, Trương Tế, Phàn Trù trốn sang Thiểm Tây, sai người đến Trường An, dâng biểu xin tha tội.

Vương Doãn nói:

– Ðổng Trác làm loạn, là bởi bốn đứa giúp cả. Nay tuy đại xá thiên hạ, duy bốn đứa ấy không thể tha được.

Sứ giả về báo Lý Thôi, Thôi nói:

– Xin tha không được, thì cùng đi trốn cả là xong!

Mưu sĩ là Giả Hủ bàn rằng:

– Các ông bỏ quân mà đi trốn một mình thì chỉ một người đình trưởng, cũng bắt trói lại được. Chi bằng ta dụ tập người Thiểm Tây, và quân mã của mình, kéo thẳng vào Trường An đánh báo thù cho Ðổng Công. Ðược ra thì lấy danh nghĩa triều đình mà hiệu lệnh thiên hạ. Ngộ thua, bấy giờ sẽ chạy cũng chưa muộn.

Bọn Lý Thôi lấy làm phải, liền nói phao lên ở Tây Lương rằng:

– Vương Doãn muốn giết sạch cả người ở Tây Lương.

Dân chúng đều sợ hãi.

Lũ Lý Thôi lại nói khích rằng:

– Chịu chết uổng cũng vô ích, có ai theo ta làm phản không?

Dân chúng xin theo cả. Bởi thế lũ Lý Thôi mộ được hơn mười vạn quân, chia làm bốn đường, kéo vào Trường An. Ði đường lại gặp con rể Ðổng Trác là Trung Lang tướng Ngưu Phụ, đem năm ngàn quân đi báo thù cho cha vợ.

Lý Thôi hợp hai toán làm một, sai Phụ làm tiền khu đi trước, bốn tướng dần dần kéo đi sau.

Vương Doãn nghe thấy binh Tây Lương kéo đến bèn bàn với Lữ Bố. Bố nói:

– Tư Ðồ đừng lo. Tôi coi chúng nó như đàn chuột!

Rồi cùng với Lý Túc đem quân ra. Túc đi trước nghênh địch, cùng Ngưu Phụ đánh nhau một trận.

Phụ chống không nổi, thua chạy.

Chẳng ngờ canh hai đêm hôm ấy, nhân lúc Túc không phòng bị, Ngưu Phụ kéo quân đến cướp trại Lý Túc. Quân Túc rối rít bỏ trại chạy ra hơn ba mươi dặm, chết mất quá nửa. Túc vào ra mắt Lữ Bố. Bố nổi giận mắng rằng:

– Sao ngươi dám làm mất nhuệ khí của ta?

Nói rồi liền chém đầu Lý Túc, treo đầu ở cửa quân.

Hôm sau Lữ Bố tiến binh, cùng Ngưu Phụ đối địch. Phụ địch sao nổi được Bố, cho nên lại thua chạy. Ðêm hôm ấy Ngưu Phụ gọi tướng tâm phúc tên là Hồ Xích Nhi bảo rằng:

– Lữ Bố kiêu dũng lắm, thế khó địch nổi. Sao bằng ta không cho bọn Lý Thôi biết, ngầm giấu vàng bạc, châu báu, đem vài ba người thân tín, bỏ trốn đi.

Hồ Xích Nhi ưng thuận. Ngay đêm hôm ấy Ngưu Phụ nhặt nhạnh vàng bạc, châu báu bỏ trại đi, chỉ đem ba bốn người đi theo. Ði đến một con sông, lúc sắp qua đó, Hồ Xích Nhi trông thấy của cải ngốt mắt, muốn chiếm lấy một mình, liền giết Ngưu Phụ đem đầu Phụ đến dâng Lữ Bố.

Bố hỏi đầu đuôi, người đi theo khai rằng:

– Xích Nhi giết Phụ để lấy của.

Bố giận, lập tức giết ngay Xích Nhi.

Lữ Bố dẫn quân tiến lên, gặp ngay quân mã Lý Thôi kéo đến. Bố không đợi cho bày trận, vác kích tế ngựa thúc quân xông vào, quân Lý Thôi không chống được, lui hơn năm mươi dặm, dựa vào sườn núi cắm trại.

Lý Thôi cho mời Quách Dĩ, Trương Tế, Phàn Trù lại bàn rằng:

– Lữ Bố tuy khỏe nhưng vô mưu, không lo sợ mấy. Nay ta đóng quân ở cửa hang, mỗi ngày ra khiêu chiến một lần. Quách tướng quân thì lĩnh quân đánh ở mặt sau, bắt chước lối Bành Việt quấy rối Sở ngày xưa. Nghe khua chiêng thì tiến binh, nghe đánh trống thì rút quân. Trong khi ấy thì hai ông chia quân ra hai đường đi tắt vào lấy Trường An. Bên nó đầu đuôi không tiếp ứng được nhau, tất nhiên sẽ thua.

Mọi người dùng kế ấy.

Lữ Bố dẫn quân đến dưới núi, Lý Thôi đem binh ra đánh, Bố hầm hầm xông vào trận. Thôi lui chạy lên núi. Trên núi tên đá bắn xuống như mưa, Bố không lên được. Chợt có người báo rằng:

– Quách Dĩ ở đằng sau đánh lại.

Bố vội vàng quay lại đánh, nhưng nghe thấy tiếng trống vang lên, quân Dĩ đã lui rồi. Bố vừa toan thu quân, thì một chiên khua, quân Thôi trên núi lại đánh xuống. Bố chưa kịp đối địch, đằng sau Quách Dĩ lại tiến lên đánh. Khi Lữ Bố trở lại thì Dĩ lại đánh trống rút quân về. Lữ Bố tức đầy ruột, ròng rã bốn hôm, Bố muốn đánh khống đánh được, muốn thôi cũng không thôi được. Ðang lúc tức mình có thám mã lại báo rằng:

– Trương Tế, Phàn Trù, hai cánh quân mã kéo vào Trường An, kinh thành nguy cấp lắm!

Bố vội vàng thu quân về, Lý Thôi, Quách Dĩ nhân thế đánh dấn lại. Bố vội quá không tham đánh nữa, chỉ tháo đường chạy về kinh cho nhanh, người ngựa xốn xáo tổn thất khá nhiều. Khi Bố về đến Trường An, thấy quân giặc đông nghịt, chẳng khác mây che mưa phủ, vây kín thành trì, Bố đánh không được. Quân sĩ thấy Bố hung bạo, bỏ đi theo giặc khá nhiều. Bố lo lắm.

Vài hôm sau, dư đảng của Ðổng Trác là Lý Mông, Vương Phương ở trong thành làm nội công cho giặc, mở trộm cửa thành, bốn mặt giặc kéo ùa cả vào. Lữ Bố hết sức chống cự không nổi, dẫn vài trăm quân kỵ mã đến trước của Thanh Tòa, gọi Vương Doãn bảo rằng:

– Thế nguy cấp lắm rồi, xin Tư Ðồ lên ngựa, cùng ra cửa quan với tôi, ta sẽ tìm kế khác.

Doãn cứ vững vàng nghiêm chỉnh như không, nói rằng:

– May ra nhờ thần linh xã tắc nhà nước được yên là sở nguyện của tôi; nếu không tôi xin đem thân cùng chết với nước. Gặp hoạn nạn mà bỏ trốn tránh để thoát thân, thì tôi không làm. Xin Ôn Hầu vì tôi mà nói với các bạn ở Quan Ðông hết sức lo tính việc nước.

Lữ Bố hai ba lần giục. Doãn nhất định không đi.

Ðược một lúc, các cửa thành lửa cháy ngùn ngụt, Lữ Bố phải bỏ cả vợ con, dẫn hơn một trăm quân kỵ mã chạy ra ngoài cửa ải, đi theo Viên Thuật.

Lý Thôi, Quách Dĩ thả cho quân tha hồ cướp bóc, Quan thái thường khanh Chủng Phất, quan thái bộc Lỗ Quỳ, quan đại hồng lô Chu Hoàn, thành môn hiệu úy Thôi Liệt, việt kỵ hiệu úy Vương Kỳ đều chết vì nạn nước.

Quân giặc vây kín nội đình. Các thị thần tâu xin vua lên cửa Tuyên Bình để dẹp loạn. Lúc vua lên cửa lũ Lý Thôi trông thấy lọng vàng, liền dừng ngựa lại, miệng hô vạn tuế.

Vua Hiến Ðế đứng trên lầu hỏi rằng:

– Các ngươi chưa tâu xin, dám tự tiện vào Trường An, ý các ngươi muốn làm gì?

Thôi, Dĩ ngẫng lên tâu rằng:

– Muôn tâu bệ hạ, Ðổng Thái Sư là bầy tôi nhà vua tự dưng bị Vương Doãn mưu giết. Nay chúng tôi đến tìm Vương Doãn để báo thù cho Ðổng công, chứ không dám làm phản. Chúng tôi được trong thấy Vương Doãn xin rút quân ngay.

Vương Doãn bấy giờ đứng ở cạnh vua, nghe thấy nói thế, tâu rằng:

– Tôi nguyện vì nước giết Trác. Nay chẳng may sự đến thế này, xin bệ hạ đừng tiếc tôi mà lỡ việc nước ra. Tôi xin xuống gặp hai tên giặc.

Vua dùng dằng không nỡ. Doãn từ trên lầu Tuyên Bình nhảy xuống đất, quát to lên rằng:

– Vương Doãn đây!

Lý Thôi, Quách Dĩ rút gươm ra mắng rằng:

– Ðổng Thái Sư có tội tình gì mà ngươi giết?

Doãn nói:

– Tội Ðổng Trác đầy trời suốt đất, nói sao cho xiết. Hôm hắn chết ở Trường An, từ quan chí dân, ai là không mừng, các ngươi lại không biết à?

Thôi, Dĩ lại hỏi rằng:

– Ừ, Ðổng Thái Sư có tội đã đành, chúng ta thì có tội gì, sao xin tha cũng không được?

Vương Doãn chửi rầm lên mà mắng rằng:

– Nghịch tặc nói làm chi cho lắm! Vương Doãn ta chỉ chờ chết mà thôi.

Thôi, Dĩ giết Doãn ngay dưới lầu.

Sử quan có thơ khen Vương Doãn rằng:

Vương Doãn bày mưu hay,

Gian thần bị giết ngay.

Thương dân nên tức ruột,

Xót nước lại chau mày.

Sao tỏ, lòng trung giãi.

Mây cao, khí nghĩa đầy.

Ðến nay hồn vía ấy,

Quanh quất Phượng Lâu này.

Lũ Lý Thôi giết Vương Doãn xong rồi, một mặt sai người bắt cả họ hàng nhà Doãn giết sạch.

Sĩ dân ai nấy đều thương khóc.

Lý, Quách lại bàn nhau rằng:

– Ðã đến thế nầy, còn vua không giết nốt để mưu việc lớn, còn đợi đến bao giờ?

Hai đứa cầm gươm reo to, kéo vào trong cung.

Thế rõ thực:

Ðầu sỏ tạ tội, tai nạn hết
Gặp quân tặc đảng lại sinh nguy.

Chưa biết tính mệnh vua Hiến Ðế ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi Thứ Mười

Giúp Nhà Vua, Mã Ðằng Khởi Nghĩa
Báo Thù Cha, Tào Tháo Cất Quân

Lý Thôi, Quách Dĩ hai đứa muốn giết vua Hiến Ðế. Trương Tế, Phàn Trù can rằng:

– Không nên! Nay ta vội giết vua như thế, tôi e rằng thiên hạ không phục. Không bằng cứ để đấy, rồi dụ chư hầu vào trong cửa quan; trước hết trừ hết vây cánh, rồi sau ta sẽ liệu, như thế mới tính xong được việc thiên hạ.

Lý Thôi, Quách Dĩ nghe lời bèn đóng quân lại.

Vua ở trên lầu phán hỏi rằng:

– Vương Doãn đã bị giết rồi, sao quân mã chưa rút?

Lý Thôi, Quách Dĩ thưa rằng:

– Muôn tâu bệ hạ, chúng tôi có công với nhà vua, chưa được phong tước, cho nên chia dám lui quân.

Vua phán hỏi:

– Các ngươi muốn được phong tước gì?

Lý, Quách, Trương, Phàn bốn đứa cầu phong chức hàm gì, đều tự tay viết ra dâng lên, đòi vua phải phong như thế. Vua bắt buộc phải nghe theo:

Lý Thôi là Sa Kỵ tướng quân, Trì dương hầu, lĩnh Chức Tư Lệ Hiệu Úy, được dùng cờ tiết, lưỡi phủ việt.

Quách Dĩ, làm hậu tướng quân, Mỹ Dương Hầu cũng được dùng cờ tiết, lưỡi phủ việt.

Hai người cùng giữ quyền chính trong triều.

Phàn Trù, làm hữu tướng quân, Vạn Niên Hầu.

Trương Tế, làm phiêu kỵ tướng quân, Bình Dương Hầu

Trương, Phàm hai người lĩnh binh ra đóng đồn ở Hoàng Nông.

Còn lũ Lý Mông, Vương Phương đều được phong làm Hiệu Úy.

Vua phong xong, cả bọn tạ ơn, rồi lĩnh binh ra ngoài thành.

Bọn ấy lại sai người đi tìm đầu và thây Ðổng Trác. Tìm được ít nhiều da xương vụn nát, chúng lấy gỗ thơm, khắc thành hình thể, chắp ghép đâu vào đấy, cúng tế thực to, áo mũ quan quách, dùng theo đám ma nhà vua, chọn ngày tốt làm lễ cất đám rước sang táng ở My .

Táng xong, bỗng nhiên trời nổi sấm sét, mưa to gió lớn, mặt đất ngập sâu vài thước. Một tiếng sét đánh vào áo quan Ðổng Trác, đầu và thây bật cả ra ngoài.

Lý Thôi đợi tạnh mưa, lại đem táng lại. Ðêm hôm ấy trời lại mưa to, sấm sét lại đánh vào áo quan Trác như trước; ba lần cải táng không xong, da xương thịt vụn Ðổng Trác bị mấy lần sét đánh tan tành.

Lý Thôi, Quách Dĩ, cầm được quyền chính, tàn đãi dân chúng, trăm họ khổ sở điêu đứng. Chúng lại mật sai những người tâm phúc hầu bên cạnh vua để dò la ý tứ.

Vua Hiếu Ðế bấy giờ như ngồi trên chông gai.

Các quan trong triều thăng giáng đều do hai đứa Thôi, Dĩ cả. Muốn thu phục lòng người, chúng mời Chu Tuấn vào triều, phong làm chức Thái Bộc, cho dữ triều chính.

Một hôm có người báo rằng:

– Thái Thú Tây Lương là Mã Ðằng, Thái Sử Tịnh Châu là Hàn Toại, hai người dẫn hơn mười vạn quân, kéo đến Trường An, nói rằng vào để đánh giặc.

Hai người ấy vốn đã có sai người vào Trường An, mật kết với Thị Trung là Mã Vũ, gián nghị đại phu là Chủng Thiệu, Tá Trung Lang Tướng là Lưu Phạm, để ba người ấy làm nội ứng. Ba người mật tâu với vua phong cho Mã Ðằng làm chinh tây tướng quân, Hàn Toại làm chấn tây tướng quân, trao cho mỗi người một tờ mật chiếu, sai hợp sức nhau lại để đánh giặc.

Lý, Quách, Trung, Phàn nghe tin hai cánh quân ấy sắp đến, họp nhau để bàn. Mưu sĩ là Giả Hủ nói rằng:

– Hai đám quân ấy từ xa đến, chỉ nên đắp thành cao, hào sâu cố thủ để chống lại, bất quá chỉ độ trăm ngày, chúng cạn lương là phải rút. Bấy giờ ta sẽ kéo quân đuổi theo, chắc chắn bắt được.

Lý Mông, Vương Phương nói rằng:

– Kế ấy không hay. Chúng tôi xin lĩnh một vạn tinh binh ra đánh; lập tức chém đầu Mã Ðằng, Hàn Toại dâng dưới cờ.

Giả Hủ nói:

– Hể mà đánh nhau, tất ta thua!

Hai người bảo Hủ rằng:

– Nếu hai chúng tôi thua, xin chịu chém đầu. Nhưng nếu chúng tôi được, ông cũng phải nộp đầu cho chúng tôi.

Hủ mới bảo Lý Thôi, Quách Dĩ rằng:

– Phía Tây Trường An, ngoài hai trăm dặm, có núi Trập Chất, đường ấy hiểm trở, nên sai Trương Tế, Phàn Trù hai tướng ấy ra đóng đồn ở đấy giữ cho vững, rồi hãy để mặc Lý Mông, Vương Phương lĩnh quân ra đánh.

Lý, Quách nghe lời, điểm một vạn rưỡi quân mã giao cho Lý Mông, Vương Phương. Hai người mừng rỡ, đem quân đi, ra khỏi Trường An hai trăm tám mươi dặm hạ trại đóng quân ở đó.

Quân Tây Lương đến, hai người dẫn quân ra đánh. Lúc hai bên dàn trận rồi Mã Ðằng, Hàn Toại sóng ngựa cùng ra trước trận, trỏ Lý Mông, Vương Phương mắng rằng:

– Giặc phản nước kia, ai ra bắt lấy nó!

Nói chưa dứt lời, có tướng trẻ tuổi, mặt đẹp như ngọc, mắt sáng như sao, mình hổ tay vượn, bụng beo lưng sói, tay cầm một ngọn giáo dài, mình cưỡi con ngựa cực đẹp, từ trong trận tế ra.

Tướng ấy vốn là con Mã Ðằng, tên là Mã Siêu, tự là Mạnh Khởi, mới có mười bảy tuổi, khỏe mạnh không ai bằng.

Vương Phương thấy Siêu còn bé khinh thường, nhảy ngựa lại đánh. Chưa được mười hiệp, Mã Siêu đâm Phương chết ngã xuống đất, rồi quay ngựa trở về.

Lý Mông thấy Phương chết, tế ngựa theo sau Mã Siêu để đánh trả thù. Siêu cứ lững thững đi trở về làm ra vẻ không biết. Mã Ðằng ở cửa trận gọi to:

– Ðằng sau có người đuổi theo.

Ðằng nói chưa dứt lời, đã thấy Mã Siêu bắt sống Lý Mông ngay ở trên mình ngựa. Té ra Siêu vẫn biết có Mông đuổi, lờ như không trông thấy, đợi cho Mông đến, phóng đao ra đâm. Siêu mới tránh sang một bên. Mông đâm hụt, hai con ngựa giáp nhau. Siêu bấy giờ mời quờ tay vượn ra bắt sống được Mông.

Quân Lý Mông không có chủ, chạy trốn tán lạc cả.

Mã Ðằng, Hàn Toại thừa thế đuổi đánh, thắng to, xông thẳng đến cửa thành hạ trại rồi đem Lý Mông ra chém bêu đầu.

Lý Thôi, Quách Dĩ thấy Mông, Phương cùng bị giết cả, mới tin là Giả Hủ có tài biết trước, bấy giờ mới nhất định dùng kế của Hủ, chỉ giữ vững các cửa thành, mặc bên kia khiêu chiến thế nào cũng không ra. Quả nhiên chưa được hai tháng, quân Mã Ðằng, Hàn Toại cạn lương, hai tướng phải bàn nhau rút quân về.

Giữa lúc ấy thì ở trong thành, đầy tớ Mã Vũ ra thú với lũ Lý, Quách, kháo rằng chủ nó cùng với Lưu Phạm, Chủng Thiệu liên kết với Mã Ðằng, Hàn Toại để làm nội ứng. Lý, Quách giận lắm bắt hết cả già trẻ, bé lớn ba nhà đem ra chợ chém, rồi mang ba đầu lâu ra bêu trước cửa thành.

Mã Ðằng, Hàn Toại thấy quân lương đã hết, nội ứng lại bị tiết lộ, phải nhổ trại đem quân về.

Lý, Quách sai Trương Tế đem quân đuổi Mã Ðằng, sai Phàn Trù đem quân đuổi Hàn Toại.

Quân Tây Lương thua to, may được Mã Siêu đi hậu quân đánh lùi được quân Trương Tế.

Phàn Trù đuổi Hàn Toại dần dần kịp, gần đến Trần Thương, Hàn Toại quan ngựa lại bảo Trù rằng:

– Tôi với ông người cùng làng với nhau, nay sao vô tình quá thế!

Trù thấy nói, dừng ngựa lại nhìn rồi nói rằng:

– Có lệnh trên sai, ta phải tuân theo!

Toại lại nói:

– Tôi lại đây cũng vì việc nước, sao lại quá bức bách nhau như thế?

Trù nghe xong, quay ngựa lại, thu quân trở về, để cho Toại đi. Không ngờ có cháu Lý Thôi là Lý Biệt đi theo sau, thấy Phàn Trù tra Hàn Toại, về mách với chú. Thôi giận lắm, muốn đem binh ra đón đánh Phàn Trù.

Giả Hủ lại can rằng:

– Nay nhân tâm chưa được yên, mà cứ dấy binh mãi mãi không nên, sao bằng mở một tiệc rượu, mời Trương, Phàn đến để mừng công, rồi đang cuộc rượu bắt Trù đem chém chẳng phải khó nhọc gì.

Lý Thôi ưng theo kế ấy, bèn mở tiệc mời hai người đến. Trương, Phàn hớn hở đến ăn yến.

Ðang giữa tiệc Lý Thôi sầm mặt lại rồi nói rằng:

– Phàn Trù sao dám tư thông với Hàn Toại, định làm phản hay sao?

Trù giật nẩy mình, chưa kịp trả lời thì mấy tay đao phủ đã vào kéo Trù ra, chém ngay trước tiệc.

Trương Tế trong thấy khiếp đảm, cúi rạp xuống tận đất.

Lý Thôi nâng Tế dậy mà nói rằng:

– Trù mưu phản, nên ta phải giết. Ngươi là tâm phúc với ta, việc gì mà sợ.

Nói rồi Thôi đem quân của Trù, giao cho Tế quản lĩnh. Tế dẫn quân về Hoằng Nông.

Từ khi Quách Dĩ đánh được quân Tây Lương, chư hầu không ai dám chống lại, Giả Hủ lại khuyên rằng:

– Phải cốt giữ cho dân được yên; phải tin dùng những người hiền tài.

Từ bấy giờ trở đi, triều đình mới hơi thấy có vẻ dễ chịu.

Nhưng không ngờ lại có đám giặc Khăn Vàng ở Thanh Châu nổi dậy, tụ quân vài mươi vạn khởi loạn, cướp bóc của dân. Thái Bộc là Chu Tuấn xin tiến cử một người để đi dẹp giặc.

Thôi, Dĩ hỏi ai, Tuấn nói:

– Muốn phá giặc Sơn Ðông, phi Tào Tháo không xong.

Lý Thôi nói:

– Bây giờ Tào Tháo ở đâu?

Chu Tuấn thưa:

– Hiện Tháo đang làm Thái Thú Ðông Quận, trong tay có nhiều quân sĩ, giá sai người này đi đánh giặc, thì không mấy bữa giặc sẽ tan.

Lý Thôi mừng lắm, ngay đêm hôm ấy thảo tờ chiếu cho người mang ra Ðông Quận, sai Tào Tháo cùng với tướng Tế Bắc là Pháo Tín đi đánh giặc.

Tháo vâng chiếu họp với Pháo Tín, cùng tiến quân đánh giặc ở Thọ Dương.

Pháo Tín vào đất giặc, bị giặc giết chết. Còn Tào Tháo đuổi giặc đến tận Tế Bắc, giặc hàng vài vạn người. Tháo lại dùng ngay giặc làm tiền khu, quân đi đến đâu, giặc hàng đến đấy.

Mới được hơn một trăm ngày chiêu an được hơn bốn mươi vạn quân hàng. Vừa đàn ông, đàn bà kéo lại theo Tháo hơn một triệu người. Tháo tuyển lấy những quân tinh nhuệ, đặt riêng một cánh quân gọi là quân Thạch Châu, còn bao nhiêu đuổi về cho làm ruộng.

Từ đó uy danh Tào Tháo mỗi ngày một lừng lẫy, tiếng đồn về đến tận kinh, triều đình phong cho Tháo làm Chấn Ðông tướng quân.

Tào Tháo ở Duyện Châu chiêu mộ thu dùng những người hiền sĩ.

– Làng Dĩnh Âm châu Dĩnh Xuyên, có một nhà hai chú cháu cùng đi theo Tào Tháo. Người chu, họ Tuân tên Túc, tự là Văn Nhược, nguyên là con Tuân Côn. Úc trước đã thờ Viên Thiệu, bây giờ bỏ Thiệu về với Tháo.

Tháo cùng Úc nói chuyện xong rồi mừng lắm nói rằng: Người này là Tử Phòng của ta đây!, rồi cho làm hành quân tư mã.

Người cháu tên là Tuân Du, tên chữ là Công Ðạt, vốn có tiếng là một danh sĩ, trước đã làm hoàng môn thị lang, sau bỏ quan về làng, nay theo chú sang với Tào Tháo, Tháo cho làm hành quân giáo thụ.

Tuân Du lại nói với Tháo rằng:

– Tôi nghe ở Duyện Châu có một người hiền sĩ, vốn ở Ðông An, họ Trình tên Dục, tự là Trọng Ðức, nhưng không biết bây giờ ở đâu? Người ấy chúa công nên dùng.

Tháo nói:

– Ta đã biết tiếng Trình Dục từ lâu.

Nói rồi sai ngay người về tận Ðông An để hỏi cho được, thấy họ bảo rằng: Trình Dục đang ở trong núi đọc sách. Tháo cho mời ra, Trình Dục đến bái kiến, Tháo mừng lắm.

Dục lại bảo với Tuân Úc rằng:

– Tôi là người quê kệch, học hành chưa được mấy, không xứng đáng với sự tiến cử của ông. Nay tôi biết có một người cùng làng với ông, tên là Quách Gia, tự là Phụng Hiếu, người ấy thực là hiền sĩ thời nay. Sao ông không triệu ra?

Úc sực nhớ đến nói rằng:

– Suýt nữa tôi quên mất người ấy!

Úc nói chuyện ngay với Tào Tháo. Tháo cho đi mời Quách Gia. Gia đến Duyện Châu bàn việc thiên hạ với Tào Tháo, rồi lại tiến Tháo một người nữa, dòng dõi vua Quan Vũ, người ở Thanh Ðức, họ Lưu tên Hoa, tự là Tử Dương.

Tháo cho mời Hoa đến. Hoa lại tiến hai người nữa, một người ở Sương Ấp, họ Mãn tên Sủng, tự là Bá Ninh; người nữa ở Vũ Thành họ Lã tên Kiều, tự là Tử Khác.

Tháo cũng đã biết tiếng hai người ấy, cho nên đặt ngay làm trung quân tùng sự.

Hai người lại tiến Tháo một người nữa, họ Mao tên Giới ở Bình Kỳ, tự là Hiếu Tiên.

Tháo cũng cho làm tùng sự.

Ðược ít bữa lại có một tướng nữa, đem vài trăm quân mã lại xin theo Tháo, người ở Cự Binh, tên là Vu Cấm, tự là Văn Tắc.

Tháo thấy người ấy bắn cung cưỡi ngựa giỏi, võ nghệ hơn người, liền cho làm Tiền Quân Tư Mã.

Một hôm Hạ Hầu Ðôn lại dắt một người cực to lớn lại ra mắt Tào Tháo.

Tháo hỏi ai, Ðôn thưa rằng:

– Người ấy ở Trần Lưu, họ Ðiển tên Vi, sức khỏe không ai địch nổi. Trước Vi đã theo Trương Mạc, liền giết vài mươi người rồi trốn vào núi ở. Tôi đi săn gặp Ðiển Vi đang đuổi hổ nhảy qua suối, nay tôi đem về dâng chúa công.

Tháo nói:

– Ta xem người này, tướng mạo khôi ngô, tất là người có sức khỏe.

Ðôn lại nói:

– Ðiển Vi từng báo thù cho bạn, giết người xách đầu ra ngoài chợ, hàng mấy trăm người không dám đến gần. Y sử dụng được hai ngọn kích sắt, nặng tám mươi cân, cắp ngồi trên ngựa, vung múa nhẹ như bay.

Tào Tháo lập tức sai Vi ra thử kích.

Vi cắp đôi kích lên ngựa nhẹ nhàng đi lại như bay. Bỗng bấy giờ có một cơn gió to, lá cờ lớn trồng dưới trướng lung lay sắp đổ. Quân sĩ lại xúm xít ôm giữ không nổi.

Ðiển Vi thấy vậy, từ trên ngựa nhảy xuống, quát to một tiếng, đuổi quân sĩ lui ra, rồi một tay nắm chắc lấy, cột cờ đứng im phăng phắc giữa luồng gió.

Tháo thấy thế mừng nói rằng:

– Người nầy thực là Ác Lai ngày xưa đây!

Liền cho làm trướng tiền đô úy, cởi ngay áo gấm đang mặc cho Ðiển Vi, lại cho thêm một con ngựa thực tốt và một bộ yên chạm.

Từ bấy giờ bộ hạ Tào Tháo, văn có người tài, vũ có tướng giỏi, uy danh Tháo lẫy cả Sơn Ðông, Tháo bèn sai Thái Thú Thái Sơn là Ung Thiệu, về quận Lương Gia đón cha là Tào Tung.

Tung trước ở Trần Lưu, từ khi loạn lánh sang ở Lương Gia. Bấy giờ tiếp được thư bèn cùng em là Tào Ðức và người nhà hơn bốn mươi người, lại đem hơn một trăm đầy tớ, ngồi mấy trăm xe, kéo nhau về Duyện Châu.

Lúc đi qua Từ Châu, quan thái thú ở đấy là Ðào Khiêm, tên chữ là Cung Tổ, người ôn hậu hòa nhã, vốn xưa nay vẫn muốn làm quen với Tào Tháo, nay thấy cha Tào Tháo đi qua địa hạt mình bèn thân hành ra đón chào lạy cung kính, mở tiệc khoản đãi mấy ngày liền. Lúc Tung đi, Khiêm thân đưa ra khỏi thành, rồi lại sai Ðô Úy là Trương Khải đem năm trăm bộ binh đi hộ tống.

Khi Tung và người nhà đi đến địa giới đất Hoa và Phí, bây giờ vào cuối hạ sang thu, bỗng gặp cơn mưa to, phải vào nghỉ nhờ một ngôi chùa. Sư tăng trong chùa ra tiếp. Tung thu xếp cho người nhà nơi ăn chỗ nghỉ rồi sai Trương Khải đem quân mã đóng hai bên hành lang chùa.

Bị mưa ướt cả quần áo và hành trang, quân sĩ đều kêu ca oán thán. Trương Khải mới gọi những đầu mục thủ hạ đến một chỗ vắng bảo rằng:

– Chúng ta vốn là dư đảng Khăn Vàng, bất đắc dĩ phải đầu hàng Ðào Khiêm. Từ ấy đến giờ chưa thấy được lợi lộc gì. Nay của cải nhà họ Tào chất đầy bao nhiêu xe cộ, các anh em muốn phú quý, cũng chẳng khó gì. Canh ba đêm hôm nay, chúng ta bổ cửa chùa vào và giết hết cả nhà Tào Tung, lấy sạch của cải, rồi ta lại cùng nhau về rừng làm nghề lạc thảo, kế ấy anh em nghĩ thế nào?

Quân sĩ đều cùng thuận cả.

Ðêm hôm ấy mưa gió chưa dứt. Tung đương ngồi bỗng nghe bên ngoài bốn mặt có tiếng hò reo rầm rĩ, Tào Ðức cầm gươm ra xem việc gì, bị đâm chết ngay.

Tung vội vàng dắt một người thiếp chạy vào buồng phương trượng, định nhảy qua tường đi trốn, chẳng may phải người thiếp to béo không ra lọt. Tung vội vàng cùng người thiếp ẩn vào trong chuồng tiêu, rồi cả hai đều bị loạn quân giết mất.

Ung Thiệu là người Tào Tháo sai đi đón Tào Tung, chạy thoát, sang ở với Viên Thiệu.

Khải giết hết cả nhà Tào Tung, lấy sạch của cải, đốt chùa, đem năm trăm quân trốn về Hoài Nam.

Ðời sau có thơ rằng:

A Man vốn có tiếng gian hùng;

Hại cả nhà Sa thật nhẫn lòng.

Bỗng chốc gặp ngay người khác hại,

Lòng trời báo ứng khiếp hay không?

Bấy giờ bộ hạ Ung Thiệu có một người trốn được về báo với Tào Tháo.

háo nghe tin khóc lăn xuống đất, mọi người vực dậy, Tháo nghiến răng lại nói rằng:

– Ðào Khiêm hỡi! Dám thả cho quân giết cha ta. Thù này ngươi với ta không đội trời chung được! Nay ta khởi hết đại quân, sang giết sạch cả Từ Châu mới hả được giận này!

Liền sai Tuân Úc, Trình Dục lĩnh ba vạn quân ở lại giữ Nhân Thành, Phạm Huyện, Ðông An, còn bao nhiêu quân kéo cả đến Từ Châu, sai Hạ Hầu Ðôn, Vu Cấm, Ðiển Vi làm tiên phong. Tháo hạ lệnh rằng:

– Hễ đánh được thành trì nào, bao nhiêu dân trong thành đều phải đem giết nhẵn để báo thù cho cha ta.

Bấy giờ có thái thú ở Cựu Giang tên là Biên Nhượng, vốn là bạn thân với Ðào Khiêm, nghe thấy Từ Châu có nạn, đem năm ngàn quân lại cứu.

Tháo nghe thấy giận lắm, sai Hạ Hầu Ðôn đón đường giết chết Biên Nhượng.

Trần Cung khi ấy làm tùng sự ở Ðông Quận, chơi rất thân với Ðào Khiêm, nghe thấy tin Tào Tháo khởi binh báo thù cho cha, định giết cả dân Từ Châu, sáng tinh sương hôm ấy đến xin vào ra mắt Tào Tháo.

Tháo biết rằng Cung vào để nói cho Ðào Khiêm, đã toan không tiếp sau lại nghĩ đến ân cũ khi xưa, nên phải mời vào. Cung vào nói rằng:

– Nay tôi nghe thấy ông đem đại binh đến Từ Châu, báo thù cho tôn phụ, ông định đi đến đâu giết sạch muôn dân, cho nên tôi đến đây xin trình bày một lời: Ðào Khiêm vốn là hiền nhân quân tử, chứ không phải là đồ ham lợi quên nghĩa. Tôn phụ chẳng may bị hại là tội của Trương Khải, chứ không phải tội của Khiêm. Vả lại, dân chúng các châu huyện không có thù gì với tướng quân, xin tướng quân nghĩ lại cho kỹ rồi sẽ làm.

Tháo nổi giận nói rằng:

– Trước kia ông đã bỏ ta mà đi, nay còn mặt nào lại trông thấy nhau? Ðào Khiêm hắn giết cả nhà ta, ta thề moi ruột móc gan hắn ra, mới hả được giận. Ông làm thuyết khách cho Ðào Khiêm, nhưng ta chẳng nghe, thì làm thế nào?

Trần Cung từ biệt Tào Tháo trở ra, than rằng:

– Chuyến này ta cũng không mặt nào trông thấy Ðào Khiêm nữa!

Nói rồi giục ngựa sang với thái thú Trần Lưu là Trương Mạc.

Tào Tháo đi đến đâu cũng cho quân tàn hại dân chúng đến đấy, đào mồ cuốc mả người ta, ai ai cũng sợ.

Ðào Khiêm ở Từ Châu nghe thấy Tháo giết dân hại lắm, bèn ngửa mặt lên trời mà khóc rằng:

– Ta để cho dân Từ Châu mắc phải nạn này, phải mang tội với trời đất!

Rồi lập tức họp các quan lại để bàn. Tào Báo nói:

– Quân Tào đã đến nơi, lẽ đâu ta lại ngồi khoanh tay mà chịu chết. Tôi xin giúp sứ quân phá giặc.

Ðào Khiêm bất đắc dĩ phải đem quân ra đón, xa trông thấy quân Tháo trắng xóa, tựa hồ như sương sa tuyết tỏa, ở trung quân dựng hai lá cờ trắng, trên đề bốn chữ to: Báo thù rửa hận.

Quân mã dàn thành thế trận, Tào Tháo cưỡi ngựa ra, mình mặc đồ tang, trỏ roi thét mắng.

Ðào Khiêm cũng cưỡi ngựa ra dưới cửa cờ, nghiêng mình, vái mà nói rằng:

– Ta vốn muốn kết hiếu với minh công, nên mới sai Trương Khải đi hộ tống. Không ngờ tướng giặc Trương Khải, ngựa quen đường cũ; đến nỗi xảy ra việc như thế. Quả tình tội oan, xin minh công xét kỹ cho.

Tháo quát mắng rằng:

– Thằng già kia! Ngươi đã giết cha tao, còn dám nỏ mồm? Ai ra bắt sống thằng giặc già kia vào đây!

Hạ Hầu Ðôn nhảy ra.

Ðào Khiêm vội vàng chạy về trận.

Ðôn xong lại.

Tào Tháo thúc ngựa ra đánh.

Hai ngựa đang giao nhau, bỗng đâu nổi trận gió to, sỏi cát bay mù mịt; Hai bên đều thu quân về.

Ðào Khiêm vào thành bàn với quân sĩ:

– Quân Tháo thế to, khó địch lắm. Ta nên tự trói mình, thân đến dinh quân Tào, tùy nó hành tội, để cứu lấy dân trong quận Từ Châu!

Khiêm nói chưa dứt lời, có một người tiến lên thưa rằng:

– Sứ quân trấn thủ Từ Châu đã lâu, dân chúng ai cũng cảm phục. Nay quân Tào tuy nhiều, nhưng vị tất đã phá được thành ngay. Sứ quân hãy cứ cùng với trăm họ giữ thành cho vững. Tôi tuy rằng bất tài, nhưng dám hiến một kế nhỏ, làm cho Tào Tháo chết không có chỗ chôn.

Ai nấy giật mình hỏi kế làm sao?

Thế thực là:

Bởi muốn cầu thân nên kết oán
Ai hay đất tuyệt có đường sinh!

Chưa biết người hiến kế là ai, xem đến hồi sau sẽ rõ.

Hồi Thứ Mười Một

Lưu Hoàng Thúc Cứu Khổng Dung ở Bắc Hải
Lã Ôn Hầu Phá Tào Tháo Tại Bộc Dương

Người hiến kế cho Ðào Khiêm vốn là người ở Ðông Hải, tên là My Chúc, tự là Tử Trọng.

Chúc nguyên là con nhà hào phú, một bữa ra thành Lạc Dương mua bán, đi xe về đến nửa đường gặp một người con gái xinh đẹp xin cho đi xe nhờ. Chúc xuống đi bộ, nhường xe cho người con gái ấy ngồi.

Người ấy cứ nhất định mời My Chúc lên ngồi. Chúc lên xe, ngồi thực nghiêm trang, mắt không trông ngang.

Ði được vài dậm, người con gái xin xuống xe, từ giã My Chúc nói rằng:

– Ta là Hỏa Ðức tính quân ở phương Nam, phụng mệnh Thượng Ðế xuống để đốt cháy nhà ngươi. Nay thấy ngươi đãi ta có lễ phép, nên ta bảo cho ngươi biết trước. Ngươi nên về nhà mau, dọn dẹp hết đồ đạc đi. Ðêm nay ta sẽ đến.

Nói rồi biến mất.

Chúc thất kinh, vội vàng chạy về, trong nhà có gì dọn đi hết. Tối hôm ấy quả nhiên trong bếp phát hỏa, nhà cửa cháy hết.

Chúc cũng vì thế mà đem gia tài phân tán, cứu giúp người nghèo khó. Về sau Ðào Khiêm đón về cử làm biệt giá tùng sự.

Bấy giờ My Chúc hiến kế rằng:

– Tôi xin sang quận Bắc Hải cầu Khổng Dung đến cứu. Lại xin sai một người nữa sang Thanh Châu cầu cứu Ðiền Khải. Hai nơi ấy cho quân mã đến thì Tào Tháo tất phải lui.

Khiêm nghe lời, viết hai bức thư, rồi hỏi:

– Dưới trướng có ai dám sang Thanh Châu không?

Một người xin đi, là Trần Ðằng, tự là Nguyên Long, người Quảng Lăng.

Nguyên Long đi rồi, My Chúc cũng đi sang Bắc Hải, Ðào Khiêm tự mang quân giữ thành.

Khổng Dung, tự là Văn Cử, người làng Khúc Phụ, nước Lỗ, là cháu đời thứ 20 đức Khổng Tử; con quan đỗ úy thái sơn là Khổng Trụ. Dung vốn thông minh từ thuở nhỏ. Năm lên mười tuổi, Dung có vào yết kiến quan doãn ở Hà Nam tên là Lý Ung. Lúc đến cửa, quan canh hỏi đi đâu, Dung nói:

– Ta là thông gia với Lý tướng.

Khi vào đến nơi, Lý Ung mới hỏi:

– Tổ ngươi có họ hàng gì với tổ nhà ta?

Dung nói:

– Ngày xưa Khổng Tử từng hỏi Lão Tử về việc lễ, nhà Dung với nhà ông chẳng phải đời đời thông gia với nhau là gì?

Ung lấy làm kỳ.

Ðược một hồi, có thái trung đại phu là Trần Vĩ đến chơi. Ung trỏ vào Khổng Dung mà nói rằng:

– Ðứa bé này là kỳ đồng!

Trần Vĩ bĩu môi nói rằng:

– Những đứa thuở nhỏ thông minh như thế, ngày sau lớn vị tất đã ra gì!

Dung liền ứng đối ngay rằng:

– Thưa ông, hẳn thuở nhỏ ông thông minh lắm!

Cả bọn đi với Trần Vĩ cùng cười ồ lên, mà nói rằng:

– Người này lớn lên tất là người giỏi trong đời.

Từ đấy Dung nổi tiếng, sau làm Trung Lang tướng, dần dần được làm Thái Thú Bắc Hải.

Khổng Dung tính ưa thết khách, thường nói rằng:

– Trên chỗ ngồi lúc nào cũng đông khách, trong hồ lúc nào cũng có rượu, thế là sướng nhất trần gian.

Dung ở Bắc Hải được sáu năm, dân chúng rất là yêu mến.

Hôm ấy Dung ngồi chơi với khách, có người vào báo rằng có My Chúc ở Từ Châu muốn vào hầu.

Dung cho mời vào, hỏi có việc gì, Chúc đưa thư của Ðào Khiêm ra, rồi nói rằng:

– Tào Tháo vây gấp lắm, xin minh công sang cứu cho.

Dung nói:

– Ta với Ðào Cung Tổ là chỗ chí thân, vả Tử Trọng lại thân hành đến tận đây, lẽ đâu ta lại không cứu; nhưng ta với Tào Mạnh Ðức không có thù oán gì. Vậy trước hết ta tưởng hãy nên sai người đưa thư giải hòa đã, nếu Tháo không nghe, bấy giờ ta sẽ khởi binh.

Chúc nói:

– Tào Tháo cậy có nhiều quân, quyết không chịu hòa.

Dung liền sai một mặt thì điểm binh sẵn, một mặt cho người đưa thư cho Tào Tháo.

Lúc đang bàn bạc, chợt có người vào báo rằng:

– Có dư đảng của đám Khăn Vàng ngày xưa, tên là Quản Hợi, đem mấy vạn quân đến định phá thành.

Dung thất kinh, vội vàng điểm quân ra thành để nghênh chiến.

Quản Hợi tế ngựa ra nói rằng:

– Bắc Hải nhiều lương, cho ta vay một vạn hộc, ta sẽ lui quân ngay. Hễ không ta đánh phá thành trì, già trẻ sẽ không một người nào sống sót.

Dung mắng mà nói rằng:

– Ta là bầy tôi nhà đại Hán, giữ đất của nhà đại Hán, có đâu lại đem lương cho giặc.

Quản Hợi giận lắm, múa đao tế ngựa chạy thẳng vào đánh Khổng Dung. Tướng Dung là Tôn Bảo, vác giáo nhảy ra địch, được vài hiệp bị Hợi chém chết, quân Dung rối loạn, chạy cả vào thành, Hợi chia quân ra bốn mặt vây thành.

Dung trong lòng bực tức, My Chúc cũng buồn chán lắm.

Hôm sau, Khổng Dung lên thành trông thấy thế giặc lạn mạnh, càng thêm lo phiền. Chợt thấy một người cưỡi ngựa vác giáo xông vào đám giặc, tả xung, hữu đột như vào chỗ không người, rồi chạy thẳng đến dưới thành, gọi to mở cửa.

Dung không biết là ai, chưa dám mở cửa. Quân giặc xấn đế bờ hào, định vào giết người ấy, nhưng người ấy quay mình lại đâm một lúc chết luôn vài chục đứa ngã ngựa. Chúng phải lui chạy cả.

Dung bấy giờ mới sai mở cửa mời vào. Người ấy xuống ngựa, bỏ giáo, lên thẳng trên mặt thành, chào Khổng Dung, Dung hỏi tên họ, người ấy thưa rằng:

– Tôi là người ở Hoàng Huyện, đất Ðông Lai, họ là Thái Sử tên là Từ, tự là Tử Nghĩa. Mẹ tôi được đội ơn ngày nhiều lắm. Hôm nọ tôi ở Liêu Ðông về nhà thăm mẹ.

Nghe tin giặc vây thành, mẹ tôi mới bảo rằng: Ta đã nhiều lần đội ơn ngài, nay con phải đi cứu. Bởi vậy một mình tôi cưỡi ngựa đến đây.

Khổng Dung mừng lắm.

Nguyên khi trước, Dung tuy không biết mặt Thái Sử Từ, nhưng vẫn biết tiếng là anh hùng. Nhân thấy Từ đi vắng xa, có mẹ già ở nhà, nhà cách thành hai mươi dặm, Dung thường sai người đem biếu gấm lụa. Bà mẹ cảm cái đức ấy nên sai con lại cứu.

Dung kính trọng Thái Sử Từ hết lòng, tặng một bộ áo giáp, ngựa và yên. Từ nói:

– Tôi xin mượn ngài một ngàn tinh binh nữa để ra ngoài thành phá giặc.

Dung nói rằng:

– Ông tuy khỏe thực, nhưng thế giặc to lắm, không nên coi thường.

Từ nói:

– Mẹ tôi cảm hậu đức của ngài, nên sai tôi đến, nếu không phá được giặc, tôi cũng không còn mặt nào dám về trông thấy mẹ. Vậy xin cứ để tôi ra, quyết một trận tử chiến.

Dung nói:

– Ta nghe có Lưu Huyền Ðức là anh hùng đời bấy giờ. Giá mời được Huyền Ðức lại cứu, thì mới giải được vây. Chỉ hiềm chưa biết nhờ ai đi cho được.

Từ nói:

– Xin ngài viết thư, tôi xin mang đi!

Dung mừng, viết thư giao cho Từ.

Từ mặc áo giáp lên ngựa, lưng đeo cung tên, tay cầm giáo, ăn no, sắm sửa đủ, mở cửa thành, phi ngựa ra đi.

Lúc gần đến bờ hào, quân giặc xúm vào đánh. Từ đâm luôn chết mấy đứa, vượt qua vòng vây chạy ra.

Quản Hợi thấy có người ở trong thành ra, tất là đi cầu cứu, liền đem vài trăm quân kỵ đuổi theo, tam mặt vây lại.

Từ dừng ngọn giáo, giương cung đặt tên, bắn cả tám mặt, không phát nào là không có người ngã ngựa, giặc sợ không dám đuổi nữa.

Từ thoát được, ngay suốt ngày đêm đến Bình Nguyên, vào ra mắt Lưu Bị.

Thư lễ xong, Từ nói hết sự tình Khổng Dung bị vây, rồi đưa thư ra. Lưu Bị xem thư xong, hỏi:

– Ông là ai?

Từ nói:

– Tôi là Thái Sử Từ, người nhà quê ở Ðông Hải. Tôi với Khổng Dung không phải anh em họ hàng, cũng không phải láng giềng làng mạc; chỉ vì nghĩa khí đối với nhau nên có ý chia xẻ ưu hoạn với nhau.

Nay Quản Hợi bạo loạn, Bắc Hải bị vây, không biết cậy vào đâu, nguy ở sớm tối. Khổng Dung nghe ngài là người nhân nghĩa, hay cứu người khốn, giúp kẻ nguy, nên sai tôi xông pha giữa vòng giáo mác, phá vòng vây đến đây cầu cứu ngài.

Lưu Bị tỏ vẻ tôn kính nói rằng:

– Khổng Bắc Hải cũng biết rằng trong đời có Lưu Bị à?

Lập tức cùng Quan Vũ, Trương Phi điểm ba ngàn tinh binh kéo sang Bắc Hải.

Quản Hợi thấy quân đến cứu, dẫn quân ra đối địch. Lại thấy quân Lưu Bị ít nên khinh thường không sợ.

Lưu Bị cùng với Quan, Trương và Thái Sử Từ cưỡi ngựa đứng ra trước trận. Quân Hợi hăm hở ra đánh.

Từ đang định xông ra. Quan Vũ đã nhảy ra trước.

Hợi địch nổi sao được Quan Vũ; mới được vài mươi hiệp, một nhát thanh long đao đã chém chết ngay Quản Hợi ở dưới chân ngựa.

Từ, Trương hai ngựa cùng ra, hai giáo đều múa, xông vào đám quân giặc, Lưu Bị thúc quân đánh riết.

Khổng Dung ở trên thành trông thấy Từ, Quan, Trương ba người vào trong đám giặc, không ai đương nổi, xông xáo tựa hồ như hổ giữa đàn dê, liền kéo binh ra thành, hai đầu đánh dồn lại, quân giặc thua chạy, đầu hàng vô số, còn bao nhiêu tan vỡ cả.

Khổng Dung đón Lưu Bị vào thành, chào lễ xong rồi, mở một tiệc yến thực to ăn mừng, lại dẫn My Chúc ra chào Huyền Ðức.

My Chúc nhân thể nói việc Trương Khải giết Tào Tung, nay Tào Tháo thả binh đến cướp phá Từ Châu, bởi vậy Ðào Khiêm sai y đến cầu cứu Khổng Dung.

Lưu Bị nói:

– Ðào Cung Tổ là người quân tử, không ngờ mắc phải oan nầy!

Dung nói:

– Ông là tôn thân nhà Hán, nay Tào Tháo tàn hại trăm họ, cậy khỏe, khinh yếu. Sao ông không cùng với tôi đi cứu Ðào Cung Tổ một thể?

Lưu Bị nói:

– Tôi đâu dám từ việc ấy, nhưng tướng ít, binh yếu, lo rằng không làm nổi việc.

Dung lại nói:

– Tôi nay đi cứu Cung Tổ tuy là tình bạn, nhưng cũng vì nghĩa lớn, ông há không có bụng trượng nghĩa hay sao?

Lưu Bị đáp:

– Có phải thế xin Văn Cử hãy đi trước, khoan cho tôi còn sang Công Tôn Toản mượn thêm năm ba ngàn quân mã, rồi sẽ đến sau.

Dung lại dặn:

– Xin ông chớ sai hẹn.

Huyền Ðức nói:

– Ông cho tôi là người thế nào! Thánh nhân đã dạy rằng: Xưa nay ai cũng chết, nhưng không có tín thì không ra người. Nay dù mượn được quân hay không, thế nào tôi cũng phải đến cứu Từ Châu.

Dung bằng lòng, sai My Chúc về báo trước cho Ðào Khiêm, rồi thu xếp khởi hành.

Thái Sử Từ lạy tạ Khổng Dung, nói rằng:

– Tôi vâng lời mẹ, sang đây giúp ngài. Nay công việc xong xuôi cả rồi, thứ sử Dương Châu là Lưu Do, là người cùng quận với tôi, có thư lại gọi, không đi không được. Xin để khi khác lại có dịp gặp nhau.

Dung đem vàng lụa tạ ơn. Từ không chịu lấy gì cả, ra về.

Mẹ Từ thấy Từ về, mừng nói rằng:

– Mẹ mừng cho con báo được ơn Bắc Hải.

Nói xong lại sai Từ sang Dương Châu.

Nay không nói chuyện Khổng Dung khởi binh sang cứu Từ Châu vội. Hãy nói chuyện Lưu Bị đến gặp Công Tôn Toản và nói chuyện cả sự tình mình muốn sang cứu Từ Châu.

Toản hỏi rằng:

– Tào Tháo không có thù gì với ông, tội gì ông lại đi giúp bên nọ đánh bên kia?

Lưu Bị nói:

– Tôi đã hứa với người ta rồi, thế nào cũng phải đi.

Toản cho mượn hai ngàn quân mã. Lưu Bị xin cho Triệu Tử Long đi theo. Toản bằng lòng.

Lưu, Quan, Trương dẫn ba ngàn quân bản bộ của mình đi trước, Triệu Vân dẫn hai ngàn quân kéo đi sau, cùng đến Từ Châu.

Trong khi ấy thì My Chúc về báo với Ðào Khiêm rằng:

– Khổng Dung đến giúp, lại mời thêm được cả Lưu Bị.

Trần Nguyên Long cũng về báo rằng:

– Ðiền Khải vui lòng đem quân sang cứu.

Bấy giờ Ðào Khiêm mới hơi vững dạ.

Hai cánh quân Khổng Dung, Ðiền Khải mới đến, sợ quân Tào mạnh thế nên ở đằng xa, dựa vào sườn núi đóng trại chưa dám khinh tiến.

Tào Tháo thấy hai đám quân cứu viện đã đến, cũng chia quân ra giữ, chưa dám kéo cả vào phá thành.

Lưu Bị đến sau, vào ra mắt Khổng Dung, Dung nói:

– Quân Tháo thế lớn lắm, mà Tháo lại khéo dùng mưu mẹo, ta không nên tiến vội, đợi xem tình hình thế nào đã.

Lưu Bị nói:

– Tôi chỉ lo trong thành không có lương, khó giữ được lâu. Nay hãy xin sai Quan Vân Trường và Triệu Tử Long lĩnh bốn ngàn quân ở đây với ông. Tôi thì cùng với Trương Phi kéo qua trại Tào Tháo, đi tắt đến Từ Châu, để vào bàn với Ðào sứ quân.

Dung mừng lắm, hẹn nhau với Ðiền Khải hai người lập thế ỷ giác, còn Vân Trường với Tử Long thì lĩnh binh để tiếp ứng hai bên.

Lưu Bị, Trương Phi hai người dẫn một ngàn quân mã, kéo qua bên cạnh trại Tào Tháo. Quân đang đi thấy trong trại nổi một tiếng trống, quân mã, bộ kéo ra như nước vỡ, Vu Cấm đứng đầu, dừng cương ngựa lại gọi to lên rằng:

– Bọn cuồng đồ xứ nào kéo đi đâu đấy?

Trương Phi chẳng nói chẳng rằng, xông thẳng vào đánh Vu Cấm. Hai bên đánh nhau được vài hiệp, Lưu Bị múa đôi kiếm, kéo quân tràn lên, Vu Cấm thua chạy, Trương Phi đi đầu chém giết, rồi vào thẳng đến dưới thành Từ Châu.

Trên thành trông xuống thấy lá cờ đỏ, viết năm chữ trắng thực to: Bình Nguyên Lưu Huyền Ðức. Ðào Khiêm kíp sai người mở cửa. Huyền Ðức vào thành, Khiêm tiếp đón, mời về phủ nha, thi lễ xong, mở tiệc yến khoản đãi.

Ðào Khiêm thấy Lưu Bị diện mạo hiên ngang, nói năng khoán đạt, trong bụng lấy làm mừng rỡ, sai ngay My Chúc đem cả bài, ấn Từ Châu ra, xin nhường chức cho Lưu Bị. Lưu Bị ngạc nhiên hỏi:

– Thế này là ý ngài ra làm sao?

Khiêm nói:

– Nay thiên hạ rối loạn, rường cột nhà vua không cất lên được. Ngài là Tôn thân nhà Hán, nên ra sức giúp nước. Tôi nay già rồi, không làm gì được nữa, ngài chớ có chối. Tôi xin tự viết một bài biểu dân lên triều đình.

Lưu Bị đứng ra ngoài chiếu lạy hai lạy nói rằng:

– Bị tuy là dòng dõi nhà Hán, nhưng công nhỏ, đức mỏng, làm một chức tướng ở Bình Nguyên còn sợ không nổi, nay vì đại nghĩa đến giúp ông, sao ông lại dạy thế? Hay là ông ngờ tôi có bụng tham lam gì chăng? Nếu tôi có bụng thế trời sẽ không thương tôi.

Khiêm nói rằng:

– Xin ngài chớ nghĩ thế, ấy là thực tình của tôi.

Khiêm ba lần nhường, Lưu Bị nhất định không chịu.

My Chúc thấy hai người, kẻ nhường người chối, dùng dằng mãi, bèn tiến lên thưa rằng:

– Nay quân giặc ở dưới thành, xin hai ngài hãy bàn kế phá giặc đã. Khi nào đánh tan được giặc rồi, bấy giờ xin các ngài hãy nhường thành cho nhau.

Lưu Bị nói:

– Tôi hãy đưa thư cho Tào Tháo, khuyên y giải hòa. Nếu y không nghe lời, bấy giờ ta sẽ đánh cũng không muộn.

Bèn truyền hịch cho ba trại hãy đóng binh không được động vội. Rồi sai người đưa thư cho Tào Tháo.

Tháo đương ở trung quân, cùng các tướng bàn việc, bỗng có người vào báo Từ Châu có chiến thư mang đến. Tháo mở ra xem. Thư rằng:

Từ khi Bị được tiếp tôn nhau ở ngoài cửa quan đến giờ, mỗi người một phương, không được gần gũi bên ngoài.

Vừa rồi tôn phụ Tào hầu bị hại, là vì tên Trương Khải bất nhân, chớ không phải là tội Ðào Cung Tổ.

Hiện giờ, ngoài thì dư đảng giặc Khăn Vàng quấy nhiễu; trong thì bè cánh Ðổng Trác làm loạn.

Xin minh công hãy lo việc triều đình trước, rồi sau hãy nghĩ đến thù riêng, rút quân vây Từ Châu về, để cứu nạn nước, thì Từ Châu may lắm, thiên hạ may lắm!

Tào Tháo xem thư xong, nổi giận mắng rằng:

– Lưu Bị là ai, dám đưa thư lại ngăn ta, trong thư lại có ý mỉa mai?

Nói rồi truyền đem chém sứ đưa thư, rồi ra sức đánh thành.

Quách Gia can rằng:

– Lưu Bị từ xa lại cứu, trước dùng lễ sau dùng binh, chúa công nên lấy lời tử tế đáp lại, làm cho Lưu Bị khinh thường, phòng bị trễ nải, rồi ta sẽ tiến binh đánh thành, mới dễ phá được.

Tháo nghe lời, truyền thết đãi sứ giã, rồi viết thư trả lời.

Ðang khi bàn bạc, chợt có ngựa lưu tinh lại báo rằng:

– Lữ Bố đã đánh phá Duyện Châu, hiện đang tiến binh chiếm cứ Bộc Dương.

Nguyên Lữ Bố từ khi gặp loạn Lý Thôi, Quách Dĩ, trốn ra cửa Vũ Quan, định đi theo Viên Thuật. Thuật ghét Bố là người phản phúc không dùng. Bố lại đến với Viên Thiệu, được Thiệu dung nạp.

Thiệu cùng Bố đánh tan Thường Sơn. Từ ấy Bố lấy làm đắc chí, khinh nhờn những tướng sĩ của Thiệu. Thiệu giận muốn giết. Bố lại bỏ sang với Trương Dương.

Dương dùng Bố. Bấy giờ Bàng Thư ở Trường An, cứu được vợ con Lữ Bố, sai đưa lại trả. Lý, Quách biết, bèn chém Bàng Thư, rồi đưa thư cho Trương Dương sai giết Lữ Bố. Bố lại bỏ Dương, sang với Trương Mạc.

Giữa lúc ấy thì em Trương Mạc là Trương Siêu đưa Trần Cung lại ra mắt Mặc.

Cung bảo Mạc rằng:

– Nay thiên hạ bị chia xẻ, anh hùng đều nổi dậy, ông có đất ngàn dậm, sao lại chịu ở dưới quyền người khác, há chẳng hèn lắm sao! Nay Tào Tháo đánh mặt đông, Duyện Châu bỏ trống, Lữ Bố là dũng sĩ đời nay, giá ông cùng với Lữ Bố đánh lấy Duyện Châu, thì có thể làm nên nghiệp lớn.

Trương Mạc cả mừng, liền sai Lữ Bố ra phá Duyện Châu, rồi chiếm cả Bộc Dương, chỉ có ba xứ Nhân Thành, Ðông An, Phạm Huyện là nhờ có Tuân Úc, Trình Dục lập kế cố giữ được, còn các xứ khác đều bị phá vỡ cả. Tào Nhân đánh nhau mãi, nhưng đánh không nổi, vì thế phải cho đi cấp báo với Tào Tháo.

Tháo nghe tin báo giật mình, nói rằng:

– Nếu Duyện Châu mất, ta sẽ không còn chỗ về nữa. Phải kíp lo toan ngay.

Quách Gia nói:

– Lúc này chúa công nên tỏ chút ân tình với Lưu Bị, rút quân về lấy lới Duyện Châu.

Tào Tháo lấy làm phải, lập tức viết thư đáp lại Lưu Bị, rồi nhổ trại lui binh.

Sứ giả về Từ Châu, vào thành gặp Ðào Khiêm, đưa trình thư của Tào Tháo, rồi nói quân Tào đã lui. Khiêm mừng lắm, sai người mời Khổng Dung, Ðiền Khải, Quan Vũ, Triệu Vân vào thành hội họp.

Yến tiệc xong, Khiêm mời Lưu Bị lên ghế trên, chắp tay thưa rằng:

– Lão phu này tuổi già, hai con lại không có tài, không kham nổi được việc lớn nước nhà. Lưu công là dòng dõi nhà vua, đức rộng tài cao, nên nhận lấy Từ Châu. Lão phu tinh nguyện cáo về dưỡng bệnh.

Lưu Bị nói:

– Khổng Văn Cử sai tôi đến cứu Từ Châu là việc nghĩa. Nay bỗng dưng tôi giữ lấy Từ Châu, thiên hạ tất bảo tôi là người bất nghĩa.

My Chúc nói:

– Nay vận Hán đã suy, đất nước rối loạn, dựng công lập nghiệp chính ở lúc này. Từ Châu của giàu người nhiều, dân đinh kể có trăm vạn. Lưu sứ quân không nên từ chối.

Lưu Bị nói:

– Việc ấy tôi quyết không thể vâng mệnh.

Trần Ðăng nói:

– Ðào phủ quân nhiều bệnh lắm, không sao coi nổi được công việc, xing minh công đừng từ chối.

Lưu Bị nói:

– Viên Công Lộ bốn đời làm tam công, trong nước ai cũng trong mong. Nay Công Lộ ở Thọ Xuân, sao không tìm mà nhường?

Khổng Dung nói:

– Viên Thiệu là hạng người vô dụng, chẳng khác một bộ xương khô trong mả, còn đáng để làm chi. Nay trời cho sứ quân chẳng lấy, sau có hối lại cũng muộn.

Lưu Bị nhất định không chịu. Ðào Khiêm khóc nói rằng:

– Nếu ông bỏ tôi mà đi, tôi chết cũng không nhắm mắt được!

Vân Trường nói:

– Ðào Công đã nói hết điều, thực lòng nhường cho, xin anh hãy nhận lấy việc châu.

Trương Phi cũng nói:

– Không phải là mình cố đòi lấy châu quận của người ta. Người ta có bụng tốt nhường cho mình, việc gì cứ phải khăng từ chối?

Lưu Bị nói rằng:

– Các em muốn hãm ta vào việc bất nghĩa hay sao?

Ðào Khiêm hai ba lần nhường, Lưu Bị cứ một mực không nghe.

Khiêm mới nói:

– Nếu ông nhất định không nghe thì gần đây có một ấp gọi là Tiể Bái, có thể đóng đồn. Xin ông tạm đóng quân mà ở đó bảo vệ Từ Châu. Ông nghĩ thế nào?

Mọi người đều khuyên Lưu Bị nên ở lại ấp Tiểu Bái, Lưu Bị nhận lời.

Khiêm khao quân xong, Triệu Tử Long cáo từ ra về. Lưu Bị cầm tay Triệu Tử Long rỏ nước mắt từ biệt.

Khổng Dung, Ðiền Khải cũng cáo biệt, dẫn quân về.

Lưu, Quan, Trương cùng dẫn quân bản bộ đến Tiểu Bái, sửa sang thành quách, phủ dụ dân cư ở đấy.

Tào Tháo kéo quân về, Tào Nhân ra đón, nói rằng:

– Lữ Bố thế to, lại có Trần Cung giúp. Duyện Châu, Bộc Dương mất cả, duy còn có Nhân Thành, Ðông An, Phạm Huyện, ba xứ ấy nhờ có Tuân Úc, Trình Dục bày mưu đặt mẹo nên còn giữ được vững.

Tháo nói:

– Ta chắc Lữ Bố có sức khỏe nhưng không có mưu mẹo, chẳng đáng lo lắm. Nay hãy lập trại đâu đấy, rồi sau sẽ bàn.

Lữ Bố biết Tào Tháo đem quân về, đã đến Ðằng Huyện bèn cho gọi phó tướng là Tiết Lan và Lý Phong bảo rằng:

– Ta muốn dùng hai người đã lâu, nay mới có dịp. Hai người dẫn một vạn quân, giữ lấy Duyện Châu cho vững, để ta đem quân đi đánh Tào Tháo.

Hai người vâng lệnh. Trần Cung vội vàng hỏi rằng:

– Tướng quân bỏ Duyện Châu, định đi đâu?

Bố nói:

– Ta muốn đóng quân ở Bộc Dương, để thành thế chân đinh.

Cung nói:

– Hỏng mất! Tiết Lan không giữ được Duyện Châu. – phía nam đường này, cách đây một trăm tám mươi dặm, có núi Thái Sơn. Chỗ ấy hiểm lắm, nên đem một vạn tinh binh phục ở đó. Quân Tào Tháo nghe Duyện Châu mất, tất nhiên gấp đường tiến lên, thế nào cũng phải đi qua đó. Ta đợi cho hắn kéo quân qua một nửa, đổ ra đánh một trận có thể bắt sống được Tào Tháo.

Lữ Bố bảo rằng:

– Ta đóng ở Bộc Dương, còn một mẹo hay hơn, ngươi biết đâu!

Bèn không nghe lời Trần Cung, sai Tiết Lan giữ Duyện Châu, còn mình thì đem quân đi.

Khi Tào Tháo đem quân đến quãng đường hẻm ở Thái Sơn, Quách Gia bảo rằng:

– Không nên đi vội. Chỗ này tất có phục binh!

Tháo cười nói rằng:

– Lữ Bố là đồ vô mưu cho nên mới giao Duyện Châu cho Tiết Lan giữ, còn hắn thì kéo quân sang Bộc Dương. Chỗ này chắc không có binh phục. Tào Nhân đâu, hãy lĩnh một cánh quân vây lấy Duyện Châu, để ta kéo quân lên đánh Lữ Bố ở Bộc Dương.

Trần Cung ở Bộc Dương với Lữ Bố nghe thấy quân Tào đã đến gần, bèn thưa với Lữ Bố rằng:

– Quân Tào nay từ xa lại, tất mỏi mệt cả, nên đánh ngay, đừng cho hắn nghỉ ngơi để dưỡng sức.

Bố nói:

– Ta một mình một ngựa tung hoành khắp thiên hạ, có sợ gì Tào Tháo. Cứ để cho hắn đóng trại, ta sẽ bắn hắn cho mà xem.

Quân Tào Tháo gần đến Bộc Dương, lập vững doanh trại. Hôm sau Tháo đem chư tướng ra dàn trận ở ngoài đồng. Tháo cưỡi ngựa đứng dưới cửa sổ, xa trông thấy binh Lữ Bố kéo đến.

Hai bên bày trận xong, Lữ Bố cưỡi ngựa ra trước, hai bên có tám kiện tướng đứng kèm.

1. Trương Liêu, tên chữ Văn Viễn, người ở Mã Ấp, quận Nhạn Môn.

2. Tang Bá, tên chữ Tuyên Cao, người ở Hoa Âm, quận Thái Sơn.

Hai tướng ấy lại dẫn sáu tướng là Hách Manh, Tào Tinh, Thanh Liêm, Ngụy Tục, Tống Hiến, Hầu Thành và năm vạn quân. Trống đánh vang lừng.

Tháo trỏ Bố nói rằng:

– Ta với ngươi không thù hằn gì, sao ngươi lại cướp châu quận của ta?

Bố nói:

– Thàng trì nhà Hán, người nào cũng có phần, có phải của riêng của nhà ngươi đâu?

Liền sai Tan Bá tế ngựa ra đánh.

Bên Tào, Nhạc Tiến ra nghênh địch. Hai ngựa giao nhau, đôi đao đều múa, đánh nhau được hơn ba mươi hiệp, chưa phân được thua. Hạ Hầu Ðôn tế ngựa xông vào đánh giúp. Trương Liêu cũng vội ra đánh chẹn lại. Lữ Bố nóng mắt vác kích phi ngựa xông vào trận. Ðôn, Tiến đều thua chạy cả, quân Tào thua to, phải lui ba bốn mươi dặm.

Lữ Bố thu quân về.

Tào Tháo thua một trận, về trại, cùng chư tướng luận bàn. Vu Cấm nói:

– Sáng nay lên núi trông thấy phía tây thành Bộc Dương, Bố có một trại, ước chừng chỉ có một ít quân đóng. Ðêm nay tất hắn tưởng ta vừa thua, không phòng bị gì. Ta nên dẫn quân ra đánh. Nếu lấy được trại ấy, quân Lữ Bố tất sợ.

Tào Tháo nghe lời, sai sáu tướng là Tào Hồng, Lý Ðiển, Mao Giại, Lã Kiền, Vu Cấm, Ðiển Vi, dẫn hai vạn quân mã bộ liền đêm hôm ấy theo đường nhỏ kéo vào phía tây Bộc Dương.

Hôm ấy Lữ Bố về trại khao quân.

Trần Cung nói rằng:

– Trại mé tây là nơi khẩn yếu, nếu Tào Tháo đến đánh úp thì làm thế nào?

Bố nói:

– Hôm nay hắn mới thua một trận, làm sao còn dám đến!

Cung nói:

– Tào Tháo là một tay dùng binh thực giỏi. Nên đề phòng hắn đánh bất ngờ.

Bố bèn sai Cao Thuận, Ngụy Tục và Hầu Thành dẫn binh đến giữ trại phía tây.

Chập tối hôm ấy, Tào Tháo kéo quân đến trại phía tây, bốn mặt ùa vào, quân giữ trại không chống nổi chạy toán loạn cả.

Tháo cướp được trại, gần đến canh tư, thì bọn Cao Thuận mới kéo quân đến. Tháo dẫn quân ra đánh. Hai bên đánh nhau đến gần sáng. Chợt nghe tiếng trống rầm rĩ, Lữ Bố đem quân đến cứu.

Tháo bỏ trại chạy.

Ðằng sau Cao Thuận, Ngụy Tục, Hầu Thành đánh thốc lên, mặt trước thì Lữ Bố kéo quân lại, Vu Cấm, Nhạc Tiến, hai người địch Bố không nổi, Tháo cứ trông về phía Bắc mà chạy.

Sau núi có một toán quân kéo ra, tả thì Trương Liêu, hữu thì Tang Bá. Tháo sai Lã Kiền, Tào Hồng ra đánh cũng không lại. Tháo lại quay chạy về phía tây. Ðang chạy, chợt lại nghe thấy tiếng reo ầm ầm, rồi thấy một toán quân đến. Ði đầu có bốn tướng là Hách Manh, Tào Tinh, Thành Liêm, Tống Hiến kéo ra chẹn đường Tào Tháo. Các tướng Tào liều chết mà đánh, Tào mới xông lên được trước. Bỗng nghe thấy tiếng mõ đánh, tên bắn ra như mưa.

Tào Tháo không thể nào tiến lên được nữa, không biết có cách gì thoát, vội kêu lớn rằng:

– Ai đến cứu ta?

Giữa lúc ấy, trong đội kỵ mã, có một tướng nhảy ra là Ðiển Vi, hai tay cầm hai ngọn kích, kêu to lên rằng:

– Chúa công đừng lo!

Nói rồi nhảy tót xuống ngựa, cắp đôi kích dài, lấy vài mươi ngọn đoản kích, nắm trong tay, ngoành mặt lại bảo người đi theo rằng:

– Lúc nào giặc đến cách độ mười bước, hãy gọi ta!

Rồi dang chân, bước nhanh, xông vào mũi tên mà đi. Quân kỵ bên Lữ Bố vài mươi người xông đến, lính hô lên:

– Giặc còn cách mười bước rồi!

Vi nói:

– Cách năm bước hãy gọi!

Quân lại gọi rằng:

– Cách năm bước rồi!

Bây giờ Vi cầm kích ném ra, cứ mỗi ngọn kích là quân Bố chết một người, không sai một ngọn nào, một lúc giết chết vài mươi người. Quân Lữ Bố tan chạy, Vi lại cầm hai thanh kích lớn, nhảy lên ngựa, xông vào đánh. Bốn tướng của Lữ Bố là Hách, Tào, Hẫu, Tống không địch nổi đều chạy trốn cả.

Ðiển Vi đánh tan quân Lữ Bố, cứu được Tào Tháo.

Các tướng theo sau cũng dần dần kéo đến cùng nhau tìm đường về trại.

Trông trời đã tà tà về chiều, đằng sau lại thấy tiếng reo, Lữ Bố phi ngựa cầm kích, đuổi theo xông đến gọi to lên rằng:

– Thằng giặc Tào Tháo kia, đừng chạy nữa!

Bấy giờ bên Tào người ngựa mỏi mệt, mọi người nhạn nhác trông nhau, ai cũng muốn chạy thoát thân cả.

Thế là:

Ðã hay thoát khỏi vòng vây trước,
Còn sợ khôn đường giặc đuổi sau.

Chưa biết phen này Tháo sống chết thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi Thứ Mười Hai

Cung Tổ Ba Lần Nhượng Từ Châu
Mạnh Ðức Một Phen Ðánh Lữ Bố

Tào Tháo đang chạy luống cuống, may đâu phía Nam có một toán quân kéo đến. Nguyên là Hạ Hầu Ðôn dẫn quân lại cứu, chẹn ngang đường đánh nhau với Lữ Bố.

Ðánh nhau đến xâm xẩm tối, một cơn mưa to như trút nước xuống, hai bên đều dẫn quân về.

Tháo về đến trại, trọng thưởng Ðiển Vi, giao cho làm chức Lĩnh Quân Ðô Úy.

Lữ Bố về trại, cùng Trần Cung bàn bạc, Cung nói:

– Trong thành Bộc Dương, có một nhà giàu, họ Ðiền, đầy tớ hàng trăm, ngàn người, có tiếng ở trong quận này. Ta nên khiến nhà ấy mật sai người đưa thư cho Tào Tháo rằng: “Lã Ôn Hầu tàn bạo bất nhân, lòng người rất oán ghét; nay muốn đem quân sang Lê Dương; chỉ còn có Cao Thuận ở trong thành, nên lập tức tiến ngay, ta xin làm nội ứng…” Nếu Tháo đến, dụ cho vào trong thành, rồi bốn mặt phóng hỏa, ngoài đặt quân phục. Tháo tuy có tài ngang trời dọc đất cũng không thoát được.

Lữ Bố nghe theo, mật dụ họ Ðiền đưa thư cho Tào Tháo.

Tháo nhân lúc mới thua, còn đương lo lắng, chợt có người vào báo họ Ðiền ở Bộc Dương sai người đưa mật thư đến.

Thư rằng:

“Lữ Bố đi sang Lê Dương, trong thành bỏ không. Xin ngài đến ngay, tôi nguyện làm nội ứng. Trên thành cắm lá cờ trắng, viết to một chữ “nghĩa” làm mật hiệu.”

Tào Tháo cả mừng nói rằng:

– Trời cho ta Bộc Dương rồi!

Bèn trọng thưởng cho người đưa thư, rồi lập tức thu xếp khởi binh.

Lưu Hoa nói rằng:

– Lữ Bố tuy vô mưu, nhưng có Trần Cung nhiều mẹo lắm. Tôi chỉ sợ trong việc này có phần lừa dối; ta phải phòng trước. Minh Công muốn đi thì nên chia quân ra làm ba đội. Hai đội phục ở ngoài thành để tiếp ứng, một đội vào thành, như thế mới được.

Tháo nghe lời chia quân ra làm ba đội, đến thành Bộc Dương. Tháo đi trước nghe ngóng, trông thấy trên mặt thành cờ cắm đặc cả, trên góc cửa tây có một lá cờ trắng có chữ Nghĩa, trong bụng đã mừng thầm.

Giờ ngọ hôm ấy, hai tướng trong thành kéo quân ra đánh, tiền quân là Hầu Thành, hậu quân là Cao Thuận.

Tào Tháo sai Ðiển Vi cưỡi ngựa ra, xông thẳng vào đánh Hầu Thành. Thành địch không nổi, quay ngựa chạy vào. Vi đuổi xấn đến tận bên cầu hào. Cao Thuận chống không được cũng lui binh vào trong thành.

Trong khi ấy có người trong thành, thừa cơ chạy ra ngoài, đến ra mắt Tào Tháo nói là người họ Ðiền, đưa trình mật thư, trong thư hẹn rằng:

“Ðêm nay, hồi canh một, trên thành khua chiêng làm hiệu thì tướng quân tiến binh vào. Tôi làm nội ứng, dâng thành.”

Lý Ðiển can rằng:

– Chúa công nên đứng ở ngoài thành, để chúng tôi vào.

Tháo nói to rằng:

– Ta không đi thì ai chịu xông lên trước?

Nói rồi tự lĩnh binh xông thẳng vào. Bấy giờ mới đầu canh một, trăng chưa lên, chỉ nghe thấy trên cửa tây có tiếng tù và, rồi lại có tiếng reo. Trên cửa lửa đốt sáng rực; cửa thành mở to; cầu treo bỏ xuống.

Tào Tháo tế ngựa lên trước, đi thẳng đến tận nha thự, trên đường chẳng thấy một người nào cả. Tháo biết là mắc mưu, vội vàng quay ngựa trở lại hô quân lui ra.

Lúc ấy trong châu nha có một tiếng pháo nổ, bốn cửa thành lửa cháy rực trời; trống đánh vanh lừng, người reo rầm rĩ, như sóng cồn bể réo. Mé Ðông, Trương Liêu trổ ra, mé Tây Tang Bá chạy lại, hai bên đánh dồn vào. Tháo chạy ra cửa Bắc, lại bị Hách Manh, Tào Tinh đánh cho một trận. Tháo chạy ra cửa Nam, lại bị Cao Thuận, Hầu Thành chẹn đánh, may có Ðiển Vi trợn mắt nghiến răng, xông vào đánh cứu. Cao Thuận, Hầu Thành phải chạy ra ngoài thành. Ðiển Vi đuổi ra đến cầu treo, ngoảnh lại không thấy Tào Tháo.

Vi lại đánh vào trong thành, đến cửa gặp Lý Ðiển, Vi hỏi:

– Chúa công đâu?

Ðiển nói:

– Ta cũng tìm không thấy.

Vi bảo Ðiển:

– Ngươi ra ngoài thúc quân ứng cứu, ta vào tìm chúa công.

Lý Ðiển đi ra, Ðiển Vi vào thành, tìm mãi không thấy, lại đánh trở ra, ra khỏi bờ hào gặp Nhạc Tiến. Tiến hỏi:

– Chúa công đâu?

Vi nói:

– Tôi vào ra hai lần rồi, tìm chúa công mãi không thấy.

Tiến nói:

– Hai chúng ta phải cùng đánh vào để cứu chúa công.

Hai người cùng trở vào, đến bên thành, thì hỏa pháo trên thành rơi xuống ngựa, Nhạc Tiến không sao vào được. Ðiển Vi xông pha khói lửa, lại vào thành đi tìm Tào Tháo.

Tào Tháo nhìn thấy Ðiển Vi đánh đến tìm mình nhưng Tháo bị bốn mặt quân mã chẹn chung quanh nên không tìm được đường cửa Nam, đành phải chạy về cửa Bắc, thế nào gặp ngay Lữ Bố, nhưng trong bóng lửa nhấp nhoáng, Bố không biết là ai.

Lữ Bố cầm kích tế ngựa lại. Tháo lấy tay che mặt ra roi tế ngựa đi thẳng. Lữ Bố ở đằng sau xấn ngựa lên, cầm ngọn kích gõ vào mũ Tào Tháo hỏi rằng:

– Tào Tháo ở đâu?

Tháo trỏ tay nói rằng:

– Người cưỡi ngựa vàng ở đằng trước kia.

Bố tế ngựa đuổi theo người đằng trước. Tào Tháo quay ngựa lại chạy ra cửa Ðông, may gặp ngay Ðiển Vi.

Vi hộ vệ Tháo, mở một đường máu ra được đến cửa thành.

Chung quanh thành lửa cháy ngùn ngụt, cỏ rác chồng chất khắp cả, chỗ nào cũng có lửa.

Ðiển Vi cầm kích gạt lửa ra hai bên, tế ngựa xông vào khói lửa ra trước. Tháo cũng theo sau ra được. Vừa đến cửa thành, có một cái xà cháy trên nhà rơi vào chân ngựa của Tào Tháo, ngựa ngã gục xuống. Tháo lấy tay đẩy cái xà ra, lửa bén vào cả cánh tay và đầu tóc. Ðiển Vi quay ngựa lại cứu. Vừa may Hạ Hầu Uyên cũng ở đâu đến.

Hai người cứu được Tháo dậy, xông qua lửa chạy ra. Tháo cưỡi ngựa của Uyên, Vi đánh mở đường để chạy.

Ðánh nhau mãi đến sáng, Tháo mới về được trại.

Các tướng vào lạy hỏi thăm, Tháo ngoảnh mặt lên cười nói rằng:

– Ta lầm mắc phải kế thất phu, thề rằng thù này thế nào cũng báo được.

Quách Gia nói:

– Có kế gì nên làm ngay!

Tháo nói:

– Nay nên nhân kế của hắn mà làm kế của mình: ta nói phao lên rằng ta bị lửa cháy chết bỏng, Bố tất dẫn quân lại đánh. Ta phục binh ở trong núi Mã Lăng, đợi hắn đến nửa chừng, đổ ra mà đánh thì quyết bắt được Lữ Bố.

Quách Gia nói:

– Thực là một kế hay!

Liền sai quân sĩ phát tang, để trở phao tin đi rằng Tào Tháo đã chết.

Có người đến Bộc Dương báo với Lữ Bố rằng:

– Tháo bị lửa cháy bỏng cả chân tay, về đến trại thì chết.

Lữ Bố lập tức điểm quân mã, kéo đến núi La Lăng. Quân đi gần đến trại Tào, một tiếng trống nổi lên, phục binh bốn mặt ồ ra. Lữ Bố cố đánh, một sống một chết, mới thoát được, tổn hại mất người quân mã, chạy về Bộc Dương giữ vững không dám ra nữa.

Năm nay có một thứ sâu, gọi là sâu hoàng ăn hại lúa má. – vùng Quan Ðông (Trường An) mỗi hộc thóc giá năm mươi quan. Dân chúng đói quá phải ăn thịt lẫn nhau.

Tào Tháo nhân hết lương, dẫn quân về đóng ở Nhân Thành. Lữ Bố cùng đem quân về đóng ở Sơn Dương. Vì vậy hai bên cùng tạm bãi binh.

Bấy giờ Ðào Khiêm ở Từ Châu đã sáu mươi ba tuổi, chợt bị bệnh, bệnh mỗi ngày một nặng, bèn mời My Chúc, Trần Ðăng đến bàn việc. Chúc nói:

– Quân Tào Tháo bỏ Từ Châu đi, cũng chỉ vì Lữ Bố cướp Duyện Châu mà thôi. Năm nay hắn bãi binh cũng là vì mất mùa. Chắc rằng sang xuân thế nào hắn cũng đến. Phủ quân đã hai lần nhường chức cho Lưu Huyền Ðức, bấy giờ phủ quân còn khỏe cho nên Huyền Ðức nhất định không chịu nhận. Nay bệnh phủ quân đã nặng, nên lại cho mời Huyền Ðức sang mà nhường chức một lần nữa, lần này Huyền Ðức chắc không từ chối.

Khiêm mừng lắm, sai người đi mời Lưu Bị lại bàn việc quân.

Lưu Bị đem Quan Vũ, Trương Phi và vài mươi tên kỵ mã đến Từ Châu. Ðào Khiêm cho mời vào chỗ nằm, Lưu Bị hỏi thăm xong. Khiêm nói:

– Tôi mời ông đến đây không phải có việc gì đâu, chỉ có một việc: tôi bây giờ bệnh đã nguy rồi, không biết sớm tối chết lúc nào. Vậy xin minh công thương lấy thành trì nhà Hán, nhận lấy bài ấn Từ Châu này, thì tôi chết mới nhắm được mắt.

Lưu Bị hỏi:

– Ông có hai con, sao không truyền cho, lại gọi tôi?

Khiêm nói:

– Tôi có hai thằng con, thằng lớn tên Thương, thằng bé tên Ung, hai đứa cùng hèn kém lắm, không sao kham nổi được việc nước. Tôi một mai nhắm mắt lại, cũng trăm nhờ minh công dạy bảo chúng nó, không nên cho chúng nó coi đến việc châu.

Lưu Bị nói:

– Một mình tôi đảm đương sao nổi việc to lớn ấy!

Khiêm thưa:

– Tôi xin cử một người để giúp ông, người ở Bắc Hải, họ Tôn, tên Càn, tự là Công Hựu. Ông nên dùng người ấy làm tùng sự.

Khiêm lại gọi My Chúc bảo rằng:

– Lưu Công là hào kiệt đời nay, ngươi nên thờ cho khéo nhé!

Huyền Ðức vẫn còn từ chối…

Lúc ấy Ðào Khiêm lấy tay trỏ vào bụng rồi tắt thở.

Các quan làm lễ điếu viếng xong rồi, liền đem bài ấn giao cho Lưu Bị, Lưu Bị nhất định không nhận.

Hôm sau cả dân châu kéo vào đầy phủ, van khóc nói rằng:

– Lưu sứ quân bằng không chịu nhận việc quận này thì dân chúng tôi không sao sống yên được.

Quan, Trương hai người cùng khuyên hai ba lần, Lưu Bị mới chịu quyền lĩnh công việc Từ Châu; dùng Tôn Càn, My Chúc làm phụ tá; Trần Ðang làm mạc quan; đem hết quân mã ở Tiểu Bái vào thành, treo bảng khuyên dân yên nghiệp, rồi sắm sửa việc tang, Lưu Bị và quan quân lớn nhỏ, đều để trở. Tế lễ linh đình xong, an táng Ðào Khiêm trên bãi cao ở bên Hoàng Hà, rồi đem tờ di biểu của Ðào Khiêm dâng lên triều đình.

Tào Tháo ở Nhân Thành, được tin Ðào Khiêm đã chết và Lưu Bị lĩnh chức mục Từ Châu, giận lắm nói rằng:

– Thù ta chưa báo xong! Lưu Bị nửa mũi tên không tốn, ngồi yên mà được Từ Châu. Phen này ta quyết trước giết Lưu Bị, sau vằm thây Ðào Khiêm để rữa oán cho thân phụ ta!

Lập tức truyền lệnh cất quân sang đánh Từ Châu. Tuân Úc lên can rằng:

– Xưa nay Cao Tổ giữ ở Quan Trung, vua Quang Vũ giữ ở Hà Nội, đều là được sâu rễ bền gốc; tiến lên thì đánh được giặc, lui về thì giữ được thành, cho nên tuy có lúc nguy khốn, nhưng về sau cũng vẫn làm nổi được nghiệp lớn. Minh Công lúc đầu vốn khởi sự ở Duyện Châu, mà đất Hà, đất Tế lại là đất hiểm trong thiên hạ và cũng là Quan Trung, Hà Nội ngày xưa, nay nhược bằng Minh Công sang lấy Từ Châu, để binh ở đây thì Lữ Bố lại thừa cơ đến cướp, thế là bỏ mất Duyện Châu. Nếu Từ Châu lại không lấy được, Minh Công sẽ đi đâu? Nay Ðào Khiêm tuy chết, nhưng đã có Lưu Bị giữ. Dân Từ Châu đã quy phục Lưu Bị lắm, tất nhiên cố sức giúp Lưu Bị. Minh Công bỏ Duyện Châu để sang lấy Từ Châu, thì khác nào bỏ cái lớn đi tìm cái nhỏ, bỏ chỗ gốc đi tìm chỗ ngọn, đem sự yên mà đổi lấy sự nguy. Xin Minh Công phải nghĩ cho chín đã!

Tháo nói:

– Năm nay mất mùa, thiếu lương ăn, quân sĩ cứ đóng ở đây cũng không xong.

Tuân Úc nói:

– Không bằng ta kéo sang mặt đông, lấy đất Trần cho quân sang ăn ở đó. Vả lại dư đảng Khăn Vàng là Hà Nghi, Hoàng Thiệu ở Nhữ Nam và Dĩnh Xuyên, cướp bóc châu quận, vàng lụa, lương thực có nhiều. Những giặc cỏ ấy phá dễ như chơi. Phá chúng nó, lấy lương thực để nuôi quân sĩ, như thế triều đình cũng mừng, dân gian cũng hả. Chính là một việc làm thuận lòng trời đó!

Tháo mừng lắm, liền cho Hạ Hầu Ðôn, Tào Nhân ở lại giữ Nhân Thành, mình thì đem quân sang lấy đất Trần, Nhữ Nam, và Dĩnh Xuyên.

Ðám dư đảng Khăn Vàng là Hà Nghi và Hoàng Thiệu thấy quân Tào kéo đến, đem binh ra đánh. Hai bên giáp trận nhau ở núi Dương Sơn.

Quân giặc tuy nhiều nhưng toàn là những đồ lăng nhăng, hỗn độn không thành đội ngũ.

Tháo sai lấy cung mạnh, nỏ cứng bắn sang. Ðiển Vi cưỡi ngựa ra. Hà Nghi sai phó nguyên soái ra đánh, đánh nhau chưa được ba hiệp, bị Vi đâm chết lăn xuống ngựa. Tào Tháo thừa thế dẫn quân xấn qua núi Dương Sơn đóng trại.

Hôm sau Hoàng Thiệu tự dẫn quân lại. Bày trận xong sai một tướng đi bộ ra, đầu đội khăn vàng, mình mặc áo xanh, tay cầm côn sắt, thét to lên rằng:

– Ta là Tiệt Thiên Dạ Sao Hà Man, ai dám ra đây đấu với ta nào?

Tào Hồng quát to một tiếng, phi mình từ trên ngựa nhảy xuống đất, vác đao đi bộ ra.

Hai người ở trước trận đánh nhau ba bốn mươi hiệp, chưa phân thắng bại. Hồng giả cách thua chạy, Hà Man xấn vào. Hồng dùng kế đà đao, quay mình lại chém trúng Hà Man; Hồng lại bồi thêm một nhát nữa, Hà Man chết.

Lý Ðiển thấy thế phi ngựa thẳng vào trận giặc. Tướng giặc Hoàng Thiệu chưa kịp đề phòng, bị Ðiển bắt sống.

Quân Tào đánh giết quân giặc, cướp được vô số tiền bạc, lương thực.

Còn Hà Nghi thế cô, dẫn vài trăm quân kỵ chạy về thung lũng Cát Pha.

Lúc đang đi đường, chợt gặp một toán quân ở trong núi kéo ra, một tráng sĩ đứng đầu, mình cao tám thước, lưng to mười chét tay, cầm thanh đao lớn ra chẹn đường. Nghi vác đao đánh, chỉ mới được một hiệp, đã bị tráng sĩ ấy bắt sống. Quân sĩ luống cuống đều xuống ngựa chịu trói. Tráng sĩ xua cả vào thung lũng Cát Pha.

Ðiển Vi truy kích Hà Nghi tới Cát Pha, thì có một tráng sĩ dẫn quân ra chặn lại. Vi hỏi:

– Ngươi cũng là giặc Khăn Vàng à?

Tráng sĩ đáp:

– Lũ Khăn Vàng có vài trăm kỵ mã, ta đã bắt nhốt cả trong thung lũng này.

Vi hỏi:

– Sao không đem ra nộp?

Tráng sĩ nói:

– Hễ ngươi địch được vớ thanh đao trong tay này thì ta đem chúng nó ra nộp.

Vi giận lắm, vác đôi kích lại đánh. Hai người đánh nhau từ giờ thìn đến giờ ngọ, không ai thua ai được, hai bên cùng tạm nghỉ. Ðược một lát, tráng sĩ lại ra thách đánh. Ðiển Vi cũng ra, đánh nhau đến mãi chiều tối. Hai người cùng mỏi, hai người lại phải tạm nghỉ lần nữa. Quân thủ hạ Ðiển Vi chạy về báo với Tào Tháo.

Tháo thất kinh, vội vàng dẫn các tướng lới xem.

Hôm sau tráng sĩ lại ra thách đánh nhau.

Tháo trông thấy người ấy oai phong lẫm liệt, trong bụng mừng thầm, dặn Ðiển Vi rằng:

– Nay ngươi hãy giả cách thua đi!

Vi vâng lời ra đánh, được ba mươi hiệp, Vi giả cách thua chạy về trận, tráng sĩ xấn đến, trong cửa trận cung nỏ bắn ra tua tủa. Tráng sĩ phải quay trở về.

Tháo kíp dẫn quân lùi lại năm dặm, mật sai người đào sẵn một hầm hố, phục sẵn câu thủ.

Hôm sau lại sai Ðiển Vi dẫn hơn trăm quân kỵ ra.

Tráng sĩ cười mà nói rằng:

– Tướng đã thua, sao lại còn dám đến đánh?

Nói rồi liền phóng ngựa ra đánh.

Ðiển Vi đánh được vài hiệp lại quay ngựa chạy. Tráng sĩ cố sức đuổi theo, không ngờ cả người lẫn ngựa cùng sa xuống hố cả, bị quân phục ra trói lại đem về nộp Tào Tháo.

Tháo vội vàng xuống trướng, mắng đuổi quân sĩ, tự cởi trói cho tráng sĩ, sai người lấy áo mặc cho, mời ngồi tử tế, rồi hỏi tên họ làng mạc ở đâu, tráng sĩ nói:

– Tôi là người ở Tiêu Huyện, nước Tiêu, họ Hứa tên Chử, tự là Trọng Khang. Nguyên trước gặp buổi loạn lạc, tụ cả tôn tộc vài trăm người, đắp một cái lũy ở trong thung lũng này để chống cự. Một bữa có giặc đến, tôi sai người nhà lấy đá vụn để sẵn, rồi tôi cầm đá ném ra, chẳng sai hòn nào. Giặc thấy vậy phải chịu lui. Lại một hôm nữa giặc đến, trong thung lũng tôi không có lương, phải hòa với giặc xin đem trâu cày đổi cho chúng, để lấy gạo. Lúc gạo giặc đã đưa đến rồi, giặc dắt trâu ra ngoài cửa thung lũng thì trâu đều chạy ngược trở lại, tôi lấy tay nắm lấy hai đuôi trâu kéo lại đi giật lùi được hơn một trăm bước. Giặc thấy thế đều thất kinh, không dám lấy trâu nữa. Bởi thế tôi mới giữ được ở đây yên ổn, không việc gì.

Tháo nói:

– Ta biết ngươi đã lâu. Nay ngươi có chịu hàng không?

Chử nói:

– Bụng tôi muốn thế đã lâu rồi.

Chử về dẫn cả họ hàng vài trăm người ra hàng Tào Tháo. Tháo cho làm Ịô Úy, thưởng rất hậu rồi đem Hà Nghi, Hoàng Thiệu ra chém.

Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên, từ ấy đều bình định cả.

Tháo rút quân về.

Tào Nhân, Hạ Hầu Ðôn ra tiếp kiến, nói rằng:

– Mấy hôm nay quân đi dò thám về báo rằng ở Duyện Châu, quân sĩ Tiết Lan, Lý Phong ra ngoài đi ăn cướp, thành bỏ trống không, chúa công đem quân vừa thắng trận về mà đánh, chỉ một trận là hạ được thành.

Tháo liền đem quân đi đường tắt đến Duyện Châu.

Tiết Lan, Lý Phong không ngờ có quân đến, chưa kịp phòng bị, nhưng cũng phải đem quân ra ngoài thành để đánh.

Hứa Chử nói:

– Tôi xin bắt hai đứa này để làm lễ ra mắt.

Tháo mừng sai Chử ra trận. Lý Phong vác họa kích lại đánh. Hai ngựa giao nhau mới được hai hiệp, Chử chém Phong chết lăn xuống dưới ngựa.

Tiết Lan vội vàng chạy về. Lý Ðiển chẹn ngang bên cầu. Lan không dám vào thành, dẫn quân kéo về Cự Giã, đang đi gặp ngay Lã Kiền tế ngựa lại đuổi bắn một phát tên, Lan chết ngã quay xuống đất. Quân Tiết Lan, Lý Phong vỡ tan cả. Tháo lấy được Duyện Châu.

Trình Dục xin tiến binh lấy lại nốt Bộc Dương.

Tháo sai Hứa Chử, Ðiển Vi làm tiên phong; Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên làm tả quân; Lý Ðiển, Nhạc Tiến làm hữu quân; Tào Tháo tự lĩnh trung quân; Vu Cấm, Lã Kiền làm hậu quân.

Quân Tào đến Bộc Dương, Lữ Bố muốn ra đánh, Trần Cung can rằng:

– Không nên đánh vội. Ðợi các tướng đến đây đầy đủ đã, rồi hãy hay.

Bố nói:

– Ta có sợ ai!

Không nghe lời Trần Cung, Bố cứ đem quân ra trận, cầm ngang ngọn kích thét mắng.

Hứa Chử ra địch, hai bên đánh nhau hai mươi hiệp chưa bên nào được thua. Tháo nói:

– Một người không thắng nổi Lữ Bố được.

Nói rồi sai Ðiển Vi ra giúp Hứa Chử đánh Lữ Bố.

Hai tướng giáp lại đánh, bên tả thì Ðôn, Uyên, bên hữu thì Ðiển, Tiến, cùng kéo ra, sáu tướng quây quần lại đánh một mình Lữ Bố. Bố chống đỡ không xuể, phải quay ngựa chạy về thành.

Họ Ðiền ở trên thành thấy Bố thua chạy về, kíp sai người ra kéo cầu lên.

Bố gọi to:

– Mở cửa!

Ðiền nói:

– Ta đã hàng Tào tướng quân rồi!

Bố chửi to một hồi rồi đem quân sang Ðịnh Ðào. Trần Cung vội vàng bảo vệ vợ con Lữ Bố mở cửa đông chạy ra ngoài thành.

Tháo lấy được Bộc Dương, tha cho họ Ðiền các lỗi khi trước.

Lưu Hoa bàn với Tào Tháo rằng:

– Lữ Bố là một con hổ dữ. Nay hắn đang cùng khốn không nên khoan dung cho hắn một chút nào.

Tháo bèn sai Hoa giữ Bộc Dương, tự mình dẫn quân đến Ðịnh Ðào. Bấy giờ Lữ Bố cùng Trương Mạc, Trương Siêu ở trong thành, còn Cao Thuận, Trương Liêu, Tang Bá, Hầu Thành, đi tuần để kiếm lương chưa về.

Quân Tào Táo đến Ðịnh Ðào, đợi mấy ngày Lữ Bố không chịu ra đánh, bèn rút quân lui bốn mươi dặm hạ trại. Nhân bấy giờ lúa mạch ở Tế Quận đã chín. Tháo sai quân ra gặt về để ăn.

Quân đi thám về báo với Lữ Bố. Bố đem quân lại, đi đến gần trại Tào Tháo, trông về phía tả thấy rừng rậm um tùm, sợ có quân phục lại phải trở về.

Tháo biết quân Bố quay trở về, bảo với chư tướng rằng:

– Lữ Bố nghi trong rừng có quân phục. Ta nên cắm rõ nhiều tinh kỳ để đánh lừa hắn. Mé tây trại có một dải đường đê không có nước, ta nên đem tinh binh ra phục ở đó. Ngày mai Lữ Bố tất đến đốt rừng, quân phục trở ra đánh tập hậu chắc bắt được Lữ Bố.

Tháo nói xong làm ngay. Trong trại Tháo chỉ để độ năm mươi người đánh trống và bắt bọn trai gái bắt được ở dân thôn hò reo, còn bao nhiêu tinh binh phục cả ở sau đê.

Quả nhiên Lữ Bố nghi trong rừng có quân phục, hấp tấp về kể chuyện với Trần Cung. Cung nói:

– Tào Tháo có nhiều quỉ kế, không nên khinh chiến đâu.

Bố nói:

– Ta dùng mẹo hỏa công, chắc phá được quân phục.

Liền sai Trần Cung, Cao Thuận, giữ thành rồi hôm sau kéo đại quân vào rừng đánh giặc. Ði xa xa đã trông thấy trong rừng có cờ, kéo quân đi xấn lên, bốn mặt sai phóng hỏa. Rừng cháy ngùn ngụt nhưng chẳng thấy người nào; muốn kéo quân về trại Tào Tháo, thì nghe thấy tiếng trống đánh rầm rỉ cả lên. Trong bụng Lữ Bố còn đương nghi nghi hoặc hoặc, thì chợt ở sau trại có toán quân kéo ra. Bố tế ngựa xấn lại. Bỗng nghe thấy một tiếng pháo nổ, rồi quân phục ở sau đê trổ ra.

Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên, Hứa Chử, Ðiển Vi, Lý Ðiển, Nhạc Tiến, tế ngựa kéo ồ cả ra.

Lữ Bố liệu không địch nổi, vội vàng chạy trốn. Tướng Bố là Thành Liêm bị Nhạc Tiến bắn một mũi tên chết. Quân Bố ba phần chết mất hai.

Quân thua có đứa chạy được về báo với Trần Cung. Cung nói:

– Thành trống không, khó giữ, chi bằng hãy bỏ chạy.

Liền cùng với Cao Thuận đưa vợ con Lữ Bố bỏ Ðịnh Ðào mà đi.

Quân Tào Tháo thừa thắng đánh bừa vào thành, đánh đến đâu được đến đó, dễ như chẻ tre.

Trương Siêu tự vẫn chết, Trương Mạc chạy sang với Viên Thuật.

Một sứ Sơn Ðông về tay Tào Tháo cả.

Tháo phủ dụ dân chúng sửa sang thành quách lại.

Lữ Bố đang khi chạy trốn, gặp ngay các tướng đi kiếm lương đã về. Trần Cung cũng vừa tìm đến nơi.

Bố nói:

– Quân ta dù ít, còn đủ phá được Tào Tháo.

Liền lại kéo quân trở lại.

Thế thực là:

Ðược thua, thua được là thường
Quay binh đánh lại ai lường được đâu!

Chưa biết Lữ Bố phen này được thua thế nào, xem hồi sau mới tỏ.

Hồi Thứ Mười Ba

Lý Thôi, Quách Dĩ Một Trận Giao Tranh
Dương Phụng, Ðổng Thừa Hai Lần Cứu Giá

Tào Tháo đánh phá được Lữ Bố ở Ðịnh Ðào. Bố thu nhặt tàn quân mã ở bờ bể, cùng các tướng định quay trở lại đánh nhau với Tào Tháo.

Trần Cung can rằng:

– Nay Tào Tháo binh thế lớn, mình chưa tranh dành được với hắn. Hãy nên tìm xứ nào yên thân, về sau sẽ tính cũng không muộn.

Bố hỏi:

– Ta lại muốn sang với Viên Thiệu, nên không?

Cung nói:

– Hãy nên sai người sang Ký Châu, dò xem tình ý ra sao, rồi hãy đi.

Bố nghe lời.

Bấy giờ Viên Thiệu ở Ký Châu nghe thấy Tào Tháo đánh nhau với Lữ Bố. Mưu sĩ của Thiệu là Thẩm Phối nói rằng:

– Lữ Bố là một giống hổ sói. Nếu hắn lấy được Duyện Châu, tất sang chiếm cả Ký Châu. Bất nhược ta giúp Tào Tháo đánh Lữ Bố, về sau khỏi lo.

Thiệu sai Nhan Lương đem năm vạn quân sang giúp Tào Tháo.

Quân do thám nghe được tin, về báo với Lữ Bố. Bố sợ lắm, bàn với Trần Cung. Cung nói:

– Tôi nghe ông Lưu Bị mới lĩnh đất Từ Châu, ta nên sang nhờ ông ấy.

Bố nghe lời Cung, sang Từ Châu.

Có người báo với Lưu Bị, Bị nói:

– Lữ Bố là người anh dũng đời nay, ta nên ra đón.

My Chúc nói:

– Lữ Bố là giống hổ lang, không nên chứa. Chứa hắn, tất có khi hắn hại người.

Huyền Ðức nói:

– Trước kia nếu không có Lữ Bố đánh ở Duyện Châu, thì Từ Châu sao thoát được nạn. Nay hắn thế cùng mà về với ta, thì còn có bụng gì khác nữa.

Trương Phi nói:

– Ðại huynh bụng rất tốt. Nhưng phải đề phòng mới được.

Lưu Bị lĩnh quân ra khỏi thành ba mươi dặm để đón Lữ Bố. Hai người cùng sóng đều ngựa đi vào thành, vào đến tận châu nha. Chào mừng xong, mọi người an tọa. Bố nói:

– Từ khi Vương tư đồ giết Ðổng Trác, về sau gặp cuộc biến loạn của bọn Thôi, Dĩ, tôi phải long đong ở xứ Quan Ðông. Chư hầu nhiều người không dung, gần đây lại gặp Tào Tháo bất nhân, xâm chiếm Từ Châu. May nhờ có sứ quân cố sức cứu Ðào Cung Tổ, tôi bấy giờ cũng đánh úp được Duyện Châu, mới chia được thế của Tào Tháo; không ngờ tôi lại mắc phải mưu gian, hao quân tổn tướng. Nay xin về với sứ quân, cùng toan việc lớn. Chưa biết ý sứ quân nghĩ làm sao?

Huyền Ðức nói:

– Ðào sứ quân mới mất, không có ai quản lĩnh Từ Châu, nên sai tôi tạm quyền cai quản. Nay may có tướng quân đến đây, tôi xin nhường lại.

Nói rồi liền đem bài ấn giao cho Lữ Bố. Bố chực giơ tay đỡ lấy, lại thấy sau lưng Lưu Bị có Quan Vũ, Trương Phi, hai người đều có vẻ mặt tức giận cả. Bố giả cách cười nói rằng:

– Tôi là một đứa dũng phu, làm thế nào được châu mục.

Lưu Bị lại xin nhường.

Trần Cung nói:

– Khách mạnh, không lấn được chủ. Xin sứ quân đừng nghi.

Lưu Bị mới thôi, sai mở tiệc yến khoản đãi, rồi sai dọn dẹp một nơi tươm tất để Lữ Bố nghỉ ngơi.

Hôm sau Lữ Bố làm tiệc mời lại Huyền Ðức. Lưu, Quan, Trương cùng đi.

Uống rượu độ nửa chừng, Lữ Bố mời Huyền Ðức vào nhà trong. Quan, Trương cùng theo vào. Lữ Bố sai vợ con ra lạy. Huyền Ðức hai ba lần khiêm tốn không dám nhận.

Lữ Bố nói:

– Hiền đệ tất phải khiêm nhường.

Trương Phi nghe thấy câu ấy, trợn mắt thét mắng:

– Anh ta là cành vàng lá ngọc. Ngươi là đứa nào dám gọi anh ta là hiền đệ? Lại đây, ta đánh với ngươi ba trăm hiệp.

Lưu Bị vội vàng mắng át đi. Quan Công khuyên Trương Phi đi ra, rồi lấy lời ôn tồn nói với Lữ Bố rằng:

– Em tôi uống rượu say nói càn, xin anh đừng chấp.

Bố lặng yên không nói.

Một hồi, tiệc tan. Lữ Bố tiễn Lưu Bị ra tận cửa, Trương Phi cưỡi ngựa đi ngang ngoài cửa thét to:

– Lữ Bố, ta đánh với ngươi ba trăm hiệp.

Lưu Bị vội vàng sai Quan Công ra bảo Trương Phi phải thôi đi.

Ðến hôm sau, Lữ Bố đến từ giã Lưu Bị nói rằng:

– Sứ quân không nỡ bỏ tôi, nhưng chỉ sợ lệnh đệ không dung. Vậy tôi xin đi nơi khác.

Lưu Bị nói:

– Nếu tướng quân đi thì tội tôi chẳng hóa ra to lắm ru. Em tôi hắn hỗn với tướng quân, hôm khác tôi xin bắt hắn đến xin lỗi. Gần đây có ấp Tiểu Bái, khi trước tôi cũng đóng đồn ở đó. Xin tướng quân chớ nề hẹp hòi tạm đến nghỉ ngựa. Lương thực và quân nhu, tôi xin cung ứng cả.

Lữ Bố tạ ơn Lưu Bị, rồi dẫn quân ra đóng ở Tiễu Bái.

Lưu Bị từ bữa ấy chê trách Trương Phi mãi.

Tào Tháo từ khi bình được Sơn Ðông, dân biểu tâu về triều đình. Triều đình thăng chức cho Tháo làm Kiến Ðức tướng quân, phong làm Phi đình hầu.

Lúc bấy giờ Lý Thôi tự làm Đại Tư Mã. Quách Dĩ tự làm Đại Tướng Quân, hoành hành không còn vị nể ai cả. Triều đình không ai dám mở miệng.

Thái Úy là Dương Bưu, Đại Tự Nông là Chu Tuấn mật tâu với vua Hiến Ðế rằng:

– Nay Tào Tháo cầm hơn 20 vạn quân, mưu thần, dũng tướng trong tay có vài mươi người. Nếu được người ấy để phù trì xã tắc, tiêu trừ đứa gian phi, thì thiên hạ may lắm!

Hiến Ðế khóc nói rằng:

– Trẫm bị hai đứa giặc ấy khinh nhờn đã lâu. Nếu giết được thì hay lắm.

Bưu tâu rằng:

– Thần có một mẹo, trước làm cho hai đứa tự tàn hại lẫn nhau, rồi sau mới mời Tào Tháo đem binh vào giết, quét sạch lũ giặc để yên triều đình.

Hiến Ðế hỏi:

– Kế ấy là kế gì?

Bưu tâu:

– Thần nghe vợ Quách Dĩ rất hay ghen, nay sai người đến xúi vợ hắn, dùng kế phản gián, hai đứa giặc tất giết lẫn nhau.

Vua liền viết tờ mật chiếu, đưa cho Dương Bưu, sai Bưu thi hành kế ấy.

Bưu lập tức sai vợ, lấy cớ có việc đến phủ Quách Dĩ, nhân dịp bảo vợ Dĩ rằng:

– Tôi nghe Quách tướng quân thường cùng với phu nhân Lý Tư Mã có tư tình với nhau, tình thân mật lắm. Nếu quan Tư Mã biết chuyện tất bị tai vạ. Phu nhân nên giữ gìn đừng cho đi lại nữa là hơn.

Vợ Dĩ đem lòng ngờ ngay chồng, nói:

– Thảo nào! Mấy đêm nay nhà tôi không về. Chẳng hóa ra đi làm việc vô sỉ ấy. Giá phu nhân không nói thì tôi không biết, để từ nay tôi xin giữ gìn.

Vợ Bưu từ giã về. Vợ Dĩ ra tiễn, hai ba lần tạ ơn rồi mới trở vào.

Ðược vài ngày, Quách Dĩ lại sắp sang nhà Lý Thôi ăn yến. Vợ ngại, không cho đi nói rằng:

– Lý Thôi là người bất trắc lắm. Và thời nay hai người anh hùng không chắc đứng lâu được với nhau. Phu quân sang bên ấy, ví dụ trong khi ăn uống, Lý Thôi đánh thuốc độc, thiếp làm thế nào?

Quách Dĩ nhất định không nghe. Vợ hai ba lần ngăn can. Buổi chiều Lý Thôi sai người đem biếu một mâm rượu. Vợ Dĩ bỏ thuốc độc vào đồ ăn rồi mới bưng vào cho chồng. Dĩ định ăn ngay, vợ nói:

– Ðồ ăn ở ngoài đưa lại, không nên ăn ngay.

Nói rồi đem đổ mội ít cho chó ăn thử. Chó ăn chết liền.

Từ đấy Quách Dĩ có bụng ngờ Lý Thôi.

Một hôm tan chầu, Lý Thôi lại mời Quách Dĩ về nhà uống rượu. Dĩ cũng đến. Ðến đêm tan tiệc, Dĩ say mới trở về. Ngẫu nhiên đêm hôm ấy đau bụng. Vợ thấy vậy mới nói:

– Thôi lại ăn phải thuốc độc rồi!

Nói rồi sai lấy nước phân cho uống. Dĩ uống xong thổ ra hết đồ ăn, thì khỏi đau bụng.

Dĩ giận lắm, nói rằng:

– Ta với Lý Thôi cùng toan việc lớn với nhau, nay bỗng dưng muốn hại ta. Ta không liệu trước tất mắc tay hắn.

Liền sửa sang giáp binh bản bộ mình để đi đánh Lý Thôi. Có người báo với Thôi. Thôi nổi giận nói rằng:

– Quách Dĩ sao dám thế.

Thôi cũng đem giáp binh bản bộ lại đánh

Hai người họp binh vài vạn ở dưới thành Trường An đánh nhau chán rồi, thừa thế cướp bóc của dân.

Cháu Lý Thôi là Lý Tiêm, dẫn quân đến vây cung điện, rồi lấy hai cỗ xe, một cỗ chở thiên tử, mộc cỗ chở Phục hoàng hậu, rồi sai Giả Hủ, Tả Linh đi giám áp xa giá; còn bao nhiêu phu nhân nội thị đều phải đi bộ cả. Trong khi mọi người kéo ra cửa Hậu Tể, gặp ngay binh Quách Dĩ đến, bắn nhau tua tủa. Cung nhân bị chết vô số. Lý Thôi từ đằng sau đánh lại, Quách Dĩ phải rút lui, xa giá mạo hiểm ra ngoài thành, không ai phân giải điều gì, bị đưa ngay đến dinh Lý Thôi. Quách Dĩ lui binh vào cung bắt hết cung tần thái nữ đem về trại, rồi phóng hỏa đốt cung điện.

Hôm sau, Quách Dĩ biết Lý Thôi cướp mất thiên tử bèn đem binh đến trước cửa trại đánh nhau.

Vua và hoàng hậu đều sợ hãi lắm.

Ðời sau có bài thơ than rằng:

Từ khi Quang Vũ trung hưng

Truyền đời trên dưới, mới chừng mười hai.

Hoàn, Lin, vô đạo nối ngôi,

Hoạn quan chuyên chính, ra đời đã suy,

Tam công Hà Tiến ra gì?

Muốn trừ chuột xã gọi chi gian thần?

Ðuổi sài rước hổ vào trong,

Tây Châu giặc Ðổng nổi lòng dâm hung

Tư Ðồ mưu cậy má hồng

, Khiến cho Ðổng, Lữ lẫn cùng giết nhau.

Giặc tan dân đã bớt sầu,

Biết đâu Lý, Quách ra mầu hung hăng!

Kinh thành cỏ rậm gai chằng

Sáu cung đói khát khổ đàng can qua.

Vận trời đến buổi sút sa

Anh hùng chia xẻ sơn hà lìa tan

Vua sau coi đấy nên răn,

Lọ vàng chớ để cho tan mẻ hoài.

Sinh linh gan nát óc lầy,

Máu oan lai láng tràn đầy non sông

Ta xem sử xót thương lòng,

Thử ly thơ trước hãi hùng xưa nay

Bào tang giữ lấy lời này,

Giươm thần cầm vững vẹn bày kỷ cương.

Khi quân Quách Dĩ đến, Lý Thôi ra trại đánh nhau. Quách Dĩ thua rút về. Lý Thôi mới đem xa giá vua và hoàng hậu rời sang My , sai cháu là Lý Tiêm coi giữ, cấm nội sứ, không cho ai vào. Vua tôi ăn uống bữa có bữa không. Thị thần người nào người ấy đói vỡ cả mặt.

Một bữa vua cho người ra hỏi Lý Thôi lấy năm hộc gạo và năm bộ xương trâu để cho kẻ hầu người hạ ăn.

Thôi nổi giận mắng rằng:

– Sớm chiều đã dâng cơm rồi, còn đói gì nữa?

Rồi lấy những thịt thiu cơm vữa đem cho.

Hôi quá không ai ăn được vua mới mắng rằng:

– Nghịch tặc dám khinh ta như thế à!

Quan Thị Trung là Dương Dỳ kíp tâu rằng:

– Quân hắn đã tàn bạo đến thế này, xin bệ hạ hãy nên nhịn, không nên trêu tức hắn.

Vua cúi đầu không nói gì nữa, tay áo cồn gạt hai hàng nước mắt chứa chan. Chợt thấy tả hữu vào báo rằng:

– Có một đám quân mã, gươm giáo sáng choang, chiêng trống om sòm, lại đây cứu bệ hạ.

Vua sai ra xem ai, thì là Quách Dĩ, lại càng lo thêm.

– Ngoài thung lũng tiếng người reo rầm rĩ tức là Lý Thôi dẫn quân đến đánh Quách Dĩ.

Thôi cầm roi trỏ vào Dĩ mắng rằng:

– Ta đối đãi với ngươi không bạc bẽo gì, sao ngươi lại rắp tâm hại ta, hở Dĩ?

Dĩ trả lời:

– Mày là đứa phản tặc, chẳng giết để làm chi?

Thôi nói:

– Ta bảo vệ vua ở đây, sao lại là phản tặc?

Dĩ nói:

– Thế là bức hiếp vua, sao gọi là bảo vệ vua?

Thôi nói:

– Nói làm chi nhiều, ta với ngươi không dùng quân sĩ, chỉ hai người đánh nhau, người nào thắng thì được đem vua đi.

Hai người liền đánh nhau ngay ở trước trận.

Ðánh nhau được mười hiệp, chưa rõ ai được thua, thì thấy Dương Bưu tế ngựa lại gọi to lên rằng:

– Xin hai tướng quân hãy ngừng tay. Tôi đã mời các quan đến đây để giảng hòa.

Hai bên ai về trại nấy.

Dương Bưu và Chu Tuấn hội họp các quan triều thần hơn 60 người, kéo nhau đến trại Quách Dĩ dàn hòa trước. Dĩ bắt các quan giam cả lại. Các quan kêu rằng:

– Chúng tôi đến đây để bàn điều hay, sao lại đối xử như thế?

Quách Dĩ nói:

– Lý Thôi bức hiếp thiên tử, thì ta cũng bức hiếp công khanh, chứ kém gì?

Dương Bưu nói:

– Một người hiếp thiên tử, một người hiếp công khanh là ra làm sao?

Dĩ nổi giận lên, cầm kiếm toan giết Dương Bưu, có quan trung lang tướng là Dương Mật cố can mãi, Dĩ mới tha cho Bưu và Chu Tuấn, còn các quan thì giam cả lại trong trại. Ra ngoài Bưu bảo với Tuấn rằng:

– Anh em mình làm tôi xã tắc, nay không cứu được chúa, sống ở trên đời cũng là thừa.

Nói xong hai người ôm lấy nhau khóc, ngất ngã lăn xuống đất.

Tuấn về nhà lo nghĩ thành bệnh chết.

Từ bấy giờ Thôi, Dĩ cứ mỗi ngày một lần đánh nhau ròng rã hơn 50 ngày trời, quân chết không biết bao nhiêu mà kể.

Lý Thôi tính hay ưa tà đạo và thuật yêu quái, thường thường cho bà cốt lên đồng ở trong quân. Giả Hủ can mãi không nghe.

Quan Thị Trung là Dương Kỳ thấy vậy liền mật tâu với vua rằng:

– Thần xem Giả Hủ, tuy làm tâm phúc Lý Thôi nhưng thực bụng vẫn chưa từng quên vua. Bệ hạ nên bàn với hắn.

Ðang nói thì Giả Hủ ở đâu đến. Vua đuổi tả hữu đứng ra xa, rồi khóc bảo Hủ rằng:

– Ngươi có thương nhà Hán mà cứu lấy trẫm không?

Hủ phục xuống đất, lạy thưa rằng:

– Xin bệ hạ chớ nói ra. Bụng thần vốn vẫn muốn thế, thần xin sẽ liệu việc ấy.

Vua gạt nước mắt tạ Hủ.

Ðược một chốc, Lý Thôi lại đeo kiếm đi thẳng vào. Mặt vua xám ngắt. Thôi nói với vua rằng:

– Quách Dĩ là đứa bất nhân, hắn dám giam giữ các công khanh, lại muốn bức hiếp cả bệ hạ, không có tôi, xa giá bị xiêu dạt rồi.

Vua chắp tay tạ, Thôi mới ra.

Rồi lại có Hoàng Phủ Lịch vào ra mắt, vua biết Lịch là người nói khéo, lại là người làng Lý Thôi, bèn sai Lịch ra giải hòa hai bên. Lịch vâng chiếu, đến trại Quách Dĩ nói. Dĩ bảo:

– Hễ Lý Thôi có đưa thiên tử ra thì ta tha các công khanh.

Lịch lại đến Lý Thôi bảo rằng:

– Nay thiên tử biết tôi là người Tây Lương, cùng làng với ông, nên sai tôi đến giải hòa cho hai ông. Dĩ phụng chiếu rồi, còn ông thế nào?

Thôi nói:

– Ta có công đánh được Lữ Bố, làm phụng chính đã bốn năm nay, công trạng rất nhiều. Thiên hạ ai cũng biết. Quách Dĩ bất quá là một đứa ăn trộm ngựa mà thôi, thế mà hắn dám ăn hiếp công khanh, và chống lại ta. Ta thề phên này phải giết hắn. Ông thử trông xem quân sĩ và kế hoạch của ta, có đánh nổi được tên Quách Dĩ không?

Lịch nói:

– Không nên, ông ơi! Ngày xưa Hậu Nghệ ở xứ Hữu Cùng cậy mình bắn giỏi, không biết lo nghĩ, đến nỗi tuyệt diệt. Vừa mới rồi, Ðổng thái sư cường thịnh bao nhiêu, rồi sau thế nào, mắt ông đã trông thấy rành rành, Lữ Bố đội ơn Ðổng thái sư mà lại giết Ðổng thái sư, chỉ trong giây phút, đầu thái sư treo cửa chợ, xem thế thì cường thịnh có vững chắc gì. Tướng quân mình làm thượng tướng cầm phủ việt, cắp cờ tiết, họ hàng con cháu đều ở ngôi cao; ơn nước không phải không hậu. Quách Dĩ hiếp công khanh, ông hiếp vua, thế thì bên nào nhẹ, bên nào nặng.

Lý Thôi giận lắm, rút kiếm ra mắng rằng:

– Thiên tử sai ngươi nổi dậy để làm nhục ta hay sao? Trước hết ta hãy chém đầu ngươi!

Kỵ Đô Úy là Dương Phụng can rằng:

– Nay chưa trừ được Quách Dĩ, lại đem giết sứ nhà vua, tôi e Quách Dĩ vịn cớ để khởi binh, chư hầu ai cũng sẽ giúp hắn.

Giả Hủ cũng cố can, Thôi mới nguôi cơn giận. Hủ đẩy Hoàng Phủ Lịch ra. Lịch kêu to lên rằng:

– Lý Thôi không phụng chiếu, muốn giết vua để lên ngôi báu.

Thị trung là Hồ Mặc vội vàng ngăn nói rằng:

– Ðừng nói câu ấy, sợ sẽ không lợi cho bản thân.

Lịch mắng rằng:

– Hồ Mặc! Ngươi cũng là tôi triều đình, sao lại về bè với giặc. Vua nhục thì tôi phải chết. Dù ta bị Lý Thôi giết, là ta trọn đạo làm tôi chứ sao?

Lịch vừa nói vừa mắng mãi không thôi. Vua thấy vậy vội vàng sai Lịch trở về Tây Lương.

Quân Lý Thôi quá nửa là người ở Tây Lương, lại được người ở nước Khương giúp đỡ.

Hoàng Phủ Lịch đến Tây Lương, nói toáng lên rằng:

– Lý Thôi mưu làm phản, hễ ai theo hắn là giặc và tai họa về sau sẽ không lường được.

Nhiều người Tây Lương tin lời của Lịch, lòng quân sĩ của Lý Thôi cũng dần dần nao núng. Thôi nghe tin ấy giận lắm, kíp sai hổ bôn là Vương Sương đuổi theo. Sương biết Lịch là người trung nghĩa, không đi đuổi về báo rằng:

– Không biết Lịch đi đằng nào.

Một mặt thì Giả Hủ dỗ người nước Khương rằng:

– Thiên tử cũng biết các ngươi là trung nghĩa, đánh mãi thì khổ nhọc. Bởi vậy bệ hạ có mật chiếu cho các ngươi về quận, ngày sau sẽ có thưởng to.

Người nước Khương đang oán sẵn Lý Thôi không cho hưởng tước, liền nghe lời Giả Hủ, kéo cả về.

Hủ lại mật tâu với vua rằng:

– Lý Thôi tham mà vô mưu, thấy binh lính bỏ về, bụng đã lo sợ, bệ hạ nên lấy trọng tước mà giữ hắn.

Vua liền hạ chiếu phong Lý Thôi làm đại tư mã, Thôi mừng nói rằng:

– Phúc này thật là thần thánh ban cho ta. Lạy thánh vạn lạy, có cúng có bái cũng có hơn!

Thôi thưởng to cho các đồng cốt, còn quân tướng thì không nói gì đến. Kỵ Đô Úy là Dương Phụng giận lắm bàn với Tống Quả rằng:

– Chúng ta ra sống vào chết, xông pha mũi tên hòn đạn, mà té ra công trạng không bằng mấy mụ đồng bóng.

Tống Quả nói:

– Thế thì sao không giết hắn đi mà cứu thiên tử.

Phụng nói:

– Ngươi ở trong quân đốt lửa làm hiệu, rồi ta ở ngoài kéo binh vào tiếp ứng.

Hai người hẹn nhau canh hai đêm hôm ấy khởi sự. Không ngờ việc không kín, tiết lộ ra có người nghe thấy, báo với Lý Thôi. Thôi giận sai người bắt Tống Quả giết đi. Dương Phụng dẫn binh ở ngoài chờ mãi không thấy hiệu lửa. Lý Thôi tự đem quân ra, vừa gặp Dương Phụng đến. Hai bên đánh nhau đến canh tư, Phụng không đánh nổi, chạy về Tây An.

Từ đấy, quân thế Lý Thôi mỗi ngày một suy, lại thường thường bị Quách Dĩ đến đánh, quân sĩ bị giết chết rất nhiều, chợt lại có người báo rằng:

– Trương Tế thống lĩnh một cánh đại quân từ Thiểm Tây đến, muốn giảng hòa cho hai bên, nói rao lên rằng: bên nào không nghe thì đánh.

Thôi nhân thể lấy lòng Trương Tế, sai người đến Quách Dĩ cầu hòa. Dĩ cũng phải vâng theo.

Trương Tế dâng biểu mời thiên tử ra chơi ở Hoằng Nông. Vua mừng nói rằng:

– Ta đã lâu nay nhớ Ðông Ðô lắm. Nay nhân thể được về, lấy làm may lắm.

Liền hạ chiếu phong Trương Tế làm Phiêu Kỵ tướng quân. Tế dâng lương thực, rượu thịt để cung cấp cho các quan. Quách Dĩ cũng tha cho các công khanh ra trại. Lý Thôi cũng thu xếp xa giá để về Ðông Ðô, sai vài trăm quân ngự lâm, cầm kích đi hộ tống. Khi loan giá qua Tân Phong đến Bá Lăng, trời về tiết thu, bỗng nổi cơn gió lạnh, nghe thấy có tiếng reo, rồi thấy vài trăm quân đến đầu cầu chẹn đường không cho xa giá đi, quát to hỏi rằng:

– Người nào qua đây?

Thị Trung là Dương Kỳ tế ngựa lên cầu nói rằng:

– Xe vua qua đây, đứa nào dám ngăn trở?

Có hai tướng ra nói:

– Chúng tôi vâng lệnh Quách tướng quân sai giữ cầu này, phòng kẻ gian phi. Có phải xa giá vua đi, xin được trong thấy vua, chúng tôi mới tin.

Dương Kỳ mở rèm châu ra, vua mới dụ bảo rằng:

– Trẫm ở đây, sao các ngươi không lui quân?

Các tướng trông thấy, đều reo: vạn tuế! rồi đứng ra hai bên, để xa giá đi qua. Xe đi rồi, hai tướng về báo với Quách Dĩ.

Dĩ nói:

– Ta ý muốn đánh lừu Trương Tế, bắt xa giá quay về My , sao các ngươi lại tự tiện tha ngay?

Dĩ liền chém hai tướng rồi khởi binh đi đuổi xe vua.

Xe đi đến huyện Hoa Âm, bỗng nghe đằng sau có tiếng reo vang dậy, gọi to rằng:

– Xa giá đừng đi vội!

Vua khóc bảo với đại thần rằng:

– Vừa thoát hang sói, lại gặp miệng hùm. Bây giờ tính làm sao?

Các quan sợ mất vía. Quân giặc gần đến nơi, chợt nghe đằng sau có tiếng trống đánh, rồi có một tướng đi lên trước, sau có một lá cờ lớn đề bốn chữ Ðại Hán Dương Phụng, kéo hơn một ngàn quân ra.

Nguyên Dương Phụng từ khi bị Lý Thôi đánh, dẫn quân đến đóng ở núi Chung Nam, nghe tin vua đi qua đấy nên đến để đi theo hộ giá. Giữa khi ấy quân Dĩ đến nơi. Hai bên dàn thành thế trận. Tướng Quách Dĩ là Thôi Dũng phóng ngựa ra, mắng Phụng là phản tặc. Phụng giận lắm, ngoảnh đầu lại gọi:

– Công Minh ở đâu?

Một tướng, tay cầm búa lớn, quất ngựa hoa lưu chạy ra, xông thẳng vào đánh Thôi Dũng. Hai ngựa giao nhau, chỉ một hiệp, đầu Dũng đứt rơi dưới chân ngựa.

Phụng thừa thế đánh tràn vào, Quách Dĩ thua to, lui hai mươi dặm.

Phụng thu quân bái kiến thiên tử. Vua dụ bảo rằng:

– Ngươi cứu được trẫm, công thực to!

Phụng cúi đầu lạy tạ. Vua phán hỏi:

– Tướng vừa chém được giặc là ai?

Phụng dắt tướng ấy lại lạy tạ ở dưới xa giá, rồi thưa rằng:

– Người này vốn ở Dương Quận, xứ Hà Ðông, họ Từ tên Hoảng, tên chữ là Công Minh.

Vua lấy lời phủ dụ. Dương Phụng hộ vệ xa giá đến đóng ở Hoa Âm. Tướng quân là Ðoàn i dâng y phục và đồ ăn uống. Ðên hôm ấy vua nghỉ trong trại Dương Phụng.

Quách Dĩ thua một trận, hôm sau đem quân kéo đến cửa trại thách đánh, Từ Hoảng cưỡi ngựa ra trước. Dĩ thả đại quân vây bọc tám mặt. Vua và Dương Phụng cùng bị khốn ở trong vây. Ðương lúc nguy cấp, chợt nghe mé Đông Nam, có tiếng reo nổi ầm, rồi thấy một tướng kéo quân mã đến, phá quân giặc tan vỡ. Từ Hoảng mới thừa thế đánh ra, quân Dĩ bị thua chạy tan vỡ.

Tướng ấy đến ra mắt vua, đó là quốc thích Ðổng Thừa. Vua khóc kể lại chuyện trước.

Thừa tâu rằng:

– Xin bệ hạ đừng lo, tôi xin cùng với Dương tướng quân thề chém hai đứa giặc ấy để yên thiên hạ.

Vua truyền lệnh đi mau đến Ðông Ðô. Xa giá đi suốt đêm ấy đên Hoằng Nông.

Quách Dĩ thua, kéo quân về, vừa gặp ngay Lý Thôi, Dĩ nói:

– Dương Phụng, Ðổng Thừa cứu giá đến Hoằng Nông rồi. Nếu để chúng đi được đến Sơn Ðông, có chỗ đứng chân vững vàng, tất nhiên sẽ bố cáo thiên hạ, mời chư hầu đến đánh anh em ta, thì ba họ nhà chúng ta cũng không giữ nổi.

Thôi nói:

– Nay Trương Tế đóng quân ở Trường An, chưa nên khinh động. Ngươi cùng ta nên tụ quân lại một nơi, rồi đến thẳng Hoằng Nông, giết phăng Hiến Ðế đi, chia thiên hạ làm đôi mỗi người một nửa thì có hay không?

Dĩ mừng lắm, xin vâng ngay. Hai người họp quân làm một, đi đến đâu cướp bóc vét sạch của dân đến đấy.

Dương Phụng, Ðổng Thừa nghe tin quân Thôi, Dĩ kéo đến, liền quay binh trở lại, đánh nhau to ở Ðông Giáu.

Thôi, Dĩ bàn với nhau rằng:

– Quân ta nhiều, quân chúng it. Ta cứ đánh bừa đi là được.

Nói xong rồi, Lý Thôi ở tả, Quách Dĩ ở hữu, kéo tràn quân lại, đầy cả núi, lấp cả đồng. Phụng, Thừa hai người cố liều chết mà đánh, chỉ giữ riết lấy xa giá của vua và hoàng hậu còn các quan, các cung nhân và sổ sách, đồ đạc, các thứ của vua dùng, phải vứt bỏ cả.

Quách Dĩ kéo quân vào Hoằng Nông cướp bóc, Ðổng Thừa, Dương Phụng hộ xa giá chạy sang Thiểm Bắc. Thôi, Dĩ chia quân hai đường đi đuổi. Thừa, Phụng một mặt sai người cùng với Quách Dĩ giảng hòa, một mặt mật đưa chiếu chỉ đến Hà Ðông, kíp với tướng Bạch Ba là Hàn Tiêm, Lý Nhạc và Hồ Tài, đem quân mã ba xứ lại cứu.

Lý Nhạc nguyên là giặc cỏ tụ tập ở núi rừng. Nay bất đắc dĩ cũng phải triệu đến.

Quân ba xứ được tin vua tha tội, lại cho làm quan, liền đem cả quân sĩ bản doanh của mình đến, phối hợp với Ðổng Thừa cùng nhau hội họp làm một lấy lại Hoằng Nông.

Bấy giờ Lý Thôi, Quách Dĩ đi đến đâu, cướp bóc đến đấy, người già yếu đem giết sạch, người khỏe mạnh bắt đi theo làm quân, khi nào đánh nhau bắt dân binh đi trước, gọi là quân cảm tử.

Thế giặc Lý, Quách to lắm. Quân Lý Nhạc đến gặp giặc ở Vị Dương.

Quách Dĩ sai quân đem áo sống, đồ đạc bỏ cả dọc đường. Quân Nhạc thấy áo sống ngổn ngang cả đất, tranh nhau nhặt lấy, nhốn nháo mất cả hàng ngũ. Thôi, Dĩ hai cánh quân đánh dồn lại. Quân Nhạc thua to. Dương Phụng chống chế không nổi, hộ giá chạy sang mặt Bắc. Quân giặc đuổi theo sau lưng. Lý Nhạc nói:

– Việc kíp rồi xin thiên tử lên ngựa đi trước.

Vua nói:

– Ta không nỡ bỏ trăm quan chạy lấy một mình.

Các quân cùng kêu khóc đi theo.

Hồ Tài bị quân giặc giết mất. Phụng, Thừa, thấy giặc đuổi gấp lắm, tâu xin vua xuống xe đi bộ.

Ði đến bờ Hoàng Hà, Lý Nhạc tìm được một chiếc thuyền nhỏ để sang sông.

Bấy giờ trời đang giá rét. Vua và hoàng hậu dắt nhau đến bờ sông, bờ cao quá không xuống được thuyền. Ðằng sau giặc sắp đến nơi.

Dương Phụng nói rằng:

– Nên cởi cương ngựa ra, chắp nối lại, buộc vào lưng vua, để đưa xuống thuyền.

Trong đám có Quốc Cữu là Phục Ðức cắp vài chục tấm lụa trắng, chạy lại nói rằng:

– Trong lúc quân rối loạn, tôi có nhặt được lụa này, xin đem để buộc.

Hành Quân Hiệu Úy là Thượng Hoằng lấy lụa buộc vào lưng vua và hoàng hậu, sai quân sĩ ròng vua xuống thuyền trước.

Lý Nhạc cầm thanh kiếm đứng ở đầu thuyền. Quốc cữu Phục Ðức (vốn là anh hoàng hậu) cõng hoàng hậu xuống.

Trên bờ những người chưa được xuống, tranh nhau vịn vào dây neo, Lý Nhạc lấy kiếm chặt dây rơi cả xuống nước. Khi chở được vua và hoàng hậu sang sông, lại đẩy thuyền lại để chở các quan và quân sĩ. Những người tranh nhau xuống trước bị chặt gẫy cả ngón tay kêu khóc rầm trời. Lúc sang được bên kia sông, tả hữu vua chỉ còn có hơn mười người.

Dương Phụng tìm được một cái xe trâu, rước vua đến Ðại Dương. Hôm ấy phải nhịn đói. Ðến tối mới kiếm được ngôi nhà ngói vào ngủ.

Các bô lão đem cơm dâng, để vua và hoàng hậu xơi, nhưng gạo xấu cơm hẩm, vua và hoàng hậu không sao nuốt được.

Hôm sau vua hạ chiếu phong cho Lý Nhạc làm chinh bắc tướng quân, Hàn Tiêm làm chinh đông tướng quân, rồi lại lên xa giá đi. Lúc đi có hai đại thần tìm đến khóc và lạy ở trước xa giá. Hai người ấy là thái úy Dương Bưu và thái bộc Hàn Dung. Vua và hoàng hậu cũng khóc. Hàn Dung mới tâu rằng:

– Lý Thôi, Quách Dĩ rất tin lời tôi, tôi nguyện liều thân sang dụ chúng bãi binh. Xin bệ hạ giữ lấy long thể.

Hàn Dung đi rồi, Lý Nhạc mời vua vào trại Dương Phụng tạm nghỉ, Dương Bưu lại mời vua về huyện An Ấp. Vua đến An Ấp không có nhà nào cao sạch, vua và hoàng hậu phải vào trọ trong nhà tranh, bốn mặt của ngõ không có, chỉ có rào gai tre. Vua và các quan đại thần vào trong nhà tranh ấy bàn việc. Các tướng đóng quân ở bên ngoài hàng rào để bảo vệ.

Bọn Lý Nhạc từ khi đến giúp vua, ra mặt chuyên quyền. Các quan hơi có ai nói chạm đến, chúng mắng liền ngay trước mặt vua. Chúng lại đưa cho vua ăn uống những rượu đục cơm thô. Vua cũng cứ phải cắn răng mà chịu.

Lý Nhạc và Hàn Tiêm lại có hơn hai trăm đầy tạ bộ hạ, nào thầy cúng, nào thầy thuốc. Hai đứa tâu cho làm hiệu úy, ngự sử cả. Khắc ấn không kịp, lấy dùi vạch gõ ra làm ấn, chẳng ra thể thống gì nữa.

Hàn Dung sang nói vại Lý Thôi, Quách Dĩ. Hai tên giặc ấy cũng nghe, tha cho các quan và những cung nhân được về.

Năm ấy mất mùa to. Trăm họ phải ăn những rau cỏ và ăn táo trừ bữa, chết đói khắp cả thôn dã.

Thái thú Hà Nội là Trương Dương dâng gạo thịt, thái thú Hà Ðông dâng lụa vải, vua cũng hơi được ung dung một chút.

Ðổng Thừa, Dương Phụng bàn nhau rằng:

– Ta nên sai người đi sửa lại các cung điện ở Lạc Dương để rước xa giá về Ðông Ðô.

Lý Nhạc không nghe, Ðổng Thừa mới bảo Nhạc rằng:

– Lạc Dương vốn là nơi thiên tử đóng đô. An Ấp là chỗ đất nhỏ, không sao để được xa giá ở đấy. Nay phụng giá về Lạc Dương là phải hơn.

Lý Nhạc nói:

– Có phải thế, các ông cứ việc phụng giá đi, ta cứ đóng ở đây.

Dương Phụng, Ðổng Thừa cứ phụng giá đem đi.

Nhạc ở lại, sai người kết liên với Lý Thôi, Quách Dĩ, bàn nhau cùng lại để cướp giá.

Phụng, Thừa với Tiêm biết trước được mưu ấy, liền đêm hôm ấy dàn bày quân sĩ, để gìn giữ giá vua, đi vụt ngay đến Cơ Quan. Lý Nhạc nghe tin ấy, không đợi quân Thôi, Dĩ đến nữa, tự mình dẫn quân mã bản bộ mình đi đuổi xa giá. Ðến canh tư đuổi kịp đến dưới núi Cơ Sơn, thét to lên rằng:

– Xa giá không được đi vội. Lý Thôi, Quách Dĩ ở đây!

Vua Hiến Ðế sợ run không được.

Thế rõ thực là:

Khi xưa đôi giặc, đôi quân;
Nay thì ba giặc hợp quần với nhau.

Hồi Thứ Mười Bốn

Tào Mạnh Ðức Rời Giá Đến Hứa Ðô
Lữ Phụng Tiên Đang Đêm Cướp Từ Quận

Lý Nhạc đem quân đuổi theo xa giá, trá xưng là Lý Thôi, Quách Dĩ.

Vua giật mình lo sợ, Dương Phụng nói:

– Ðây là Lý Nhạc đấy.

Phụng sai Từ Hoảng ra đánh, Lý Nhạc tự mình ra địch.

Hai ngựa giao nhau, mới được một hiệp, Hoảng chém một nhát búa, Nhạc chết ngã dưới chân ngựa.

Bọn giặc còn lại chạy tan tác cả.

Phụng bảo vệ xa giá đi qua Cơ Quan, Thái Thú là Trương Dương đem thóc lúa ra đón ở cạnh đường, vua phong cho Dương làm Đại Tư Mã.

Dương từ tạ vua ra đóng đồn ở Giã Vương.

Vua vào Lạc Dương trông thấy của nhà bị đốt cháy hết cả; đường sá rậm rạp; cỏ mọc cao lấp mắt; trong cung điện chỉ có tường đổ, vách nát. Vua sai Dương Phụng cất tạm một cái cung nhỏ để ở.

Trăm quan vào triều mừng đều phải đứng trong đám gai góc.

Vua hạ chiếu đổi niên hiệu Hưng Bình làm Kiến An năm đầu.

Năm ấy mất mùa to. Dân Lạc Dương còn được vài trăm nóc nhà, cũng không có gì ăn, phải ra ngoài thành, bóc vỏ cây, đào rễ cỏ mà ăn.

Còn các quan thì từ Thượng Thư trở xuống cũng phải ra thành hái rau. Có nhiều người bị đè chết ở những chỗ tường đổ vách nát.

Khí vận đời nhà Hán lúc bấy giờ thực là suy đốn, không khi nào người ta từng thấy những cảnh khổ não nhường ấy.

Ðời sau có thơ than rằng:

Máu loang rắn trắng núi Mang Ðường

Cờ đỏ tung hoành khắp bốn phương.

Ðuổi sộc hươu Tần, gây xã tắc,

Ðạp quay ngựa Sở, mở phong cương.

Vua hèn nên để gian tà lắm;

Nước loạn sinh ra giặc giã hoang.

Trông thấy đôi kinh khi vận nạn,

Dẫu rằng dạ sắt cũng sinh thương.

Thái Úy là Dương Bưu tâu với vua rằng:

– Trước bệ hạ đã giáng chiếu, chưa kịp sai ai mang đi. Nay Tào Tháo ở Sơn Ðông, binh hùng tướng giỏi. Nên truyền gọi y vào chầu để giúp nhà vua.

Vua nói:

– Trước ta đã giáng chiếu rồi, ngươi không cần phải tâu nữa. Cứ sai người mang đi lập tức là xong.

Bưu lĩnh chỉ, sai ngay người sang Sơn Ðông với Tào Tháo.

Tào Tháo ở Sơn Ðông, nghe tin xa giá vua đã về đến Lạc Dương, họp những mưu sĩ để bàn.

Tuân Úc nói:

– Ngày xưa, Tấn Văn Công phụng Tương Vương vào làm vua, chư hầu ai cũng phục. Hán Cao Tổ để tang Nghĩa Ðế, ai cũng theo. Nay thiên tử mắc nạn, tướng quân nhân dịp này, cất nghĩa binh, phụng thiên tử để theo nguyện vọng của dân chúng, sách lược rất hay. Nếu ta không làm ngay, người khác sẽ làm trước ta.

Tháo mừng rỡ, đang thu xếp để cất quân đi thì có sứ giả nhà vua đem chiếu đến.

Tháo tiếp được tờ chiếu, cất quân đi liền.

Vua ở Lạc Dương, trăm việc còn thiếu thốn cả.

Thành quách đổ nát cũng chưa sửa sang được. Chợt lại có người báo rằng:

– Lý Thôi, Quách Dĩ lại sắp kéo quân đến.

Vua sợ hãi mới hỏi Dương Phụng:

– Sứ Sơn Ðông chưa về, nay quân Lý, Quách lại đến, làm thế nào bây giờ?

Dương Phụng, Hàn Tiêm đều nói:

– Hai chúng tôi xin hết sức đánh để bảo vệ bệ hạ.

Ðổng Thừa nói:

– Thành quách không bền, binh lính lại ít, đánh ngộ thua thì làm thế nào? Sao bằng rước giá tránh sang Sơn Ðông có hơn không?

Vua theo lời. Nay hôm ấy khởi giá sang Sơn Ðông. Trăm quan không người nào có ngựa cưỡi, đều đi bộ theo giá.

Vừa ra khỏi Lạc Dương, chưa đi được một bước đường nào, đã thấy ở đằng xa xa, bụi bốc mù trời, chiêng trống vang rầm, không biết cơ man nào là quân mã kéo đến. Vua và Hoàng Hậu run sợ quá không nói được, chợt thấy một tên kỵ mã đến, tức là sứ giả đi Sơn Ðông trở về. Sứ giả đến trước giá lạy rồi tâu rằng:

– Tào tướng quân khởi hết cả quân Sơn Ðông, vâng chiếu mệnh đến ngay và nghe thấy Lý Thôi, Quách Dĩ xâm phạm vào Lạc Dương, cho nên trước hết sai Hạ Hầu Ðôn làm tiên phong, dẫn mười viên tướng giỏi và năm vạn tinh binh lại đây trước để hộ giá.

Vua nghe thấy thế, trong bụng mới hơi yên. Ðược một lát quả Hạ Hầu Ðôn dẫn Hứa Chử, Ðiển Vi lại lấy quân lễ yết kiến vua.

Vua úy dụ vừa xong, lại có người báo:

– Mặt Đông có một toán quân kéo đến.

Vua sai Hạ Hầu Ðôn ra xem ai. Ðôn trở về tâu rằng:

– Ðó là một bộ quân của Tào Tháo đã đến.

Ðược một hồi Tào Hồng, Nhạc Tiến, Lý Ðiển vào ra mắt. Ba người tâu xưng tên tuổi xong, Hồng tâu rằng:

– Anh tôi thấy giặc sắp đến, sợ Hạ Hầu Ðôn không đánh nổi, nên sai chúng tôi đi gấp đường đến đây để giúp bệ hạ.

Vua mừng phán rằng:

– Tào tướng quân thế mới thực là bầy tôi xã tắc!

Vua phán rồi sai hộ giá để đi. Giữa lúc ấy lại có thám mã báo rằng:

– Lý Thôi, Quách Dĩ đem quân kéo tràn đến.

Vua sai Hạ Hầu Ðôn chia quân làm hai cánh ra đón đánh.

Một bên Ðôn, một bên Hồng, chia ra hai đường, quân kỵ đi trước, quân bộ đi sau, đánh nhau rất hăng với Lý Thôi, Quách Dĩ.

Quân Thôi, Dĩ thua to. Ðôn, Hồng chém được hơn một vạn đầu giặc; vững thế rồi xin rước vua đi trở lại Lạc Dương. Vua trở về cung, Hạ Hầu Ðôn đóng quân ở ngoại thành.

Hôm sau, Tào Tháo tự lĩnh đại đội binh mã kéo đến. Lập trại đâu vào đấy rồi vào ra mắt vua, lạy ở dưới thềm.

Vua cho Tháo đứng dậy, tuyên dụ ôn tồn. Tháo tâu rằng:

Tôi được nhờ ơn nhà nước, lúc nào cũng lo việc báo đền. Nay Lý Thôi, Quách Dĩ hai đứa giặc đầy tội ác. Tôi có hai mươi vạn tinh binh, lấy chính nghĩa đánh gian tà, thế nào cũng thắng, đánh tất phải được. Xin bệ hạ giữ gìn long thể, lấy xã tắc làm trọng.

Vua liền phong cho Tào Tháo lĩnh chức Tư Lệ Hiệu Úy, cho cờ tiết và lưỡi phủ việt, coi tòa thượng thư.

Lý Thôi, Quách Dĩ biết Tháo từ xa mới đến, bàn nhau muốn đánh ngay.

Giả Hủ can rằng:

– Không nên, Tào Tháo binh hùng, tướng dũng. Không bằng đầu hàng may ra thì khỏi phải tội.

Lý Thôi giận mắng rằng:

– Ngươi dám làm nhục nhuệ khí của ta!

Nói rồi rút kiếm toan chém Giả Hủ. Các tướng cố sức ngăn can, mới tha. Ðêm hôm ấy Giả Hủ lên ngựa một mình về thẳng quê nhà.

Hôm sau, Lý Thôi đem quân mã đến đánh quân Tào Tháo.

Tháo sai Hứa Chử, Tào Nhân, Ðiển Vi lĩnh ba trăm quân thiết kỵ đem ra riễu ở trước trận Lý Thôi ba vòng rồi mới bày trận.

– Bên giặc, cháu Lý Thôi là Lý Thiêm, Lý Biệt cưỡi ngựa ra trước.

Chưa kịp nói điều nào, Hứa Chử đã tế ngựa xông vào, đưa một nhát đao, Lý Thiêm chết quay xuống đất.

Lý Biệt trông thấy giật mình cũng ngã ngựa, rồi bị Hứa Chử chém nốt.

Chử xách hai đầu chạy về.

Tào Tháo mừng vỗ vào lưng Hứa Chử nói rằng:

– Anh thực là Phàn Khoái của ta.

Liền sai Hạ Hầu Ðôn đem quân ra mặt tả, Tào Nhân lĩnh quân ra mặt hữu, Tháo tự lĩnh trung quân xông vào trận.

Một tiếng trống nổi lên, ba đội quân cùng tiến. Quân giặc chống cự không nổi, thua chạy.

Tháo cầm thanh bảo kiếm thúc quân vào, đuổi giết suốt đêm.

Giặc chết nhiều lắm, xin hàng không biết bao nhiêu mà kể.

Thôi, Dĩ chạy trốn về phía Tây, hạt ha hớt hoảng, như chó lạc chủ; tự biết thân không còn nương tựa vào đâu được nữa, hai đứa cùng trốn vào nơi rừng rú làm giặc cỏ kiếm ăn.

Tào Tháo đem binh về, đóng đồn ở ngoài thành Lạc Dương.

Dương Phụng, Hàn Tiêm hai người bàn với nhau rằng:

– Tào Tháo phen này có công to, tất sẽ nắm trọng quyền, sao còn dung bọn chúng ta?

Bèn vào tâu với vua, rồi mượn tiếng xin đi đuổi Lý Thôi, Quách Dĩ, kéo quân bản bộ của mình sang đóng ở Ðại Lương.

Một hôm vua sai sứ vào trại Tào Tháo, để gọi Tháo vào cung bàn việc.

Tháo nghe tin có sứ đến, mời vào đinh thì thấy người ấy mày cong mắt đẹp, tinh thần sảng khoái. Tháo nghĩ thầm rằng:

– Nay ở Ðông Quận này trời làm đói kém, từ quân lính cho chí dân, ai ai cũng có vẻ đói, sao người này béo tốt được như thế này.

Nhân mới hỏi ngay rằng:

– Tôi trông mặt ngài đầy đặn lắm, xin dám hỏi điều dưỡng như thế nào mà được như vậy?

Sứ thưa rằng:

– Thưa tôi cũng không có phép gì lạ cho lắm, vốn chỉ ăn nhạt ba mươi năm nay!

Tháo gật đầu hỏi rằng:

– Ngài hiện làm chức gì?

Sứ nói:

– Tôi vốn đỗ khoa Hiếu Liêm, nguyên làm chức Tùng Sự theo Viên Thiệu và Trương Dương. Nay nghe tin thiên tử đã về đô, tôi đến chầu vua, được phong làm Chánh Nghị Lang. Tên tôi là Ðổng Chiêu, biểu tự Côn Nhân, quê ở Tế Âm, xứ Ðịnh Ðào.

Tháo đứng dậy nói rằng:

– Tôi nghe tiếng ngài đã lâu, nay may được thừa tiếp ngài ở đây.

Nói rồi Tháo đặt tiệc rượu ở trong trướng để khoản đãi rồi lại gọi Tuân Úc ra cùng hội kiến.

Chợt tin báo có một đội quân đi sang phía Ðông, không biết quân nào.

Tháo hỏi rằng:

– Họ có bụng nghi tôi chăng?

Ðổng Chiêu nói:

– Chúng là lũ vô mưu. Minh công hà tất phải lo.

Tháo lại hỏi:

– Thế còn Lý, Quách chuyến này chúng kéo đi thì rồi ra thế nào?

Chiêu thưa:

– Hổ không vuốt, chim gẫy cánh, chẳng mấy lúc sẽ bị minh công bắt được, cần gì phải để ý.

Tào Tháo thấy Ðổng Chiêu nói câu nào cũng lọt tai, bèn hỏi đến những việc lớn trong triều.

Chiêu nói rằng:

– Minh công cất quân nghĩa binh để trừ bạo loạn, vào triều giúp thiên tử, ấy là công nghiệp của ngũ bá. Nhưng các tướng mỗi người một bụng, vị tất họ đã theo phục cả. Nay minh công ở mãi đây, tôi e có điều bất tiện. Chỉ có cách rước vua về Hứa Ðô là hơn. Nhưng triều đình xiêu dạt mãi, mới về được kinh đô xa gần trông mong, ai cũng muốn được yên ổn một chút. Nay lại rời xa giá đi nơi khác, chắc lòng người cũng không phục. Nhưng ở đời có làm được việc phi thường mới có công phi thường. Xin minh công quyết kế đi.

Tháo cầm lấy tay Chiêu cười nói rằng:

– Ấy vẫn là bản chí tôi đó! Nhưng tôi còn e rằng Ðại Lương có Dương Phụng, ở trong triều có các đại thần, đã chắc đâu không sinh biến được!

Chiêu nói:

– Lo chi việc đó! Minh công nên đưa thư sang cho Dương Phụng để cho hắn yên tâm, rồi nói rõ cho các đại thần rằng kinh đô bây giờ không có lương. Rước xa giá sang Hứa Ðô để được gần Lỗ Dương, vận lương cho tiện, không đến nỗi xa xôi thiếu thốn như ở đây. Các đại thần nghe rõ, đều vui lòng nghe theo.

Tháo nghe lời Chiêu nói, mừng rỡ quá chừng. Khi Chiêu từ biệt, Tháo lại nắm tay nói rằng:

– Về sau tôi có làm việc gì xin ngài dạy bảo cho!

Chiêu tạ rồi cáo về.

Từ đó, Tào Tháo ngày ngày bàn với mưu sĩ về việc rời đô.

Bấy giờ thái sử lệnh là Vương Lập, một bữa nói riêng với tôn chính là Lưu Ngải rằng:

– Tôi có xem thiên văn từ mùa xuân năm ngoái đến giờ, sao Thái Bạch (sao kim) phạm vào sao Trấn Tinh ở khoảng sau Ngưu và sao Ðẩu, rồi lại qua dải Ngân Hà; và sao Thái Bạch gặp nhau ở Thiên Quan. Kim với Hỏa hội với nhau, tất nhiên có vua mới ra. Tôi xem khí vận nhà Hán đã hết, trong đất Tấn, Ngụy tất có người nổi lên.

Vương Lập lại mật tâu với vua rằng:

– Mệnh trời lúc đến, lúc đi, ngũ hành thịnh suy bất thường. Thay Hỏa là Thổ, thay nhà Hán có lẽ là ở đất Ngụy.

Tào Tháo nghe tin ấy, sai người bảo Lập rằng:

– Tôi cũng biết ông trung với triều đình, nhưng thiên cơ huyền bí lắm, xin ông chớ nói nhiều.

Táo đem chuyện ấy thuật lại với Tuân Úc.

Úc nói:

– Nhà Hán vốn lấy đức Hỏa làm vua. Mà Minh Công lại mình Thổ, Hứa Ðô cũng thuộc Thổ, đến đấy tất hay. Hỏa sinh Thổ, mà Thổ thì vượng Mộc. Chính hợp với lời Ðổng Chiêu, Vương Lập. Minh Công tất sau này phát lớn.

Từ ấy Tào Tháo nhất quyết thiên đô.

Hôm sau Tháo vào ra mắt vua tâu rằng:

– Ðông Ðô bị tàn phá đã lâu, bấy giờ không sửa sang lại được, vả lại chuyển vận lương thực, vất vả khó nhọc lắm. Hứa Ðô gần Lỗ Dương; thành quách, cung thất, tiền lương, người, của cải gì cũng có đủ. Tôi xin rước xa giá về Hứa Ðô. Ngửa trông lượng thánh ưng cho.

Vua phải nghe. Các quan ông nào cũng sợ Tào Tháo mạnh thế không ai dám ngăn điều gì, liền chọn ngày để khởi giá. Tháo tự dẫn quân đi trong nom. Các quan cũng đi theo cả.

Ði chưa được vài dặm đến một chỗ gò cao, bỗng thấy tiếng reo ầm ầm, rồi thấy Dương Phụng, Hàn Tiêm kéo quân ra chẹn đường.

Từ Hoảng đứng đầu kêu to lên rằng:

Tào Tháo cướp thánh giá đem đi đâu?

Tháo phóng ngựa ra xem, trông thấy Từ Hoảng uy phong lẫm liệt, có lòng khen thầm, liền sai Hứa Chử ra trận.

Hai người bên đao bên búa, đánh nhau hơn năm mươi hiệp chưa thấy bên nào được bên nào thua.

Tháo sai gõ chiêng rút quân về, gọi các mưu sĩ lới bàn rằng:

– Dương Phụng, Hàn Tiêm không đáng kể, chỉ có Từ Hoảng thực là tướng tài. Ta không nỡ lấy sức mạnh địch lại, muốn dùng kế chiêu dụ thì hơn.

Hành quân tùng sự là Mãn Sủng nói:

– Chúa công đừng lo. Tôi với Từ Hoảng, có quen biết nhau. Tối hôm nay để tôi giả làm tên lính, lẩn vào trại anh ta, tôi thuyết phục anh ta, anh ta sẽ sang hàng chúa công.

Tào ưng ý lắm, cho Sủng đi.

Ðêm hôm ấy Sủng ăn mặc giả làm tên lính, đi lộn vào đội quân bên kia, lẻn đến trước màn Tử Hoảng, thấy Hoảng thắp nến mặc áo giáp đang ngồi. Sủng đánh bạo xông đến tận trước mặt, vái rồi hỏi rằng:

– Cố nhân lâu nay vẫn mạnh khỏe?

Hoảng giật mình đứng dậy, nhìn kỹ Sủng rồi hỏi rằng:

– Anh có phải là Man Bá Minh ở Sơn Dương đó không? Có việc gì đến đây?

Sủng nói:

– Tôi hiện đang làm Tùng Sự ở dinh Tào tướng quân, hôm nay ở trước trận, trông thấy cố nhân, muốn dâng một câu nói, nên liều chết lại đây.

Hoảng mời ngồi, hỏi ý làm sao. Sủng nói:

– Ông là người dũng lược, đời nay hiếm có, sao lại phải khuất thân đi theo bọn Dương Phụng, Hàn Tiêm. Tào tướng quân là đấng anh hùng thời nay, biết yêu người hiền, kính kẻ sĩ, thiên hạ đều biết tiếng. Hôm nay ở trước trận, thấy ông khỏe mạnh, trong bụng mười phần kính yêu, không nỡ sai tướng khỏe ra để giết nhau. Bởi vậy Tào công sai tôi đến đây để mời ông. Xin ông bỏ chỗ tối, qua nơi sáng, để cùng Tào công làm nên nghiệp lớn.

Từ Hoảng nghĩ ngợi một hồi, chép miệng than rằng:

– Ta cũng biết Dương Phụng, Hàn Tiêm không phải là tay lập được nghiệp, nhưng theo đã lâu rồi, bây giờ không nỡ bỏ.

Sủng lại nói:

– Ông há lại không biết rằng: chim khôn tìm cây mà đậu, người hiền chọn chủ mà thờ. Nay ông đã gặp được chủ đáng thờ, bỏ lỡ mất cơ hội tốt sao gọi là người trượng phu?

Hoảng đứng dậy tạ nói rằng:

– Xin nghe lời ngài dạy!

Sủng nói:

– Ðã vậy, sao ông không giết ngay Dương Phụng, Hàn Tiêm để làm lễ yết kiến.

Hoảng nói:

– Làm bầy tôi mà giết chủ, điều ấy thực là bất nghĩa, tôi quyết không làm!

Sủng nói:

– Ông thực là người nghĩa sĩ!

Từ Hoảng liền dẫn vài mươi tên kỵ mã, ngay đêm hôm ấy cùng với Mãn Sủng, chạy sang trại Tào Tháo.

Có người báo với Dương Phụng, Phụng giận lắm đem ngay một ngàn kỵ mã đuổi theo, gọi to lên rằng:

– Phản tặc Từ Hoảng đừng chạy nữa!

Trong khi đang đuổi, chợt nghe thấy một tiếng pháo nổ, trên núi dưới đống lửa đuốc sáng choang, quân phục bốn mặt kéo ra. Tào Tháo tự dẫn quân đi trước, quát lên rằng:

– Ta đợi đây đã lâu. Chớ để cho bọn chúng chạy thoát.

Dương Phụng khiếp đảm, chực thu quân về nhưng đã bị quân Tào vây bọc.

May đâu, giữa lúc ấy Hàn Tiêm kéo quân lại cứu.

Hai bên đánh nhau, Phụng chạy được thoát; Tháo thừa thế đánh.

Quân sĩ Phụng, Tiêm đầu hàng quá nửa.

Hai người thế cô, nhặt nhạnh quân sót rồi sang với Viên Thuật.

Tháo thu quân về dinh, bấy giờ Mãn Sủng dẫn Từ Hoảng vào ra mắt.

Tháo mừng rỡ, đãi Từ Hoảng rất hậu, rồi rước loan giá về Hứa Ðô sửa sang nhà cửa, cung miếu, lập tôn miếu, xã tắc, cùng các tòa, các dinh và các nha môn; lại xây thành quách, lập kho tàng.

Lũ Ðổng Thừa cả thẩy ba mươi người, đều được phong làm liệt hầu.

Thưởng người có công, phạt kẻ có tội, các việc hết thẩy đều do Tào Tháo coi xét.

Tháo tự phong mình làm đại tướng quân, Vũ Bình Hầu; Tuân Úc làm Thị Trung Thượng Thư Lịnh; Tuân Du làm Quân Sư; Quách Gia làm Tư Mã Tế Tửu, Lưu Việp làm Tư Thông Duyện Tào; Mao Giới, Nhiệm Tuấn làm Điểm Nông Trung Lang Tướng, coi về việc thúc đốc tiền lương; Trình Dục làm tướng ở quận Ðông Bình; Phạm Thành, Ðổng Chiêu làm quan lịnh ở Lạc Dương; Mãn Sủng làm quan lịnh ở Hứa Ðô; Hạ Hầu Ðôn, Tào Hồng, Tào Nhân đều làm tướng quân; Lã Kiền, Lý Ðiển, Nhạc Tiến, Vu Cấm, Từ Hoảng đều làm Hiệu Úy; Hứa Chử, Ðiển Vi làm Đô Úy. Còn bao nhiêu tướng sĩ đều phong quan cả.

Từ đấy quyền to trong nước đều vào tay Tào Tháo. Nội các việc lớn triều đình, trước trình Tào Tháo, sau mới tâu vua.

Khi Tháo đã định xong việc lớn, mới mở một cuộc yến ở hậu đường, họp các mưu sĩ lại bàn rằng:

– Lưu Bị đóng quân ở Từ Châu, tự lĩnh chức, coi việc ở đó. Mới rồi Lữ Bố nhân ta đánh thua, cũng chạy về đấy, Bị cho ở Tiểu Bái. Nếu hai người ấy đồng tâm kéo đến xâm phạm vào Hứa Ðô, cũng là một điều nguy, ta vốn trong bụng vẫn lo việc ấy. Các ông có nghĩ được kế gì trừ được hai người ấy không?

Hứa Chử nói:

– Tôi xin lĩnh năm vạn tinh binh, đi chém được đầu Lưu Bị, Lữ Bố đem vào dâng thừa tướng.

Tuân Úc lại can Hứa Chử rằng:

– Tướng quân khỏe thì khỏe thực, nhưng tướng quân không biết dùng mẹo. Nay Hứa Ðô mới dựng, chưa được vững vàng, chưa nên hấp tấp cất quân. Tôi xin hiến một kế, gọi là kế Hai Hổ Tranh Ăn. Lưu Bị bây giờ lĩnh ở Từ Châu, nhưng chưa có chiếu mệnh. Vậy minh công nên tâu Hoàng thượng giáng chiếu cho y được thực thụ làm chức mục Từ Châu; nhân thể đưa cho Lưu Bị một bức mật thư sai y giết Lữ Bố. Nếu Lưu Bị tuân lệnh giết được Lữ Bố thì y mất tay phù tá; bằng y không giết nổi thì Lữ Bố giết y. Thế gọi là cái kế hai hổ tranh ăn.

Tào Tháo nghe kế ấy, liền tâu xin chiếu mệnh, rồi sai ngay sứ sang Từ Châu, phong cho Lưu Bị làm Chinh Đông tướng quân, Nghi Thành Đình Hầu, lĩnh Từ Châu mục, lại đưa thêm một phong mật thư.

Lưu Bị ở Từ Châu, nghe tin vua dời đô sang Hứa Ðô, sắp sửa dâng biểu chúc mừng, chợt có người báo: có sứ nhà vua đến.

Bị ra đón rước vào thành, lạy tạ ân mạng xong rồi, mở yến thiết đãi sứ giả.

Sứ nói:

– Ngài được ân mạng này, đều là nhờ có Tào Thừa Tướng hết sức tiến cử.

Lưu Bị tạ ân. Sứ bấy giờ mới đưa mật thư ra, Lưu Bị xem xong thư nói rằng:

– Việc này xin để thong thả cho tôi bàn luận.

Tiệc tan, Bị mời sứ giả ra nghỉ ngoài quán khách, đêm hôm đó bàn với các tướng.

Trương Phi nói:

– Lữ Bố là người vô nghĩa, giết hắn đi có ngại gì.

Lưu Bị nói:

– Người ta thề cùng về với ta. Nếu ta giết đi, thế là bất nghĩa.

Trương Phi nói:

– Làm người tốt khó lắm!

Lưu Bị nhất định không nghe.

Hôm sau, Lữ Bố lại mừng. Lưu Bị cho ra mời vào, Bố nói:

Nghe ngài mới được ân mệnh triều đình, nên tôi đến mừng.

Lưu Bị cám ơn. Trong khi ấy Trương Phi cầm kiếm đợi ở cổng đường, định Lữ Bố ra thì giết.

Lưu Bị trông thấy vội vàng ngăn lại.

Lữ Bố kinh hãi, nói rằng:

– Dực Ðức chỉ lăm lăm giết ta, là cớ làm sao?

Trương Phi thét lên rằng:

– Tào Tháo bảo ngươi là đứa vô nghĩa, bảo anh ta giết ngươi.

Lưu Bị vội vàng quát Trương Phi ra, mời Lữ Bố vào hậu đường, nói rõ đầu đuôi, rồi đưa mật thư của Tào Tháo cho Lữ Bố xem.

Lữ Bố xem xong thư, khóc nói rằng:

– Ấy là tên giặc Tào hắn muốn cho hai chúng ta không được hòa với nhau đó.

Lưu Bị nói:

– Xin anh đừng lo. Tôi quyết không bao giờ làm điều bất nghĩa ấy.

Lữ Bố hai ba lần bái tạ. Bị giữ Bố lại uống rượu mãi đến chiều mới về.

Lữ Bố về, Quan, Trương mới hỏi Lưu Bị rằng:

– Huynh trưởng làm sao không giết Lữ Bố?

Lưu Bị nói:

– Ðó là Tào Tháo hắn sợ ta cùng với Lữ Bố đồng mưu đánh hắn, cho nên hắn dùng kế ấy, để cho hai bên giết lẫn nhau. Sao mình lại có thể để cho hắn lợi dụng được.

Quan Công gật đầu bảo: Phải!

Trương Phi nói:

Tôi chỉ muốn giết tên giặc ấy để khỏi phải lo về sau.

Lưu Bị nói:

– Làm thế sao gọi là trượng phu?

Hôm sau Lưu Bị tiễn sứ giả về kinh; dâng biểu tạ ân và đưa thư trả lời Tào Tháo, nói xin để thong thả sẽ làm.

Sứ về kinh vào ra mắt Tào Tháo, thuật chuyện Huyền Ðức không giết Lữ Bố.

Tào Tháo mới hỏi Tuân Úc:

– Kế ấy không xong làm thế nào?

Úc nói:

– Tôi lại có một kế nữa, gọi là kế xua hổ nuốt sói.

Tháo nói:

– Kế ấy thế nào?

Úc nói:

– Tướng quân nên sai người đi hỏi thăm Viên Thuật, rồi mật bảo Thuật rằng: Lưu Bị dâng mật biểu muốn lấy Nam Quận, Thuật tất giận đánh Lưu Bị. Minh công lại đưa chiếu rõ ràng sai Lưu Bị đánh Viên Thuật. Hai bên đánh nhau, Lữ Bố tất sinh bụng khác, thế gọi là: xua hổ cho nó nuốt sói.

Tháo ưng ý lắm, một mặt sai ngay người đến Viên Thuật, một mặt lấy chiếu vua, sai đem đến Từ Châu.

Lưu Bị ở Từ Châu nghe có sứ đến, ra thành mời đón vào.

Bị mở chiếu ra đọc, chiếu sai Lưu Bị khởi binh đánh Viên Thuật. Lưu Bị vâng lệnh, tiễn sứ về trước.

My Chúc nói:

– Ðây lại là kế Tào Tháo!

Lưu Bị nói:

– Ðành là kế của Tào Tháo, nhưng lệnh vua thì phải vâng theo.

Nói rồi lập tức điểm quân mã, ngay hôm ấy kéo đi.

Tôn Càn nói:

– Trước hết hãy nên cử người giữ lấy thành.

Quan Công thưa:

– Em xin giữ.

Lưu Bị nói:

– Ta sớm tối lúc nào cũng cần đến em bàn các việc, rời nhau ra làm sao được?

Trương Phi nói:

– Em xin giữ.

Lưu Bị bảo Phi rằng:

– Em thì giữ làm sao được! Một là em rượu vào hung hăng lên, đánh lính tráng, hai là em làm việc gì cũng coi thường, không chịu nghe ai can gián. Ta không đành lòng.

Phi nói:

– Từ giờ trở đi, em xin không uống rượu. Không đánh lính tráng, ai can bảo gì em cũng xin nghe.

My Chúc nói:

– Tôi e rằng bụng nghĩ không được như miệng nói.

Phi giận mắng My Chúc rằng:

– Ta theo anh ta đã lâu năm, chưa từng có thất tín câu nào, sao ngươi dám khinh ta như thế?

Lưu Bị nói rằng:

– Ðã đành như thế, nhưng ta vẫn chưa yên tâm. Em nên mời Trần Nguyên Long lại đây để giúp; sớm chiều từ nay em phải bớt uống rượu, đừng để hỏng sự mới được.

Trần Ðăng vâng lĩnh lời. Lưu Bị dặn dò đâu đấy cả rồi, dẫn ba vạn quân mã bộ, rời Từ Châu sang Nam Dương.

Viên Thuật nghe thấy tin Lưu Bị dâng biểu muốn lấy châu huyện, giận lắm nói rằng:

– Hắn là đứa dệt chiếu, đóng dép, nay chiếm giữ được quận to, đứng ngang với chư hầu. Ta định đánh hắn, hắn nay lại định sửa ta à? Thực là tức quá!

Thuật nói rồi, liền sai thượng tướng là Kỷ Linh dẫn mười vạn quân kéo sang Từ Châu.

Hai bên gặp nhau ở Vu Thai.

Lưu Bị ít binh, dựa vào cạnh núi, men sông đóng trại.

Kỷ Linh, là người ở Sơn Ðông, sử dụng một thanh đao ba mũi, nặng năm mươi cân, hôm ấy kéo quân ra trận, quát mắng rằng:

– Lưu Bị là một đứa thôn phu. Sao dám xâm phạm vào đất ta?

Lưu Bị nói:

– Ta nay phụng chiếu của vua sang đây đánh kẻ nghịch thần. Sao ngươi dám kháng cự. Tội ngươi đáng chết!

Kỷ Linh giận lắm, múa đao xông vào đánh.

Quan Vũ quát rằng:

– Thằng thất phu kia, chớ được cậy khỏe!

Nói rồi tế ngựa ra đánh nhau với Kỷ Linh. Ðánh được hơn ba mươi hiệp, chưa phân bên nào được bên nào thua, Kỷ Linh kêu to lên: Hãy nghỉ!.

Quan Công quay ngựa về đứng đợi ở cửa trận.

Kỷ Linh sai phó tướng là Tuân Chính ra.

Quan Công không thèm đánh, bảo rằng:

– Ngươi về gọi Kỷ Linh ra đây!

Chính nói:

– Ngươi là vô danh hạ tướng, không xứng đánh nhau với Kỷ tướng quân.

Quan Công điên ruột, xông vào chém Tuân Chính, chỉ một nhát chết ngay.

Lưu Bị thúc quân đánh tràn vào trận.

Kỷ Linh thua to, lui về giữ ở cửa sông Hoài Âm không dám ra đánh nữa, chỉ sai quân sĩ cướp dinh rình trại, nhưng hễ tên nào ra thì quân Từ Châu đánh giết phải thua chạy.

Nay ta hãy để hai bên chống cự nhau, mà nói chuyện Trương Phi ở nhà giữ việc Từ Châu.

Từ khi Lưu Bị đi, bao nhiêu việc tạp vụ, Trương Phi giao mặc Trần Ðăng coi sóc, còn việc quân cơ lớn thì tự mình suy xét làm lấy.

Một hôm Phi mở một tiệc yến, mời các quan đến ăn. Các quan ngồi đâu đó rồi, Trương Phi mời nói rằng:

Khi anh tôi đi, có dặn nên bớt uống rượu, sợ rằng say sưa rồi hỏng việc, vậy tôi xin mời các quan hôm nay uống một bữa thực say, rồi từ mai trở đi, cấm hẳn, không ai được uống nữa, phải giúp tôi để giữ thành trì. Hôm nay phải uống cho thực say mới được!

Trương Phi nói xong, đứng dậy cầm chén mời các quan. Khi cầm chén đến trước mặt Tào Báo, Báo từ chối rằng:

– Tôi theo thiên giới không uống rượu.

Phi nói:

– Những hảo hán đánh nhau giết người, sao lại không uống rượu. Hôm nay, ta muốn ngươi uống một chén.

Tào Báo sợ quá cố uống một chén.

Trương Phi cầm chén mời tất cả các quan, rồi rót một cốc thực to cho mình, hớp một hớp hết nhẵn, lại rót cốc nữa, làm một chập đủ mười cốc rựu đầy.

Lúc bấy giờ ý chừng say quá, Trương Phi lại đứng dậy cầm chén đi vòng mời các quan, khi đi đến trước Tào Báo, Báo nói:

– Tôi thực không sao uống được nữa.

Phi hỏi:

– Ngươi vừa uống được sao bây giờ lại từ chối.

Báo nhất định không uống.

Trương Phi bấy giờ say rượu nóng tính, nổi giận mắng rằng:

– Ngươi dám trái tướng lệnh ta, đáng đánh một trăm roi.

Trần Ðăng can rằng:

– Khi ông Huyền Ðức đi dặn ông như thế nào?

Phi nói:

– Ngươi là quan văn, chỉ coi việc văn thôi, đừng có cai quản ta ở đây!

Tào Báo không làm sao được, kêu rằng:

– Xin Dực Ðức nể mặt con rể tôi mà tha lỗi cho tôi!

Phi hỏi:

– Rể ngươi là ai?

Báo thưa:

– Lữ Bố!

Phi giận lắm quát rằng:

– Ta vốn không muốn đánh ngươi, nay ngươi lại đem Lữ Bố dọa ta, thì ta đánh, ta đánh ngươi cũng như đánh tên Lữ Bố.

Các quan xô cả lại can cũng không được.

Quân lính lôi Tào Báo ra đánh đến năm mươi roi, các quan năn nỉ ngăn can mãi mới thôi.

Tiệc tan.

Tào Báo trở về, giận quá, ngay đêm hôm ấy sai người cầm phong thư, đi tắt đến Tiểu Bái, vào ra mắt Bố, kể hết đầu đuôi chuyện Trương Phi vô lễ.

Trong thư lại nói rằng:

“Lưu Bị đã sang Hoài Nam, đêm hôm nay nhân Trương Phi say rượu, kéo quân đến đánh úp lấy Từ Châu, là một dịp ít có, không nên để lỡ”

Lữ Bố xem xong thư, cho mời Trần Cung đến bàn, Cung nói:

– Tiểu Bái không phải là nơi ở lâu được. Nay Từ Châu đã có cơ lấy được, không lấy ngay đi, sau hối không kịp.

Bố nghe lời, lập tức mặc áo giáp lên ngựa, dẫn năm trăm kỵ mã đi trước, sai Trần Cung dẫn đại quân đi sau. Cao Thuận cũng kéo quân đến theo.

Tiểu Bái cách Từ Châu có bốn mươi dặm, đi một thôi ngựa thì đến. Lữ Bố đến dưới thành, lúc đầu canh tư trăng sáng vằng vặc, trên thành không ai biết. Lữ Bố đến tận bên thành gọi rằng:

– Lưu sứ quân có việc cơ mật sai người đến.

Trên thành có quân báo với Tào Báo, Báo lên thành xem rồi sai quân sĩ mở cửa ra. Bấy giờ Lữ Bố mới nổi một tiếng hiệu, quân sĩ đều kéo ùa vào thành, tiếng reo kinh động.

Trương Phi say rượu đang ngủ ở trong nhà. Tả hữu vội vàng lay tỉnh dậy bảo rằng:

– Lữ Bố đã lừa mở được cửa thành, quân hắn kéo cả vào rồi.

Trương Phi giận quá, vội vàng mặc áo giáp, vác ngọn bát xà mâu, vừa ra được cửa phủ lên được mình ngựa, thì quân Lữ Bố đến nơi. Bấy giờ Phi hãy còn say rượu, không đánh được khỏe. Lữ Bố cũng biết sức mạnh của Trương Phi, không dám đánh ráo riết quá.

Mười tám tướng kỵ mã nước Yên bảo vệ Trương Phi, chạy ra cửa Ðông.

Vợ con Lưu Bị ở trong phủ, Trương Phi cũng không kịp nhìn đến.

Tào Báo thấy Trương Phi chỉ còn vài mươi người đi theo, lại khinh y còn say, đem hơn một trăm người ra đuổi.

Phi trông thấy Báo, giận lắm, tế ngựa lại đánh, chỉ ba hiệp, Tào Báo thua chạy.

Trương Phi đuổi đến bờ sông, cầm ngọn mâu từ đằng xa phóng lại, trúng giữa lưng Tào Báo, cả người lẫn ngựa chết lăn xuống sông.

Trương Phi đứng ngoài thành, hò gọi quân sĩ. Người nào ra được đều theo y đi sang Hoài Nam.

Lữ Bố vào được thành, phủ dụ dân rồi sai một trăm quân giữ cửa nhà Lưu Bị, không cho ai được vào.

Trương Phi dẫn vài mươi tên kỵ mã đi thẳng đến Vu Thai vào hầu Lưu Bị, nói hết cả chuyện Tào Báo cùng Lữ Bố, trong ứng ngoài hợp, đang đem đánh úp lấy Từ Châu.

Các quan nghe chuyện ai cũng mất máu mặt, duy Lưu Bị chỉ than có một câu:

– Ðược cũng chẳng nên mừng, mất cũng chẳng nên lo!

Quan Vũ hỏi:

– Thế còn chị đâu?

Trương Phi nói:

– Hãm cả ở trong thành.

Lưu Bị nín lặng chẳng nói câu gì.

Quan Công dẫm chân mắng rằng:

– Khi trước ngươi đòi giữ thành, nói những câu gì? Anh dặn ngươi như thế nào? Bây giờ thành trì thì mất, chị lại bị hãm, thế ra làm sao?

Phi nghe anh mắng, sợ hãi không biết đường nào, rút ngay kiếm ra định tự vẫn.

Thế thực là:

Nghiên bầu nốc rượu sao vui?
Rút kiếm tự vẫn sự thôi đã rồi!

Hồi Thứ Mười Lăm

Thái Sử Từ Ham Đả Tiểu Bá Vương
Tôn Bá Phù Hăng Đánh Nghiêm Bạch Hổ

Cuối hồi trước, đang nói chuyện Trương Phi rút kiếm ra sắp tự vẫn, Lưu Bị trông thấy vội vàng bước lên giật lấy kiếm, vứt xuống đất rồi nói rằng:

– Xưa có câu rằng: “Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc”. Áo rách còn dễ may, chân tay gãy, chắp sao được? Ba anh em ta kết nghĩa với nhau ở vườn đào, đã thề cùng sống chết với nhau. Nay dù mất thành trì, vợ con đi nữa, sao nở để anh em nửa đường chết đi cho đành. Phương chi thành trì không phải của ta, vợ con ta bị hãm ở trong thành, nhưng ta chắc Lữ Bố không nỡ giết, cũng còn nghĩ kế cứu được. Hiền đệ lầm một lúc, việc gì đã đến nỗi quyên sinh?

Lưu Bị nói xong rỏ nước mắt khóc.

Quan, Trương cũng khóc cả.

Viên Thuật biết rằng Lữ Bố đã cướp Từ Châu, sai người đến nói với Bố rằng: Hễ Bố cùng giúp đánh Lưu Bị sẽ đưa cho năm vạn hộc lương, năm trăm ngựa, một vạn lạng vừa vàng vừa bạc, một ngàn tấm vóc nhiễu.

Bố ưng ý lắm, sai ngay Cao Thuận dẫn năm vạn quân đến đánh mé sau Lưu Bị.

Lưu nghe tin ấy, nhân khi mưa dầm, rút quân bỏ Vu Thai chạy, muốn về lấy Quảng Lăng.

Khi Cao Thuận đến nơi, Lưu Bị đã đi rồi.

Thuận vào ra mắt Kỷ Linh, đòi những đồ Viên Thuật đã hứa cho.

Linh nói:

– Ông cứ về. Ðể tôi vào nói với chúa tôi.

Thuận từ giã Kỷ Linh, về thuật lại với Lữ Bố.

Bố còn đang hồ nghi, chợt có thư Viên Thuật đưa đến, trong thư nói rằng:

“Cao Thuận tuy có đến giúp, nhưng Lưu Bị chưa trừ được. Ðợi khi nào bắt được Lưu Bị, bấy giờ tôi sẽ đưa các đồ đã hứa đến cho ngài. ”

Bố giận lắm, cho Viên Thuật là đồ thất tín, muốn kéo quân sang đánh, Trần Cung can rằng:

– Không nên! Viên Thuật giữ Thọ Xuân, binh nhiều lương rộng. Chớ nên khinh địch. Không bằng mời Lưu Bị lại đóng ở Tiểu Bái để làm vây cánh cho ta. Về sau sai Lưu Bị làm tiên phong, trước đánh Viên Thuật sau đánh Viên Thiệu rồi có thể tung hoành thiên hạ được.

Bố nghe lời, sai người đem thư đi mời Lưu Bị.

Bấy giờ Lưu Bị đã kéo quân về Ðông lấy đất Quảng Lăng, bị Viên Thuật vào cướp trại, quân lính hao hụt quá nửa, gặp sứ của Lữ Bố đến, đưa thư mời về Tiểu Bái.

Lưu Bị mừng lắm. Quan, Trương nói:

– Lữ Bố là đứa bội vông ơn nghĩa, không nên tin.

Lưu Bị nói:

– Hắn lấy bụng tử tế đãi ta, việc gì phải nghi?

Ba anh em lại kéo quân về Từ Châu.

Lữ Bố sợ Lưu Bị còn nghi hoặc, trước hết sai người đưa trả lại gia quyến. Cam phu nhân và My phu nhân về gặp Lưu Bị kể hết sự tình, nói rằng Lữ Bố sai người giữ cửa nhà, không cho ai được vào, lại thường sai thị thiếp đưa đồ ăn, thức dùng đến, không bao giờ phải thiếu thốn.

Lưu Bị mới bảo Quan, Trương rằng:

– Ta đã biết Lữ Bố tất không hại gia quyến ta!

Lưu Bị vào thành để tạ Lữ Bố. Trương Phi không chịu theo vào, đem hai chị về Tiểu Bái trước.

Lưu Bị vào ra mắt lạy tạ Lữ Bố.

Bố nói:

– Tôi không phải muốn cướp thành. Bởi vì Trương Phi ở đây, hay say rượu giết người, tôi e xẩy ra chuyện bất trắc, nên tôi lại giữ hộ đấy thôi!

Lưu Bị nói:

– Tôi vẫn muốn nhường anh đã lâu.

Bố giả dạng nhường lại cho Lưu Bị. Lưu nhất quyết không chịu, về đóng ở Tiểu Bái.

Quan, Trương trong bụng không bằng lòng.

Lưu Bị nói:

– Nhún mình yên phận, để đợi thời, không thể cưỡng lại số mệnh được!

Lữ Bố thường thường sai người đưa lương ăn và vải lụa đến. Từ bấy giờ hai bên lại hòa thuận với nhau.

Trong khi ấy thì Viên Thuật ở Thọ Xuân mở tiệc yến to, hội tướng sĩ lại ăn uống.

Chợt có người báo rằng:

– Tôn Sách đi đánh Thái Thú Lư Giang là Lục Khang, thắng lợi trở về.

Thuật gọi Sách đến, Sách lạy ở dưới thềm.

Thuật hỏi han chuyện trò xong rồi cho Sách ngồi dự tiệc.

Nguyên Tôn Sách từ khi cha mất, về ở Giang Nam kính người hiền, tôn kẻ sĩ, sau nhân Ðào Khiêm cùng với cậu Sách, là Thái Thú Ðan Dương tên là Ngô Cảnh không hòa với nhau, Sách mới đem mẹ và gia thuộc về Khúc A, mình thì sang ở với Viên Thuật.

Thuật yêu Sách lắm, thường vẫn than rằng:

– Giá ta có được đứa con như Tôn Lang, chết cũng không ân hận gì nữa.

Thuật cho Sách làm Hoài Nghĩa Hiệu Úy, sai đem binh sang đánh Tổ Lang ở Kinh Huyện.

Sách đánh được.

Thuật thấy Sách giỏi, lại sai sang đánh Lục Khang, cũng đánh được. Bấy giờ trở về.

Sách vào ăn tiệc.

Khi tiệc đã tan, Sách về trại, nghĩ trong tiệc Thuật đãi mình khí ngạo bỉ một chút, trong bụng buồn bực, bèn lẩn đi bách bộ dưới bóng trăng ngoài sân. Nhớ đến sự ngày xưa, cha là Tôn Kiên thì anh hùng như thế mà mình thì lưu lạc thế này, bất giác hu hu cất tiếng khóc.

Chợt có người ở ngoài đến cười to lên hỏi rằng:

– Bá Phù sao thế? Khi Tôn công còn, việc gì cũng dùng đến ta, nay người có việc gì không quyết, sao chẳng hỏi ta mà lại khóc thế?

Sách trông xem ai, thì là Chu Trị, tên chữ là Quân Lý, người ở Ðan Dương; nguyên là tùng sự của Tôn Kiên ngày xưa.

Sách gạt nước mắt mời ngồi nói rằng:

– Tôi khóc là vì tôi giận tôi không nối được chí cha tôi ngày xưa.

Trị nói:

– Sao không nói với Viên Công Lộ, mượn binh kéo sang Giang Ðông, mượn tiếng là đi cứu Ngô Cảnh, nhưng sự thực là để mưu đồ nghiệp lớn, sao lại cứ chịu mãi ở dưới người ta?

Hai người đang bàn nhau, chợt lại có một người nữa ở đâu chạy vào nói rằng:

– Các ông bàn nhau việc gì tôi đã biết rồi, nay tôi có trăm quân tinh tráng, xin giúp Bá Phù một tay.

Sách nhìn xem ai thì là mưu sĩ của Viên Thuật tên là Lã Phạm, tên chữ là Tử Hoành, người ở Nhữ Dương.

Sách mừng lắm, mời cùng ngồi nói chuyện.

Lã Phạm nói:

– Tôi chỉ lo Viên Thuật không cho mượn quân.

Sách nói:

– Tôi có một vật báu để làm tin. Vật ấy là truyền quốc ngọc tỉ của cha tôi để lại cho.

Phạm nói:

– Công Lộ thèm được ngọc đó đã lâu.

Hôm sau Sách vào ra mắt Viên Thuật, khóc nói rằng:

– Thù cha tôi chưa báo được, ngày nay cậu tôi là Ngô Cảnh lại bị thứ sử Dương Châu là Lưu Do bức bách. Mẹ già và vợ con ở cả Khúc A, e rằng sẽ bị hại. Vậy tôi xin mượn tướng quân vài ngàn hùng binh để sang sông cứu nạn, và để thăm nhà. Sợ minh công không tin, tôi xin đem ngọc tỉ của cha tôi để lại, để làm tin.

Thuật thấy ngọc tỉ vồ ngay lấy xem, mừng lắm nói rằng:

– Ta không phải cầu chi ngọc tỉ của ngươi, nhưng hãy tạm để đây, ta cho mượn ba ngàn binh, năm trăm ngựa, khi nào bình định rồi phải về ngay. Vả ngươi nay chức nhỏ ngôi thấp, khó giữ được quyền lớn, ta cất cho ngươi lên làm Triết Sung Hiệu Úy, Điển Khấu Tướng Quân.

Ngay ngày hôm đó cho lãnh quân đi.

Sách lạy tạ rồi dẫn quân mã, đem cả Chu Trị, Lã Phạm và tướng cũ của cha là Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương, chọn ngày khởi binh.

Ði đến Lịch Dương, gặp một toán quân, có một người đi trước, dáng điệu phong lưu, nghi dung đẹp đẽ, trông thấy Tôn Sách, nhảy xuống ngựa vái một vái.

Sách nhìn xem ai, thì là Châu Du, tự là Công Cẩn, người ở Thư Thành, quận Lư Giang.

Vốn khi Tôn Kiên đánh Ðổng Trác, Du đem gia quyến về ở Thư Thành. Du với Sách hai người cùng một tuổi, chơi với nhau rất thân, kết làm anh em.

Sách hơn Du có vài tháng. Du thờ làm anh.

Chú Châu Du là Châu Thượng, làm thái thú ở Ðan Dương.

Bữa ấy Du sang thăm chú, đi đến đó gặp Tôn Sách.

Sách mừng lắm, đem sự tình kể với Du. Du nói:

– Tôi xin hết sức khuyển mã, để cùng huynh mưu toan nghiệp lớn.

Sách nói:

– Ta nay được Du, việc lớn tất phải xong.

Rồi bảo Chu Trị, Lã Phạm cùng đến gặp Châu Du.

Du bảo Sách rằng:

– Huynh nay muốn làm việc to, có biết Giang Ðông có hai họ Trương không?

Sách hỏi:

– Ai vậy?

Du nói:

– Một người ở Bành Thành, tên là Trương Chiêu, tự là Tử Bố. Một người ở Quảng Lăng, tên là Trương Hoành, tự là Tử Cương. Hai người ấy đều có tài ngang trời dọc đất, nhân tránh loạn đến ở đấy, sao huynh không đón mời hai ngừơi ấy.

Sách sai người đem đồ lễ đến mời Trương Chiêu, Trương Hoành. Hai người từ chối, không đến. Sách phải thân đến tận nơi, cùng hai người nói chuyện. Sách rất lấy làm bằng lòng, cố mời đi mời lại mãi, hai người mới chịu nhận lời.

Sách cho Trương Chiêu làm Trưởng Sử, kiêm chức Phủ Quân Trung Lang Tướng; Trương Hoành làm tham mưu, Chánh Nghị Hiệu Úy.

Cùng nhau bàn mưu sang đánh Lưu Do.

Lưu Do, tự là Chính Lẽ, người ở Mâu Bình quận Ðộng Lai, cũng là Tôn thân nhà Hán, cháu quan Thái Úy Lưu Sủng, em quan thứ sử Duyện Châu Lưu Ðại.

Trước làm Thứ Sử Dương Châu, đóng ở Thọ Xuân, sau bị Viên Thuật đuổi sang Giang Ðông, cho nên đến Khúc An ở.

Bấy giờ Lưu Do nghe thấy quân Tôn Sách đến, vội vàng họp các tướng để bàn.

Bộ tướng là Trương Anh nói:

– Tôi xin lĩnh một cánh quân, đóng đồn Ngưu Chử, quân giặc dẫu có trăm vạn cũng không dám đến gần.

Nói chưa dứt lời, dưới trướng lại có một người kêu to lên rằng:

– Tôi xin làm bộ tiên phong!

Các tướng nhìn xem ai, thì là Thái Sử Từ, người ở Ðông Lai.

Từ, tự khi giải được vây Bắc Hải cho Khổng Dung, sang với Lưu Do.

Do giữ lại ở dưới trướng.

Do bảo:

– Ngươi còn it tuổi, chưa nên làm đại tướng, hãy nên ở tả hữu ta để nghe mệnh lệnh.

Từ không bằng lòng lùi ra.

Trương An lĩnh quân đến Ngưu Chử, chứa mười vạn hộc lương ở lầu các.

Tôn Sách dẫn quân đến. Trương Anh ra địch.

Hai bên hội quân ở trên bãi sông Ngưu Chử.

Trương Anh ra ngựa chửi mắng, Hoàng Cái ra đánh nhau với Trương Anh, chưa được vài hiệp, bỗng thấy trong quân Trương Anh bối rối, rồi thấy nói: “Trong trại có người phóng hỏa! ”

Anh vội rút quân về.

Tôn Sách thừa thế đánh dồn.

Trương Anh thế cùng phải bỏ Ngưu Chử chạy trốn vào trong núi sâu.

Người phóng hỏa ở trong trại nguyên là hai viên kiện tướng.

Một là Tưởng Khâm tự là Công Ðịch, người ở Thọ Xuân xứ Cửu Giang, một là Chu Thái, tự là Âu Bình, người ở Hạ Sái xứ Cửu Giang.

Hai người gặp phải thời loạn, tụ quân trong sông Dương Tử, cướp bóc kiếm ăn; vốn nghe tiếng Tôn Sách là người hào kiệt ở Giang Ðông, hay cầu người hiền, mời kẻ sĩ, cho nên dẫn đồ đảng hơn ba trăm người đến theo.

Sách mừng lắm, dùng làm trường tiền hiệu úy, thu được hơn bốn ngàn quân hàng, liền tiến binh lên đóng ở Trần Ðình.

Trương Anh thua trở về, vào ra mắt Lưu Do.

Do giận muốn đem chém, lại có các mưu sĩ là Trích Dung và Tiết Lễ can mãi mới tha, sai Trương Anh đem quân đóng ở thành Linh Lăng để chống giặc.

Do tự lĩnh quân ra mé nam núi Thần Ðình cắm trại.

Tôn Sách đóng ở phía Bắc núi ấy.

Hôm sau Sách gọi người ở đó hỏi rằng:

– Gần đây có miếu nào thờ vua Hán Quang Vũ chăng?

Người ấy thưa:

– Có miếu ở trên đỉnh núi.

Sách nói:

– Ðêm ta chiêm bao thấy vua Quang Vũ gọi ta vào tương kiến. Ta định lên miếu ấy cầu.

Trưởng sử là Trương Chiêu can rằng:

– Không nên đi! Mé nam núi này có trại Lưu Do. Ngộ hắn có phục binh thì làm thế nào?

Sách nói:

– Ta đã có thần thánh phù hộ, việc chi còn phải sợ?

Nói xong liền mặc áo giáp, cầm giáo, lên ngựa, rồi đem bọn Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Ðương, Tưởng Khâm và Chu Thái cả thảy 13 người cùng cưỡi ngựa lên núi.

Ðến miếu, xuống ngựa, vào thắp hương lễ bái, Sách quỳ xuống khấn rằng:

– Tôi là Tôn Sách. Xin nguyện rằng nếu lập được nghiệp lớn ở đất Giang Ðông, khôi phục lại được cơ đồ của cha tôi ngày xưa, tôi xin sửa sang đình miếu bốn mùa lễ bái.

Sách khấn vái xong đi ra miếu, lên ngựa ngoảnh lại bảo các tướng:

– Ta muốn qua bên kia núi, dòm xem dinh trại Lưu Do đóng ra làm sao?

Các tướng ai cũng ngăn:

– Không nên!

Sách không nghe, cứ việc đi.

Các tướng cũng phải đi theo.

Ðến phía Nam núi, đứng trên trông xuống rừng rú và trại Lưu Do đóng. Có quân canh đường, chạy về báo với Lưu Do.

Do nói:

– Ðây là mẹo Tôn Sách đến dử mình đây, không nên ra đánh.

Thái Sử Từ nhảy lên nói rằng:

– Lúc này không bắt Tôn Sách thì còn đợi đến lúc nào?

Nói xong không đợi lệnh Lưu Do, tự mặc ngay áo giáp, lên ngựa cầm giáo ra ngoài trại, hô lên:

– Ai có gan thì theo ta!

Các tướng không ai nhúc nhích. Chỉ có một tiểu tướng bước ra nói:

– Thái Sử Từ thế mới gọi là tướng giỏi. Ta nên đi giúp một tay.

Nói rồi lên ngựa đi theo Thái Sử Từ. Các tướng đều tủm tỉm cười.

Tôn Sách ngắm độ nửa giờ mới quay ngựa trở về. Vừa đi qua được đỉnh núi nghe thấy đằng sau có người thét:

– Tôn Sách đừng chạy nữa!

Sách ngoảnh lại thấy hai tướng cưỡi ngựa đến, Sách gạt 12 tướng ra, một mình cầm ngang ngọn giáo, cưỡi ngựa đứng đợi ở dưới núi.

Thái Sử Từ hỏi to:

– Người nào là Tôn Sách?

Sách hỏi:

– Ngươi là đứa nào?

Từ đáp:

– Ta là Thái Sử Từ ở Ðông Lai, ta lại đây chỉ cốt để bắt Tôn Sách.

Sách cười nói:

– Ðây! Tôn Sách đây! Cho cả hai đứa chúng bay lại đánh một mình ta, ta không sợ. Nếu ta sợ, sao gọi là Tôn Bá Phù?

Từ nói:

– Tất cả các ngươi đều đến, ta cũng không sợ.

Nói xong thúc ngựa múa kích vào đánh Tôn Sách. Sách vác giáo lại địch. Hai ngựa giao nhau, đánh được hơn năm mươi hiệp, được thua chưa phân, lũ Trình Phổ đứng ngoài khen thầm rằng giỏi.

Từ thấy Sách đánh giáo không hở miếng nào. Giả cách thua chạy để dử cho Tôn Sách đuổi ra xa.

Từ không đi đường cũ lên núi, lại rẽ về sau núi mà chạy.

Sách vừa đuổi vừa thét to:

– Chạy không phải là hảo hán!

Từ trong bụng nghĩ thầm:

– Hắn có 12 người đi theo, ta chỉ trọi một mình. Ví dù bắt được hắn, cũng bị chúng cướp mất. Phải dử cho hắn đi một đường nữa, để cho chúng không biết đường nào mà tìm, bấy giờ ta sẽ ra tay.

Bởi thế vừa đánh vừa lùi. Sách cũng cứ đuổi, đuổi nhau mãi đến chỗ bằng phẳng, bấy giờ Từ mới quay lại đánh.

Ðánh nhau được 50 hiệp nữa.

Sách phóng ngọn giáo lại.

Từ tránh ngay được, lại trở tay bắt được giáo. Từ lại phóng giáo lại,

Sách cũng tránh được và giơ tay bắt lấy giáo, rồi nắm chặt lấy. Từ chạy lại giằng kích về, hai người kéo co nhau rồi cùng nhảy cả xuống ngựa. Ðể ngựa chạy đi đâu không biết nữa.

Lôi kéo nhau chán rồi, hai người cùng buông cả giáo ra, túm lấy nhau mà đánh.

Hai bên, bên nào áo chiến cũng rách tan nát.

Sách nhanh tay vạ được cái kích ngắn gài ở lưng Từ; Từ giật ngay được mũ đầu mâu của Sách.

Sách cầm kích đâm Từ; Từ lấy mũ che đỡ.

Giữa lúc ấy có tiếng reo ầm ầm kéo đến, quân tiếp ứng của Lưu Do, ước hơn ngàn người.

Sách đã lấy làm nguy, may đâu bọn Trình Phổ, 12 tướng cưỡi ngựa cũng vừa tìm được đến.

Hai người bấy giờ mới buông nhau ra.

Từ lên một con ngựa khác, lại cầm lấy giáo trở về.

Ngựa của Tôn Sách, Trình Phổ bắt được, Sách cũng nhặt lấy kích rồi lên ngựa.

Một ngàn quân Lưu Do cùng 12 tướng Tôn Sách hai bên đánh nhau. Ðánh lần quanh mãi đến tận dưới núi Thần Ðinh.

Bấy giờ lại thấy tiếng reo, Châu Du kéo quân đến, Lưu Do lại dẫn đại quân xuống núi.

Khi ấy trời đã vàng vàng tối, tự dưng nổi cơn mưa gió, hai bên cùng thu quân về.

Hôm sau, Tôn Sách dẫn quân đến trước trại Lưu Do, Do cũng đem quân ra đón.

Khi hai bên bầy trận, Tôn Sách lấy cái kích nhỏ rút được của Từ hôm trước, đem buộc ở đầu giáo, cầm ra giễu ở trước trận, rồi sai quân hô to lên rằng:

– Giá Thái Sử Từ không chạy mau chân thì đã bị kích này đâm chết.

Từ cũng đem mũ đầu mâu của Sách ra trước trận sai quân hô lên rằng:

– Ðầu Tôn Sách đã ở đây rồi!

Hai bên nhạo bán lẫn nhau, reo ầm cả lên. Bên cậy khỏe, bên khoe tài.

Thái Sử Từ phóng ngựa ra định cùng Tôn Sách quyết phân thắng bại.

Sách sắp sửa ra, Trình Phổ nói:

– Chúa công lo là phải khó nhọc. Tôi xin ra bắt hắn.

Trình Phổ ra trận.

Từ nói:

– Ngươi không đánh địch với ta. Về gọi Tôn Sách ra đây!

Trình Phổ tức lắm, vác giáo xông vào đánh Từ. Hai ngựa giao đấu được hơn 30 hiệp, bỗng thấy Lưu Do khua chiên thu quân.

Từ hỏi Lưu Do:

– Tôi đã sắp bắt được tướng giặc sao lại thu quân về?

Do nói:

– Có người báo rằng: Châu Du đã đem quân đánh úp lấy Khúc A, vì có người ở Lư Giang, tên là Trần Vũ tiếp ứng cho hắn vào thành. Cơ nghiệp nhà ta đã mất, không nên ở mãi đây; phải kíp sang Mạt Lăng, hội cả quân mã của Tiết Lễ, Trích Dung lại để tiếp ứng.

Thái Sử Từ theo Lưu Do lui quân.

Tôn Sách không đuổi cũng thu quân về.

Trưởng sử Trương Chiêu nói:

– Bên hắn bị Châu Du lừa lấy Khúc A, không dám ham đánh, đêm nay ta nhân thế nên đến cướp trại.

Sách ưng ý, đang đêm chia quân làm năm đường, kéo đến lấy trại Lưu Do. Quân Do thua to, chạy tán loạn cả.

Thái Sử Từ một mình không chống nổi, dẫn hơn mười quân kỵ mã ngay đêm hôm ấy chạy sang Kinh Huyện.

Tôn Sách lại vừa được thêm một tay phụ tá nữa là Trần Vũ tự là Tử Liệt.

Vũ mình cao bảy thước, mắt vàng, con ngươi đỏ, hình dung cổ quái. Sách yêu lắm cho làm hiệu úy, sai đi tiên phong đánh Tiết Lễ. Vũ dẫn hơn mười kỵ mã, xông vào trong trận chém hơn năm mươi đầu giặc.

Tiết Lễ thấy vậy đóng chặt cửa thành không dám ra nữa.

Sách đang đánh phá thành, có người báo rằng:

– Lưu Do hội với Trích Dung sang lấy Ngưu Chử.

Sách giận lắm, tự để đại quân kéo về Ngưu Chử. Lưu Do, Trích Dung hai người cùng cưỡi ngựa ra đón đánh.

Tôn Sách nói:

– Ta nay đã đến đây, sao các ngươi không hàng ngay đi?

– Sau Lưu Do bỗng có một người vác giáo cưỡi ngựa ra, đó là bộ tướng tên là Vu Mi, cùng Sách đánh nhau, chưa được ba hiệp, bị Sách bắt sống rồi quay ngựa trở về trận.

Tướng Lưu Do là Phàn Năng, thấy Vu Mi bị bắt liền vác giáo đuổi theo, ngọn giáo đâm gần chạm đến lưng Tôn Sách, quân Sách thấy vậy mới kêu to lên rằng:

– Sau lưng có người đâm trộm!

Sách quay đầu lại, thấy Phàn Năng đã đến gần, quát to một tiếng, như tiếng sét.

Phàn Năng khiếp đảm, ngã quay xuống vỡ đầu ra chết.

Sách về đến cửa cờ, đem Vu Mi bỏ xuống đất, thì ra Vu Mi bị cắp ở nách đã chết kẹp từ bao giờ.

Cùng một lúc, cắp chết một tướng, quát chết một tướng, từ đấy ai cũng gọi Tôn Sách là Tiểu Bá Vương. (Hạng Võ ngày xưa là Bá Vương)

Lưu Do thua to. Quân sĩ hàng Sách quá nửa. Sách lại chém được hơn một vạn thủ cấp.

Do và Trích Dung chạy sang Dự Chương, đi theo Lưu Biểu.

Tôn Sách đem quân về lại đánh Mạt Lăng. Ðến cạnh bờ hào, Sách đứng chiêu dụ Tiết Lễ hàng, chợt có một mũi tên ở trên thành bắn xuống trúng ngay vào đùi trái Tôn Sách.

Tôn Sách ngã ngựa.

Các tướng vội vàng đến cứu, đỡ Sách dậy đem về trại nhổ tên ra, lấy thuốc dấu dịt vào.

Sách nhân thể cho quân đi nói phao lên rằng bị tên bắn chết. Cả cánh quân làm lễ cử ai, nhổ trại kéo về.

Tiết Lễ tưởng Tôn Sách chết thật, đêm hôm ấy liền khởi cả quân trong thành cùng với kiêu tướng là Trương Anh, Trần Hoành, kéo ra thành đuổi đánh.

Bỗng đâu quân phục bốn mặt trổ ra, Tôn Sách đứng đầu đi trước gọi to lên rằng:

– Tôn Lang ở đây mà!

Quân giặc trông thấy mất vía vứt cả gươm giáo, phục xuống đất lạy, Sách truyền lệnh không được giết một người nào.

Trương Anh quay ngựa chạy về bị Trần Vũ đâm chết.

Trần Hoành bị Tưởng Khâm bắn chết; Tiết Lễ chết ở trong đám loạn quân.

Sách vào Mạt Lăng, phủ dụ cho dân yên nghiệp rồi đem quân sang Kinh Huyện để bắt Thái Sử Từ.

Thái Sử Từ chiêu được hai ngàn quân tinh tráng và quân cũ của mình, toan đi báo thù cho Lưu Do.

Tôn Sách với Châu Du bàn nhau kế bắt sống Thái Sử Từ.

Châu Du ra lệnh bao vây ba mặt, để chừa một mặt cửa đông huyện cho Từ chạy.

Cách huyện 25 dặm, phục binh ba nơi, Từ ra khỏi thành chạy được đến đấy, người mệt, ngựa mỏi, tất nhiên bị bắt.

Nguyên những quân của Thái Sử Từ dụ được quá nữa là người ở rừng núi, chưa biết kỷ luật nhà binh. Vả thành Kinh Huyện lại không được cao.

Ðêm hôm ấy Tôn Sách sai Trần Vũ, mặc áo ngắn cầm đao, trèo lên mặt thành trước đốt lửa. Từ thấy trên thành lửa cháy, lên ngựa chạy ra cửa đông.

Tôn Sách đem quân lại đuổi, đuổi đến ba mươi dặm thì thôi.

Từ chạy được năm mươi dặm, người ngựa đều đã mỏi mệt, giữa lúc ấy trong đám cỏ lau bên đường có tiếng reo nổi lên. Từ vội chạy, hai bên đường chằng chịt những dây, ngựa vướng cẳng ngã gục xuống.

Thái Sử Từ bị bắt sống, giải về trại Tôn Sách.

Lúc quân lính sắp giải Từ đến nơi, Sách biết trước ra tận cửa dinh, quát đuổi quân lính, tự ra cởi trói, rồi đem áo cẩm bào mặc cho Từ, mời vào trong trại nói rằng:

– Ta biết Tử Nghĩa là một đấng trượng phu. Bởi Lưu Do ngu xuẩn, không biết dùng Tử Nghĩa làm đại tướng cho nên đến nỗi có trận thua này.

Từ thấy Sách đối đãi mình tử tế, xin xuống hàng, Sách cầm lấy tay Từ cười nói rằng:

– Khi đánh nhau ở Thần Ðình, giá thử ông bắt được tôi, thì có hại nhau không?

Từ cũng cười đáp rằng:

– Cũng chưa biết chừng!

Sách cười ầm lên, mời vào trướng, mời lên ngồi trên, sai mở tiệc yến khoản đãi.

Từ đứng dậy nói rằng:

– Lưu quân mới thua, lòng quân tan rã tôi xin về để thu nhặt tàn quân, để giúp minh công. Không biết minh công có tin không?

Sách đứng dậy tạ mà nói rằng:

– Bụng tôi vẫn ước như thế. Nay xin hẹn với ông, trưa mai tôi xin đợi ông trở lại.

Từ vâng lời rồi đi.

Các tướng ngạc nhiên nói rằng:

– Thái Sử Từ đi chuyến này tất không trở lại đâu!

Sách nói:

– Từ là người tín nghĩa không trái ước với ta.

Các tướng chẳng ai tin. Hôm sau cắm một cây nêu để đo bóng mặt trời ở trước cửa trại, rồi các tướng cùng xúm cả chung quanh đễ đợi giờ ngọ. Cây nêu vừa đứng bóng, thấy Thái Sử Từ dẫn hơn một ngàn quân đến.

Các tướng đều chịu Tôn Sách là biết người.

Tôn Sách tụ được vài vạn quân, bình trị được Giang Ðông, vỗ yên dân chúng, người kéo về theo vô số.

Dân Giang Ðông ai cũng gọi Sách là Tôn Lang.

Nghe tin quân Tôn Sách đến, dân chúng đều sợ hãi bỏ chạy cả, nhưng khi Sách đến nơi, không cho phép người nào cướp bóc của dân, cho đến gà chó cũng không kinh động.

Nhân dân thấy thế ai cũng mừng, đem trâu rượu đến trại để mừng.

Sách lại đem vàng, đem lụa ra thưởng lại.

Tiếng vui mừng, hân hoan vang khắp đồng nội.

Phàm những quân cũ của Lưu Do, ai muốn theo thì cho theo, ai không muốn theo thì cấp thưởng cho về làm ruộng.

Dân Giang Nam ai cũng khen Tôn Sách là người nhân đức. Bởi vậy quân thế mỗi ngày một thịnh.

Bấy giờ Sách mới rước mẹ, cậu và các em cùng về Khúc A; sai em là Tôn Quyền cùng với Chu Thái giữ Tuyên Thành, Sách thì lĩnh binh sang Nam để lấy Ngô Quận.

Bấy giờ Nghiêm Bạch Hổ tự xưng là Ðông Ngô Ðức Vương, giữ ở Ngô Quận.

Bạch Hổ sai bộ tướng giữ Ô Trình và Gia Hưng.

Bấy giờ nghe tin quân Tôn Sách đến, Bạch Hổ sai em là Nghiêm Dư đem quân ra.

Hai bên gặp nhau ở Phong Kiều.

Dư vác đao cưỡi ngựa đứng trên cầu.

Sách muốn ra đánh, Trương Hoành can rằng:

– Chủ tướng là vận mệnh của ba quân, ai cũng trông cậy cả vào, không nên khinh thường quân tiểu khấu. Xin tướng quân tự cẩn thận.

Sách tạ nói rằng:

– Lời tiên sinh nói như vàng đá. Nhưng nếu tôi không chịu xông vào mũi tên hòn đạn thì tướng sĩ ai chịu dùng sức!

Bèn sai Hàn Ðương cưỡi ngựa ra.

Khi Hàn Ðương đi lên đến cầu, đã thấy Tưởng Khâm, Trần Vũ bơi thuyền nhỏ theo bờ sông, lượn sang được bên kia cầu, bắn tên tua tủa lên quân đứng trên bờ, hai người nhảy lên đánh giết, quân Nghiêm Dư phải lui chạy.

Hàn Ðương kéo quân thẳng đến cửa thành.

Giặc chạy cả vào trong thành.

Sách chia quân, đường thủy đường lục cùng tiến, vây bọc cả lấy Ngô Thành.

Vây luôn ba ngày không ai dám ra đánh.

Sách dẫn quân đến dưới cửa thành để chiêu dụ.

Trên thành một viên tỳ tướng, tay trái cầm chắc thanh ván đỡ lên, tay phải trỏ xuống chửi mắng.

Thái Sử Từ ngồi trên ngựa giương cung đặt tên xong rồi ngoảnh lại bảo chư tướng rằng:

– Xem ta bắn trúng vào tay trái tên kia nhé!

Nói chưa dứt lời, dây cung tách một tiếng, quả nhiên trúng giữa bàn tay trái tên tướng trên thành, lại xuyên qua tay cắm chắc vào tấm ván.

Người trên thành dưới thành ai cũng reo ồ lên.

Họ vội vàng cứu tướng ấy đem xuống thành.

Bạch Hổ trông thấy thất kinh nói rằng:

– Quân hắn có người tài như thế, ta địch sao được?

Bàn nhau muốn cùng hòa.

Hôm sau Bạch Hổ sai Nghiêm Dư ra thành, vào ra mắt Tôn Sách.

Sách mời Dư vào trướng uống rượu. Rượu đã say, Sách hỏi Dư:

– Ý lệnh huynh muốn thế nào?

Dư nói:

– Muốn cùng với tướng quân chia đôi Giang Ðông.

Sách nổi giận mắng rằng:

– Ðàn chuột nhắt lại đòi ngang hàng với ta à!

Mắng rồi thét đem Nghiêm Dư ra chém.

Dư rút kiếm đứng dậy.

Sách phóng kiếm trúng người Nghiêm Dư gục xuống, cắt ngay lấy đầu, sai người đưa vào thành.

Bạch Hổ biết chừng không địch nổi, bỏ thành chạy. Sách kéo quân đuổi theo.

Hoàng Cái đánh lấy được Gia Hưng, Thái Sử Từ đánh lấy được Ô Trình, mấy châu đều bình định cả.

Bạch Hổ chạy về Dư Hàng, cướp bóc ở dọc đường, lại bị thổ dân ở đấy tên là Lăng Tháo đem người làng ra đánh, Bạch Hổ phải thu quân về Cối Kê.

Hai cha con Lăng Tháo lại đi đón Tôn Sách. Sách cho làm tòng chinh hiệu úy, cũng dẫn quân sang qua sông.

Bạch Hổ tụ quân, dàn khắp ở bến sông phía Tây.

Trình Phổ đánh một trận lại thắng đuổi mãi đến thành Cối Kê.

Thái thú Cối Kê tên là Vương Lãng, muốn đem quân ra cứu Bạch Hổ, có người can rằng:

– Không nên cứu, Tôn Sách dùng quân nhân nghĩa; Bạch Hổ là một tướng bạo ngược. Nên bắt Bạch Hổ đem dâng Tôn Sách.

Lãng nhìn xem ai bàn kế ấy; thì là Ngu Phiên, tự là Trọng Tường, người ở Cối Kê, hiện đương làm quận lại.

Lãng giận mắng Phiên. Phiên thở dài trở ra.

Lãng đem binh hội vại Bạch Hổ, dàn quân ở cánh đồng Sơn Âm; hai bên đối trận.

Tôn Sách cưỡi ngựa ra bảo Vương Lãng rằng:

– Ta cất quân nhân nghĩa đi dẹp Triết Giang, sao ngươi dám vào hùa với giặc?

Lãng mắng rằng:

– Bụng ngươi tham không có chừng, đã được Ngô Quận rồi còn muốn chiếm nốt bờ cõi ta. Nay ta quyết báo thù cho họ Nghiêm!

Tôn Sách giận lắm, sắp ra đánh nhau thì Thái Sử Từ ra lúc nào rồi.

Vương Lãng múa đao tế ngựa, đánh nhau với Từ chưa được vài hiệp, tướng Lãng là Chu Hán nhảy ra đánh đỡ.

Bên này Hoàng Cái cũng tế ngựa ra tiếp ứng, đánh với Chu Hân.

Hai bên đánh trống vang lừng, đánh nhau quyết liệt.

Tự nhiên thấy đằng sau trận Vương Lãng bối rối.

Một toán quân đâu từ sau lưng đánh lại.

Lãng thất kinh kíp quay ngựa trở lại đón đánh.

Quân đánh tập hậu ấy là Châu Du và Trình Phổ, trong khi hai bên đánh nhau, đi tắt lẻn mặt sau.

Ðằng trước đằng sau đánh dập lại.

Quân Lãng ít không chống xuể, cùng với Bạch Hổ, Chu Hân, cố đánh để mở lấy một đường máu chạy vào thành, cất cầu lên, đóng vững cửa thành lại.

Ðại quân Tôn Sách thừa thế, xấn đến mãi dưới thành, chia quân ra bốn cửa.

Vương Lãng ở trong thành thấy Sách đánh kíp lắm, lại muống kéo quân ra quyết đánh một trận sống chết cũng đành. Bạch Hổ can rằng:

– Thế quân Tôn Sách to lắm, túc hạ chỉ nên thành cao hào sâu giữ cho vững. Không đầy một tháng, quân kia hết lương tất phải chạy. Bấy giờ ta thừa thế ra đuổi, có thể chẳng phải đánh cũng phá tan được.

Lãng nghe kế ấy, giữ vững thành không ra.

Tôn Sách đánh luôn mấy hôm không phá được thành, bèn cùng chư tướng bàn mưu kế.

Tôn Tĩnh nói:

– Vương Lãng cậy hiểm giữ thành, khó phá ngay được. Tiền lương đất Cối Kê quá nửa chứa ở Tra Ðộc. – đây cách đấy chỉ vài mươi dặm, không bằng ta hãy đem binh giữ lấy Tra Ðộc trước. Trong binh pháp có nói rằng: đánh chỗ không phòng bị, ra nơi không ngờ, là thế đó.

Sách mừng nói:

– Mẹo hay của chú đủ phá được giặc.

Liền hạ lệnh sai các cửa thành đốt lửa giả, cắm cờ hiệu để làm nghi binh, rồi đêm hôm ấy bỏ bao vây, kéo quân sang mặt nam.

Châu Du hiến một kế rằng:

– Chúa công kéo cả quân, Vương Lãng tất ra thành đuổi theo. Nếu hắn ra ta nên dụng kỳ binh mà đánh.

Sách nói:

– Ta đã sắp sẵn cả rồi. Lấy thành chỉ nội đêm nay.

Bèn hạ lệnh cho quân mã đi.

Vương Lãng nghe tin báo Tôn Sách rút quân mã đi, liền dẫn quân lên chòi canh trông xem, thấy dưới thành khói lửa vẫn ngùn ngụt, tinh kỳ đâu vẫn đấy, trong bụng còn nghi hoặc, Chu Hân nói:

– Tôn Sách chạy rồi, bày ra mẹo này để đánh lừa ta đấy thôi, nên đem quân ra đuổi đánh.

Nghiêm Bạch Hổ nói:

– Tôn Sách chuyến này đi, chắc là đến Tra Ðộc. Tôi xin đem bộ binh cùng Chu tướng quân đuổi theo.

Lãng nói:

– Tra Ðộc là chỗ ta chứa lương, cần phải đề phòng cẩn thận. Ngươi đi trước, ta theo sau để tiếp ứng.

Bạch Hổ cùng Chu Hân dẫn năm ngàn quân ra thành đuổi theo.

Bây giờ mới canh một. Ði khỏi thành được hơn hai mươi dặm, bỗng đâu trong rừng rậm, có một tiếng trống nổi, rồi lửa đuốc sáng rực cả lên. Bạch Hổ thất kinh, liền quay ngựa trở lại, thì có một tướng chắn ngang đường.

Chính là Tôn Sách.

Chu Hân múa đao lại đánh, bị Sách đâm một mũi giáo chết. Quân thấy thế xuống hàng cả.

Bạch Hổ cố chết mở một đường, rồi chạy về Dư Hàng.

Vương Lãng nghe tiền quân đã thua, không dám vào thành, dẫn bộ binh chạy ra góc bể đi trốn.

Tôn Sách thu quân trở lại, thừa thế lấy ngay thành trì, vỗ yên nhân dân.

Ðược mấy hôm có người mang đầu Bạch Hổ đến dâng.

Tôn Sách nhìn người ấy, mình cao tám thước, mặt vuông, mồm rộng; hỏi tên họ là gì, thì người ấy xưng tên là Ðổng Tập, tự là Nguyên Ðõi, người ở Cối Kê.

Sách mừng lắm, cho làm Biệt Bộ Tư Mã.

Từ đó xứ Ðông bình định được cả.

Sách sai chú là Tôn Tĩnh giữ ở đấy; sai Chu Trị làm thái thú Ngô Quận, còn mình thì thu quân về Giang Ðông.

Em Sách là Tôn Quyền cùng với Chu Thái giữ ở Tuyên Thành.

Chợt có giặc núi bốn mặt kéo đến. Bấy giờ đem đã khuya, không kịp chống cự.

Thái ôm Quyền lên ngựa để chạy.

Giặc vác đao xông vào chém.

Thái cởi trần ra, xuống ngựa đi bộ, cầm đao đánh nhau với giặc, một lúc giết luôn được hơn mười đứa.

Sau có một tên giặc, tế ngựa vác giáo nhảy xổ vào để giết Chu Thái.

Thái nắm ngay được giáo, rẩy giặc ngã xuống, cướp được ngựa giặc, đánh riết mở được đường ra, cứu được Tôn Quyền.

Giặc thấy vậy chạy cả.

Thái bị cả thảy mười hai vết thương nặng, sưng lên, gần chết.

Sách nghe tin lo lắm.

Ðổng Tập nói:

– Tôi đã nhiều phen đánh nhau với giặc bể, bị thương may có một người quận lại ở Cối Kê, tên là Ngu Phiên, tiến cử một thầy thuốc, chữa cho chỉ nửa tháng là khỏi.

Sách hỏi:

– Ngu Phiên có phải là Ngu Trọng Tường không?

Tập thưa:

– Phải.

Sách nói:

– Người ấy là hiền sĩ, ta nên dùng.

Liền sai Trương Chiêu, Ðổng Tập đến mời Ngu Phiên.

Phiên đến.

Sách thết đãi cực hậu, cho làm Công Tào.

Nhân nói chuyện thầy thuốc, Phiên nói rằng:

– Người ấy là người ở Tiêu Quận, nước Bái, tên là Hoa Ðà, tự là Nguyên Hóa; thực là thần y bây giờ, tôi xin đưa đến để yết kiến.

Ðược mấy bữa Phiên đem Hoa Ðà đến.

Sách thấy người mặt còn trẻ, mà tóc bạc phơ phơ, tựa như một ông tiên, tiếp đãi làm một thượng khách, rồi mời xem bệnh cho Chu Thái.

Hoa Ðà xem rồi nói:

– Bệnh này chữa thực dễ. Cho thuốc rịt một tháng Chu Thái khỏi hẳn.

Sách mừng lắm, hậu tạ Hoa Ðà rồi tiến binh tiểu trừ giặc núi. Giang Nam bình định cả.

Sách chia cho các tướng giữ các cửa ải, một mặt viết biểu tâu về triều đình, một mặt kết giao với Tào Tháo, một mặt đưa thư cho Viên Thuật để đòi lại ngọc tỉ.

Viên Thuật từ khi nắm được tỉ phù, có ý muốn giữ lấy để xưng hoàng đế, khi tiếp được thư Tôn Sách, liền đưa thư đáp lại tìm cớ thoái thác không trả, rồi kíp Triệu Trưởng Sử là Dương Ðại Tướng; Ðô Ðốc là Trương Huân, Kỷ Linh, Kiều Di; thượng tướng là Lôi Bạc, Trần Lan, cả thẩy hơn ba mươi người, bàn với nhau rằng:

– Tôn Sách mượn quân mã của ta để khởi sự, nay đã lấy hết được đất Giang Ðông, đã quên ơn ta, lại dám đòi lại ngọc tỉ, thực là xấc láo, có phương kế gì trị hắn đi chăng?

Dương Ðại tướng nói:

– Tôn Sách giữ chổ hiểm Trường Giang, binh giỏi, lương nhiều, cũng chưa dễ trị được. Nay ta nên hãy đánh Lưu Bị trước để báo thù xưa vô cớ sang đánh ta. Rồi sau ta hãy sửa Tôn Sách, cũng không muộn. Nay tôi xin dâng một kế làm cho Lưu Bị phải bị bắt lập tức ngay bây giờ.

Thế là:

Chẳng tới Giang Ðông tìm hổ báo;
Lại sang Từ Quận bắt giao long!

Hồi Thứ Mười Sáu

Cửa Nha Môn, Phụng Tiên Bắn Kích
Sông Vị Thủy, Mạnh Ðức Thua Quân

Dương Ðại-tướng xin dâng một kế để bắt Lưu Bị. Viên Thuật hỏi kế ra làm sao. Ðại-tướng nói:

– Lưu Bị đóng quân ở Tiểu Bái. Tuy rằng dễ lấy nhưng còn Lữ Bố giữ ở Từ Châu. Lần trước ta đã hứa đem vàng, lụa, lương và ngựa cho Lữ Bố, nay vẫn chưa đưa thì có lẽ hắn giúp Lưu Bị. Chúa công nên sai người đưa lương cho hắn, trước nữa mua chuộc lấy lòng hắn, để ta có sang đánh Lưu Bị hắn đừng động binh, họa chăng ta mới bắt được Lưu Bị, rồi sau ta đánh Lữ Bố, đánh Lữ Bố rồi sau lấy Từ Châu.

Thuật nghe lời, liền sai Hàn Dận đem hai mươi vạn hộc thóc và một bức mật thư đưa cho Lữ Bố.

Bố mừng lắm, trọng đãi Hàn Dận, Dận về cáo với Viện Thuật. Thuật sai Kỷ Linh làm đại tướng, Lôi Bạc, Trần Lan làm phó tướng, đem vài vạn quân sang đánh Tiểu Bái.

Lưu Bị nghe tin bàn với chư tướng.

Trương Phi xin ra đánh.

Tôn Càn nói:

– Nay Tiểu Bái binh ít, lương hiếm, nên đưa thư về Từ Châu, cầu cứu Lữ Bố.

Trương Phi nói:

– Lữ Bố nào hắn chịu cứu mình!

Lưu Bị nói:

– Càn nói phải đấy.

Liền đưa thư sang Từ Châu, thư rằng:

Từ khi được nhờ tướng quân nghĩ đến cho tôi nương thân ở đất Tiểu Bái, tôi thực bái phục đức cao của ngài. Nay Viên Thuật muốn báo thù riêng sai Kỷ Linh đem binh đến huyện. Nguy ở sớm tối. Phi tướng quân không ai cứu được.

Xin tướng quân đem quân đến, cứu cho nạn gấp này, thì chúng tôi được hân hạnh lắm.

Lữ Bố xem xong thư, bàn với Trần Cung rằng:

– Mới rồi Viên Thuật đưa lương và gửi thư cho ta để cầu ta đừng cứu Lưu Bị. Nay Lưu Bị lại cầu cứu. Ta nghĩ Lưu Bị đóng ở Tiểu Bái vị tất có bao giờ hại được ta. Chứ Viên Thuật nếu đánh được Lưu Bị, chắn hắn lại kết liên với các tướng ở Thái Sơn để đánh ta, ta sẽ không yên được với hắn. Không bằng đi cứu Lưu Bị.

Nói rồi liền điểm quân đi.

Kỷ Linh cất quân kéo bừa đi, đi đến mé sông Nam huyện Bái, lập doanh trại đóng quân, ban ngày cắm cờ đỏ ối cả trên núi dưới sông; ban đêm đốt lửa sáng choang cả trên trời dưới đất.

Trong huyện Lưu Bị chỉ có hơn năm ngàn người, miễn cưỡng ra ngoài huyện bố trí lập doanh trại. Chợt có người đến báo:

– Lữ Bố dẫn quân đến mé Tây Nam, cách huyện có một dặm, lập trại đóng quân.

Kỷ Linh thấy Lữ Bố đến cứu Lưu Bị, sai ngay người đưa thư trách rằng thất tín.

Lữ Bố xem xong thư cười nói rằng:

– Ta có một kế làm cho Viên, Lưu không bên nào trách được ta.

Nói rồi sai sứ sang mời cả Kỷ Linh và Lưu Bị đến ăn yến.

Lưu Bị thấy Bố mời, muốn đi ngay, Quan, Trương can rằng:

– Anh không nên đi. Lữ Bố có bụng bất lương gì chăng?

Lưu Bị nói:

– Ta đối đãi hắn tử tế, tất hắn không hại ta.

Lưu lên ngựa đi, Quan, Trương cũng đi theo đến trại Lữ Bố. Khi vào chào Bố, Bố nói:

– Nay tôi đến đây để gỡ nạn cho ông. Ngày khác ông đắc chí, đừng quên tôi nhé!

Lưu Bị tạ ơn, Lữ Bố mời ngồi. Quan, Trương cầm kiếm đứng đằng sau, chợt có người báo:

– Kỷ Linh đã đến.

Lưu Bị nghe thấy, giật nẩy mình, muốn lánh mặt đi. Lữ Bố nói:

– Nay ta mời hai ông đến để cùng bàn, không được nghi hoặc gì cả.

Lưu Bị chưa rõ tình ý làm sao, trong bụng nghi nghi hoặc hoặc.

Kỷ Linh xuống ngựa vào trại, trông thấy Lưu Bị ngồi trong trướng cũng mất vía, quay mình trở ra. Lữ Bố bước lên kéo lại, như kéo đứa trẻ con. Kỷ Linh sợ nói rằng:

– Thế ra tướng quân định giết tôi à!

Bố nói:

– Ðâu lại thế!

Linh lại hỏi:

– Hay là tướng quân định giết thằng tai to kia?

Bố lại nói:

– Cũng không phải.

Linh lại hỏi:

– Thế thì ra làm sao?

Bố nói:

– Lưu Bị cùng ta như anh em một nhà vậy. Nay bị tướng quân sang đây đe dọa, nên ta đến cứu.

Linh lại sợ, nói rằng:

– Nếu thế thì tướng quân giết tôi rồi!

Bố nói:

– Có lẽ đâu thế. Tính tôi không hay đánh nhau, chỉ muốn làm cho thôi đánh nhau. Tôi nay định giải hòa cho hai ông.

Linh nói:

– Xin dám hỏi cách giải hòa thế nào?

Bố nói:

– Tôi có một phép, nhưng còn tùy lòng trời!

Nói rồi kéo Linh vào trong trướng, để hai người gặp nhau, Lưu Bị, Kỷ Linh đều có lòng nghi kỵ lẫn nhau.

Lữ Bố ngồi giữa, mời Kỷ Linh ngồi bên tả, Lưu Bị ngồi bên hữu, rồi sai mở tiệc yến, uống rượu.

Rượu được vài tuần, Bố nói:

– Hai bên cùng nể mặt ta thì cùng bãi binh cả.

Lưu Bị không nói gì. Kỷ Linh nói:

– Tôi phụng mệnh chúa công tôi, đem sang đây mười vạn quân chỉ cốt bắt Lưu Bị, bãi binh thế nào được?

Trương Phi đứng sau lưng Lưu Bị nghe nói nổi giận, tuốt ngay kiếm ra quát to lên rằng:

– Binh ta tuy ít, nhưng ta coi các ngươi như đàn trẻ mà thôi, ngươi có bằng lũ giặc khăn vàng hàng trăm vạn không, mà dám toan hại anh ta?

Quan Công vội vàng ngăn nói rằng:

– Hãy xem chủ ý của Lữ tướng quân định thế nào, bấy giờ về trại đánh nhau cũng không chậm.

Lữ Bố nói:

– Ta mời hai bên đến để giải hòa, chứ không có mời đến đây để đánh nhau.

Bên này Kỷ Linh tức giận lắm, mà bên kia Trương Phi chỉ lăm lăm muốn đánh. Lữ Bố cũng nổi giận lên mà bên kia Trương Phi chỉ lăm lăm muốn đánh. Lữ Bố cũng nổi giận lên mà truyền rằng:

– Quân đâu! Ðem kích ra đây!

Quân đem kích ra đưa cho Lữ Bố. Kỷ Linh, Lưu Bị không biết thế nào, cùng sợ mất vía.

Bố nói:

– Ta can hai bên mãi không nghe. Vậy để tùy lòng trời định quyết việc này!

Không ai hiểu Lữ Bố định làm gì. Lữ Bố sai quân mang họa kích ra ngoài cửa nha môn, cắm tận đằng xa cùng kiệt, rồi ngoảnh lại bảo hai người rằng:

– Từ đây ra đó, cách 150 bước. Ta xin bắn một phát tên, nếu trúng vào ngạnh kích thì hai bên phải bãi binh; nhược bằng bắn không trúng thì mặc ý hai bên đi mà đánh nhau. Ta định như thế, ai không nghe thì ta gồm sức với bên kia để đánh.

Kỷ Linh thấy kích cắm xa thế mười phần chắc cả mười rằng: Lữ Bố tài đến đâu cũng không sao bắn tin được, liền ưng theo ý Lữ Bố.

Lưu Bị thì vẫn đành muốn thế rồi.

Lữ Bố mời hai bên ngồi xuống, mỗi người uống một chén rượu, rượu cạn chén rồi, Bố sai đem cung lại.

Huyền Ðức khấn thầm, chỉ muốn cho bắn trúng là hay.

Lữ Bố vén tay áo bào, đặt mũi tên, giương hết sức cung. Dây cung bật đánh tạch một tiếng, tên ra vùn vụt, mười mắt nhìn theo; chớp mắt một cái trúng ngay ngạnh kích. Các tướng trên trướng dưới thềm đều reo ầm vỗ tay.

Ðời sau có thơ khen rằng:

Ôn Hầu bắn giỏi thật diệu kỳ!

Từng ở nha môn gỡ được nguy.

Trời rụng quả nhiên hơn Hậu Nghệ!

Vượn kêu hơn hẳn sức Do Cơ.

Dây gân hổ kéo cung căng thẳng,

Tên cánh diều bay vụt vụt đi.

Ðuôi báo lung lây xuyên ngạnh kích.

Hùng binh mười vạn có làm chi?

Lữ Bố bắn trúng họa kích rồi miệng cười ha hả, vứt cung xuống đất, cầm tay Lưu Bị và tay Kỷ Linh nói rằng:

– Ỵy là trời bắt hai bên phải bãi binh đó!

Nói rồi, truyền quân sĩ rót rượu, mời mỗi người uống một cốc to làm bằng sừng trâu rừng.

Lưu Bị trong lòng mừng rỡ. Kỷ Linh thì ngồi ngẩn nửa giờ, rồi nói với Lữ Bố rằng:

– Lời tướng quân dạy thì tôi phải nghe, nhưng bây giờ về nói với chúa công tôi, sao chúa công tôi tin?

Bố nói:

– Ðể ta viết thư cho Viên Công Lộ thì xong chứ gì?

Rượu uống được vài tuần nữa, Kỷ Linh xin lĩnh thư về trước. Linh về rồi, Bố bảo Lưu Bị rằng:

– Không có tôi thì ông nguy nhé!

Lưu Bị lạy tạ rồi cùng với Quan, Trương trở về. Hôm sau quân mã ba nơi cùng kéo về cả.

Lưu Bị về Tiểu Bái, Lữ Bố về Từ Châu, còn Kỷ Linh về Hoài Nam vào ra mắt Viên Thuật, kể hết Lữ Bố bắn kích ở nha môn để giải hòa, rồi dânh trình thư của Lữ Bố.

Thuật xem thư giận lắm nói rằng:

– Lữ Bố lấy bao nhiêu lương thóc của ta, nay lại lấy trò trẻ con này để mà bênh Lưu Bị. Phen này ta quyết đem đại quân đi đánh Lưu Bị, xong rồi đánh Lữ Bố nhân thể.

Kỷ Linh nói:

– Chúa công không nên vội vàng: Lữ Bố dũng lực hơn người; vả lại có tất cả đất Từ Châu. Ví bằng Lữ Bố, Lưu Bị cả hai người, đầu đuôi cùng cứu giúp lẫn nhau, chưa dễ đánh được hắn đâu. Tôi nghe vợ Lữ Bố là họ Nghiêm có đứa con gái, đã đến tuổi cập kê rồi. Chúa công thì có con trai. Nên sai người sang Từ Châu cầu thân với hắn. Nếu Lữ Bố thuận gả con cho con chúa công, tất y phải giết Lưu Bị, kế ấy gọi là kế: “sơ bất gián thân”.

Viên Thuật nghe kế ấy, lập tức sai Hàn Dận đem lễ vật sang Từ Châu cầu hôn.

Dận đến Từ Châu, vào ra mắt Lữ Bố, thưa rằng:

– Chúa công tôi mộ tiếng tướng quân, muốn cầu lệnh ái làm dâu để kết duyên Tần Tấn.

Bố vào bàn với vợ.

Nguyên Lữ Bố có hai vợ, một thiếp. Vốn chỉ có họ Nghiêm làm vợ cả, Ðiêu Thuyền làm thiếp. Sau đến Tiểu Bái lới lấy con gái Tào Báo làm vợ hai. Họ Tào chết trước không có con; Ðiêu Thuyền cũng không có con nào. Duy chỉ có họ Nghiêm sinh được một con gái. Lữ Bố yêu con gái ấy lắm.

Khi Bố vào bàn với vợ thì họ Nghiêm nói rằng:

– Tôi nghe Viên Công Lộ trấn Hoài Nam đã lâu, binh nhiều, lương lắm, có thể làm nên thiên tử nay mai. Nếu y thành được nghiệp lớn thì con ta mới có phận làm được hậu phi. Nhưng chẳng biết hắn ta có mấy con?

Bố nói:

– Chỉ có một mống mà thôi!

Vợ nói:

– Như thế thì nên gả đứt đi. Mai sau con ta dầu chẳng hậu phi, Từ Châu ta cũng chắc được vững bền không phải lo gì.

Bố nghe lời vợ, đãi Hàn Dận tử tế, nhận lời gả con.

Hàn Dận về trình với Viên Thuật.

Thuật lập tức sắm đủ đồ sính lễ, lại sai Hàn Dận đưa sang Từ Châu.

Lữ Bố nhận lễ, mở tiệc thiết đãi, lưu ở nhà khách nghỉ ngơi.

Hôm sau Trần Cung đến tận nhà khách, vào chào Hàn Dận, ngồi rồi đuổi tả hữu ra, mà bảo với Dận rằng:

– Ai hiến kế ấy, để Viên Công cùng Phụng Tiên kết dâu gia? Có phải định lấy đầu Lưu Bị chăng?

Dận giật mình, đứng dậy tạ mà nói rằng:

– Xin Công Ðài đừng hở chuyện ấy.

Cung nói:

– Ta thì không nói ra, nhưng chỉ sợ việc châm tất có người khác biết thì hỏng mất mà thôi.

Dận nói:

– Thế thì làm thế nào, xin ông dạy cho.

Cung nói:

– Ðể ta vào hầu Phụng Tiên, nói để đưa ngay con gái y sang. Như thế được không?

Dận mừng lắm, tạ ơn mà nói rằng:

– Nếu được thế thì Viên Công đội ơn ngài nhiều lắm.

Cung từ Dận, vào hầu Lữ Bố mà nói rằng:

– Tôi nghe ông gả con gái cho con Viên Công Lộ, thực là hay lắm. Nhưng bao giờ mới cho cưới?

Bố nói:

– Hãy để thong thả sẽ bàn.

Cung nói:

– Ngày xưa, từ hôm dạm đến hôm cưới bao lâu có định lệ cả; thiên tử thì một năm; chư hầu thì nửa năm; đại phu thì một mùa; thứ dân thì một tháng…

Bố nói:

– Viên Công Lộ, trời cho được quốc bảo, nay mai sắp làm vua, thì theo lệ thiên tử có được không?

Cung nói:

– Không nên.

Bố hỏi:

– Thế thì theo lệ chư hầu?

– Cũng không nên.

– Thế thì theo lệ đại phu?

– Cũng không nên.

Bố tức hỏi rằng:

– Thế anh muốn bảo tôi theo lệ thứ dân hay sao?

– Không phải thế!

– Thế thì ý anh ra làm sao?

Cung thưa:

– Nay chư hầu trong thiên hạ tranh hùng với nhau. Ông cùng Viên Công Lộ kết thân, đã chắc không ai ghen ghét chưa? Nếu mà để lâu còn kén ngày lành tháng tốt, ngộ có người rình lúc giờ tốt ấy, phục binh ở nửa đường, toan chuyện bất lương, thì làm sao? Vậy bây giờ chúa công đã không cho thì thôi, mà đã ưng cho thì nhân lúc chư hầu chưa biết, đưa ngay con gái đến Thọ Xuân, cho ở riêng một biệt quán, rồi sẽ chọn ngày thành thân, thế có phải muôn phần vững cả, không ngại gì nữa?

Bố mừng nói rằng:

– Công Ðài nói chí phải.

Bố vào bảo với họ Nghiêm ngay đêm hôm ấy sắm sửa đồ cưới, thu xếp ngựa quý xe thơm; sai Tống Hiến, Ngụy Tụch, cùng Hàn Dận, đưa con gái đi, tiếng trống tiếng nhạc rầm rĩ, đưa ra khỏi thành.

Bấy giờ cha Trần Ðăng là Trần Khuê, dưỡng lão ở nhà, nghe thấy tiếng nhạc, hỏi đày tạ việc gì, đày tớ kể chuyện cưới xin là thế. Khuê nói:

– Mẹo đó là mẹo Sơ bất gián thân đó. Lưu Bị nguy đến nơi!

Nói thế rồi tuy bệnh chưa khỏi cũng gắng gượng lại gặp Lữ Bố và nói rằng:

– Tôi nghe tướng quân sắp chết, nên tôi đến viếng.

Lữ Bố giật nẩy mình hỏi:

– Vì sao lại thế?

Khuê nói:

– Bữa trước Viên Thuật cho đem vàng lụa đến biếu ông, là có ý để giết Lưu Huyền Ðức, ông mới lấy chuyện bắn kích giải hòa. Nay tự dưng đến cầu kết dâu gia, ấy là muốn lấy con gái ông để làm tin đó. Khi nào con ông đã về nhà y, y lại sang đánh Lưu Bị để lấy Tiểu Bái. Tiểu Bái mất thì Từ Châu cũng nguy. Vả lại khi đã kết thân với y rồi, hoặc có khi đến vay lương, có khi y đến mượn binh. Ông mà cho y mượn ra, thì ông đã vất vả về y, lại còn kết oán với người khác; nếu ông không giúp, thì thân thích lìa nhau và lại gây ra sự đánh nhau. Huống chi ông đã biết rằng Viên Thuật có ý muốn xưng đế. Muốn xưng đế là làm phản, thế ra ông còn kết thân với phản tặc, thiên hạ ai còn dung ông nữa?

Bố nghe nói thất kinh mà rằng:

– Trần Cung hắn làm lỡ ta!

Vội vàng sai Trương Liêu đem binh đuổi theo, đến ngoài ba mươi dặm, lôi con gái trở về, và bắt Hàn Dận đem giam lại, rồi sai người sang nói với Viên Thuật rằng: Ðồ nữ trang sắm chưa đủ. Khi nào sắm sửa xong sẽ đưa con gái sang.

Trần Khuê lại xui Lữ Bố cho giải Hàn Dận sang Hứa Ðô nộp cho triều đình. Lữ Bố còn đang tần ngần chưa định bề nào, thì có người đến báo rằng:

– Lưu Bị ở Tiểu Bái chiêu quân tậu ngựa, không biết có tình ý gì.

Bố nói:

– Ðó là việc thường của người làm tướng thôi, có lạ gì?

Ðang nói chuyện thì Tống Hiến, Ngụy Tục chạy vào báo rằng:

– Hai chúng tôi vâng mệnh minh công sai sang Sơn Ðông mua ngựa, có tậu được hơn ba trăm ngựa tốt, đi về đến đầu địa giới huyện Bái, bị kẻ cướp ra cướp mất một nửa. Hỏi dò ra thì đám cướp ấy là Trương Phi, là em Lưu Bị giả làm giặc núi đến ăn cướp.

Lữ Bố giận lắm, lập tức điểm binh đến Tiểu Bái đánh Trương Phi.

Lưu Bị nghe thất kinh, vội vàng dẫn quân ra đón. Khi hai bên bày trận rồi, Huyền Ðức cưỡi ngựa ra mà hỏỉ rằng:

– Huynh trưởng có việc gì đem quân đến đây?

Bố trỏ mắng rằng:

– Ở nha môn ta vừa bắn kích để cứu ngươi khỏi được nạn lớn, nay cớ sao ngươi lại cướp ngựa của ta?

Lưu Bị nói:

– Tôi nay thiếu ngựa có sai người ra bốn mặt tìm mua, chứ có đâu dám cướp của huynh trưởng?

Lữ Bố giận mắng rằng:

– Ngươi sai em là Trương Phi ra cướp của ta một trăm rưởi con ngựa tốt, bây giờ lại chối à?

Trương Phi vác mâu cưỡi ngựa ra nói rằng:

– Chính ta cướp ngựa đấy! Ngươi làm gì nổi ta?

Bố nói:

– Tên giặc mắt tròn kia, ngươi đã bao nhiêu lần khinh ta?

Phi nói:

– Sao ta cướp ngựa của ngươi thì ngươi biết tức, ngươi cướp Từ Châu của anh ta, sao không nói?

Bố vác kích lại đánh Trương Phi. Phi cũng vác mâu lại địch. Hai người đánh nhau hơn một trăm hiệp, chưa phân được thua. Lưu Bị sợ lỡ việc ra, vội vàng khua chiêng thu quân về thành.

Lữ Bố chia quân vây bốn mặt.

Lưu Bị về gọi Trương Phi trách rằng:

– Chỉ tới ngươi cướp ngựa của hắn nên sinh sự thế này. Thế thì ngựa ở đâu?

Phi nói:

– Gởi cả vào các chùa.

Huyền Ðức sai ngay người đến trại Lữ Bố, xin đem nộp trả ngựa rồi hai bên cùng bãi binh.

Lữ Bố muốn cho, Trần Cung nói:

– Nay không giết Lưu Bị đi, ngày sau tất hắn hại mình.

Bố lại nghe, không cho nữa lại càng ra riết đánh thành. Lưu Bị về bàn với Tôn Càn, My Chúc, Càn nói:

– Tào Tháo giận Lữ Bố. Không bằng ta bỏ thành chạy sang Hứa Ðô, về với Tào Tháo, rồi mượn quân đánh Lữ Bố, kế ấy là hơn cả.

Lưu Bị hỏi:

– Ai dám ra trước, phá vòng vây bây giờ?

Trương Phi xin đi.

Lưu Bị sai Trương Phi đi trước, Quan Công đi sau. Còn mình thì ở giữa, giữ gìn vợ con già trẻ, đương đêm canh ba, nhân bóng trăng sáng, ra cửa Bắc chạy, gặp ngay Tống Hiến, Ngụy Tục. Hai tướng ấy bị Trương Phi đánh một trận phải lui.

Lưu Bị ra khỏi vòng vây.

Mặt sau Trương Liêu chạy đuổi. Quan Công đánh cho phải đứng lại.

Lữ Bố thấy Lưu Bị đi rồi không đuổi theo nữa, vào thành yên dân, rồi sai Cao Thuận giữ Tiểu Bái; mình lại về Từ Châu.

Lưu Bị chạy sang Hứa Ðô, đóng trại ở ngoại thành, trước hết sai Tôn Càn vào ra mắt Tào Tháo, nói rằng:

– Vì bị Lữ Bố đánh, xin đến nương nhờ.

Tháo nói:

– Huyền Ðức với ta như anh em.

Liền mời vào tương kiến.

Hôm sau Lưu Bị để Quan, Trương ngoài thành, dắt Tôn Càn, My Chúc vào yết kiến Tào Tháo, Tháo đãi làm bậc khách quý. Khi Lưu kể hết chuyện Lữ Bố, Tháo nói rằng:

– Bố là đồ vô ơn, ta với hiền đệ phải hợp sức lại để trừ hắn mới được.

Lưu Bị tạ ơn. Tháo mở yến thiết đãi, đến chiều tiễn ra về. Tuân Úc vào nói rằng:

– Lưu Bị là người anh hùng. Nay không trừ sớm đi, tất để lo về sau.

Tháo chẳng bảo làm sao, Úc ra, Quách Gia vào. Tháo hỏi:

– Úc xui ta giết Lưu Bị. Nên không?

Gia nói:

– Không nên, chúa công cất quân nghĩa binh, vì trăm họ trừ kẻ hung bạo, giữ điều tín nghĩa, để mời hào kiệt còn lo người ta chẳng đến, nay Huyền Ðức có tiếng anh hùng, vì cùng khốn, mới về với ta, nếu lại giết đi, chẳng hóa ra mình hại người hiền. Những người chí sĩ trong thiên hạ nghe thấy sinh ngờ còn ai bước chân vào cửa chúa công nữa, chúa công cùng với ai mà định việc thiên hạ? Trừ được cái lo một người, mà làm cản trở lòng trông ngóng của bốn bể. Cái cơ yên nguy, xin chúa công phải xét mới được.

Tháo mừng nói rằng:

– Người nói chính hợp bụng ta.

Hôm sau Tháo dâng biểu tiến Lưu Bị, xin cho lĩnh chức mục Dự Châu.

Trình Dục can rằng:

– Lưu Bị về sau tất không chịu ở dưới người khác đâu, không bằng giết trước đi.

Tháo nói:

– Nay đương lúc dụng anh hùng, không nên giết một người để mất lòng thiên hạ. Ta với Quách Gia cùng một ý kiến.

Tháo không nghe lời Trình Dục, lại lấy ba ngàn quân và một vạn hộc lương, giao cho Lưu Bị, sai ra Dự Châu nhận chức, tiến quân đóng ở Tiểu Bái, chiêu tập những binh cũ của mình để rồi đánh Lữ Bố.

Huyền Ðức đến Dự Châu, sai người về hẹn với Tào Tháo định ngày cất quân cùng đi đánh Lữ Bố. Khi Tháo sắp đi, có ngựa lưu tinh đến báo rằng:

– Trương Tế từ Quan Trung dẫn quân đến đánh Nam Dương, lỡ phải tên bay bắn chết. Nay cháu Tế là Trương Tú cầm quân, dùng Giả Hủ là mưu sĩ, kết liên với Lưu Biểu đóng quân ở Uyển Thành, muốn đem quân lại phạm cửa Khuyết để cướp giá.

Tháo tức lắm, muống đem binh ra đánh, lại sợ Lữ Bố đến cướp Hứa Ðô, mới hỏi Tuân Úc xem có kế gì.

Tuân Úc nói:

– Việc ấy thực dễ, Lữ Bố là đứa vô mưu, thấy lợi thì hoa mắt lên, minh công nên sai sứ sang Từ Châu, thăng quan thưởng hậu cho hắn, bắt hắn phải hòa với Lưu Bị. Lữ Bố được thưởng tất không nghĩ xa xôi gì nữa.

Tháo ưng ý, liền sai Phụng Quân Đô Úy là Vương Tắc đem bằng sắc cùng tờ giải hòa sang Từ Châu. Một đường thì cắt ngay mười lăm vạn quân đi đánh Trương Tú, chia quân ra làm ba đường; cho Hạ Hầu Ðôn làm tiên phong, quân mã đến Vị Thủy đóng trại.

Giả Hủ thấy vậy khuyên bảo Trương Tú rằng:

– Quân Tào thế lớn lắm, ta không địch nổi. Chi bằng đem quân đầu hàng.

Tú nghe, sai Giả Hủ đến trại Tháo nói trước, Tháo thấy Giả Hủ ứng đối nhanh nhảu, có bụng yêu mến, muốn dùng làm mưu sĩ. Hủ nói:

– Tôi trước theo Lý Thôi, mắc tội với thiên hạ; nay theo Trương Tú, tôi nói gì, bày kế gì Trương Tú cũng theo, nên không nỡ bỏ.

Hủ nói rồi ra về; hôm sau đưa Tú vào yết kiến Tào Tháo. Tháo tiếp đãi thực hậu. Tú dẫn binh vào đóng trong Uyển Thành, lập doanh trại liên tiếp nhau, dài hơn mười dặm. – được vài ngày, Tú mỗi hôm mở yến một lần mời Tháo.

Một bữa Tháo uống rượu say, vào giường ngủ, hỏi nhỏ tả hữu rằng:

– Trong thành có kỹ nữ không?

Ðứa cháu, con của anh Tháo, tên là Tào An Dân, biết ý Tháo, vào thưa thầm rằng:

– Thưa chú, chiềm hôm qua, cháu trông thấy ở cạnh quán sá có một người đàn bà, mười phần xinh đẹp. Cháu hỏi ra thì là vợ Trương Tế, thím Trương Tú.

Tháo nghe nói, liền sai An Dân đem 50 giáp binh ra đòi vào.

Ðược một lát, binh dẫn vào. Tháo trông ra quả nhiên là xinh đẹp, hỏi họ chi, thì người đàn bà thưa rằng:

– Thiếp họ Châu, vốn là vợ Trương Tế.

Tháo hỏi:

– Phu nhân có biết ta không?

– Thiếp được nghe uy danh Thừa Tướng đã lâu. Nay mới được bái kiến.

– Ta cho Trương Tú hàng cũng vì phu nhân đó, nếu không ta đã giết cả họ hắn rồi.

Thực đội ơn tái sinh của ngài.

Tháo nói:

– Hôm nay trời xui được gặp phu nhân, thực là may quá. Ðêm hôm nay xin cùng chăn chiếu, rồi sẽ theo ta về kinh đô, yên hưởng giàu sang. Phu nhân có thuận không?

Châu thị lạy tạ. Ðêm hôm ấy cùng ngủ trong trướng. Hôm sau Châu thị nói:

– Thiếp ở lâu trong thành, Trương Tú tất sinh nghi, vả sợ miệng tiếng người ngoài.

Tháo nói:

– Ðến mai tôi xin cùng phu nhân ra ở trại ngoài thành.

Hôm sau Tháo ra nghỉ ở ngoài thành, sai Ðiển Vi canh giữ bên ngoài, ai vào phải báo trước, cho vào mới được vào.

Vì thế, tin tức trong ngoài không thông. Tào Tháo mỗi ngày cùng họ Châu vui thú, không tưởng gì đến về nữa.

Người nhà Trương Tú, có người mật báo với Trương Tú. Tú giận lắm nói rằng:

– Thằng giặc Tháo hắn làm nhục ta quá!

Bèn mời Giả Hủ đến bàn. Hủ nói:

– Việc ấy đừng tiết lộ ra vội. Ngày mai đợi lúc Tào Tháo ra trướng bàn việc, thời nên làm thế này… thế này…

Hôm sau Tào Tháo ngồi ở trong trướng. Trương Tú vào bẩm rằng:

– Những binh lính mới hàng, nhiều đứa đi trốn, xin Thừa Tướng cho đem đồn vào trung quân.

Tháo ưng thuận. Tú liền dời đồn vào, chia làm bốn trại rồi định ngày khởi sự.

Nhưng Tú còn lo Ðiển Vi khỏe mạnh, khó lòng gần được, bàn với thiên tướng là Hồ Xa Nhi.

Hồ Xa Nhi sức đội được 500 cân, một ngày đi được 700 dặm cũng là một người tài.

Khi ấy Tú hỏi, Hồ Xa Nhi nói:

– Ðiển Vi chỉ giỏi về đôi thiết kích. Ngày mai chúa công cho mời hắn đến uống rượu, cho uống thực say hãy để về. Bấy giờ tôi sẽ lộn vào đám quân sĩ đi theo hắn, lẻn vào trong phòng, ăn trộm được đôi kích thì không sợ gì hắn nữa.

Tú mừng lắm, sai chuẩn bị cung tên, giáp binh, bảo trước các trại, đến hẹn sai Giả Hủ mời Ðiển Vi đến chơi, khẩn khoản mời rượu. Vi đến, tối sai về. Hồ Xa Nhi đi lẫn trong đội quân, lẻn vào trong trại.

Ðêm hôm ấy, Tào Tháo cùng họ Châu đang uống rượu ở trong trướng, chợt nghe ở ngoài có tiếng xôn xao và tiếng ngựa kêu. Tháo sai người ra coi xem có việc gì, quân vào báo rằng: quân Trương Tú đi tuần đêm.

Tháo không nghi gì nữa.

Ðến canh hai ở sau trại lại có tiếng reo, rồi quân lại vào báo rằng:

– Trên những xe cỏ có lửa cháy.

Tháo truyền rằng:

– Ấy là chúng nó lỡ đánh rơi lửa, không ai được xôn xao.

Ðược một hồi thì bốn mặt lửa cùng cháy cả.

Bấy giờ Tháo mới hoảng sợ, vội vàng sai gọi Ðiển Vi.

Ðiển Vi say rượu đang ngủ, trong mơ màng chợt nghe tiếng chiên trống và tiếng người reo hò, giật nẩy mình vùng dậy, sờ đến đôi thiết kích thì không thấy đâu cả.

– Ngoài giặc đã đến cửa. Vi vội vàng giật lấy đao lưng của lính canh, chạy ra, ở ngoài đã thấy vô số quân mã, cầm chặt giáo dài đánh bừa vào trại.

Vi phải nhất sống nhì chết mà lăn sả vào đám quân ấy, chém giết một lúc chết hơn hai mươi người, quân mã ấy mới lui, lại có quân bộ kéo đến. Hai bên giáo mác tua tủa như ngọn lau, mình Vi không một mảnh giáp, trên dưới bị vài mươi nhát đâm. Vi vẫn cứ lăn sả vào đánh; đao mẻ không dùng được, Vi bỏ đao, hai tay vạ ngay lấy hai người làm khí giới, quăng đập một lúc chết tám chín người. Giặc thấythế không dám đến gần, chỉ đứng đằng xa bắn tên lại. Tên bắn như mưa, Ðiển Vi vẫn liều chết giữ cửa trại, nhưng quân giặc đã kéo được vào cửa sau, Ðiển Vi lại bị một mũi giáo đâm trúng giữa lưng. Vi kêu to một tiếng, máu chảy đầy đất rồi chết. Hắn chết được nửa giờ rồi mà vẫn không ai dám đi qua cửa trước.

Tào Tháo nhờ có Ðiển Vi chẹn giữ của trước mới lẻn ra sau trại lên ngựa trốn thoát, chỉ có Tào An Dân đi bộ chạy theo.

Lúc chạy, ngựa Tháo bị một mũi tên, nhưng may được con ngựa tốt, ngựa Ðại Uyên, càng đau càng chạy khỏe.

Chạy gần đến bờ sông Dục Thủy thì giặc đuổi kịp. An Dân bị băm nhỏ ra như bùn, Tháo vội quất ngựa lội qua sông mà chạy. Vừa sang đến bờ bên kia, thì giặc bắn một tên, trúng vào mắt ngựa. Ngựa ngã gục xuống đất. May đâu, giữa lúc ấy thì con trưởng Tháo là Tào Ngang đem ngay con ngựa đang cưỡi nhường cho cha.

Tháo lên ngựa chạy. Tào Ngang bị tên lạc bắn chết, Tháo đi đường gặp các tướng mới thu thập tàn quân lại.

Bấy giờ, quân Thanh Châu do Hạ Hầu Ðôn quản lĩnh, thừa thế về các thôn quê cướp bóc nhân dân. Quan binh lỗ hiệu úy là Vu Cấm đem ngay quân bản bộ dẹp bắt, vỗ yên nhân dân.

Quân Thanh Châu chạy về đón Tào Tháo, khóc lóc lạy xuống đất kêu rằng:

– Vu Cấm làm phản đuổi giết quân mã Thanh Châu.

Tháo thất kinh. Ðược một hồi thì Hạ Hầu Ðôn, Hứa Chử, Lý Ðiển, Nhạc Tiến đều đến. Tháo truyền:

– Vu Cấm làm phản, chư tướng nên đem quân ra đánh.

Vu Cấm thấy cả bọn Tào Tháo đến, đem quân ra dàn thành góc trận, đào hào cắm trại.

Có kẻ thấy vậy bảo Cấm rằng:

– Quân Thanh Châu vu cho ông làm phản, nay thừa tướng đã đến, ông chưa ra nói cho minh bạch, sao lại lập trại trước?

Vu Cấm nói:

– Nay giặc đuổi ở sau lưng, đã sắp đến nơi. Nếu không phòng bị trước thì lấy gì mà đối địch với giặc. Minh biện là việc nhỏ, đánh giặc là việc quan hệ hơn.

Lập trại vừa xong thì quân Trương Tú hai đường kéo đến. Vu Cấm thân ra trước nghênh địch. Tú vội lui quân. Các tướng thấy Vu Cấm xông lên trước, bèn dẫn quân đánh ào lên, đuổi giết hơn một trăm dặm. Quân Tú thua to.

Tú thế cùng, nhặt nhạnh tàn quân về theo Lưu Biểu.

Tào Tháo thu quân điểm tướng. Vu Cấm vào hầu, kể hết cả chuyện quân Thanh Châu đi ăn cướp, làm mất lòng dân, nên y mạp phải dẹp đi. Tháo hỏi:

– Sao ngươi không nói gì với ta, mà lập trại trước là ý thế nào?

Cấm lại đem lời đã nói trước mà giải thích minh bạch để Tào Tháo nghe. Tháo khen rằng:

– Tướng quân trong lúc bối rối, thế mà nghiêm được binh, bền được lũy, mặc người gièm pha, chịu khó nhọc làm cho đang thua hóa ra được, dù danh tướng đời xưa, vị tất đã có ai hơn.

Tháo thưởng cho Vu Cấm một bộ đồ vàng, phong cho làm Ích Thọ Đình Hầu; lại trách Hạ Hầu Ðôn trị quân không nghiêm, rồi làm lễ tế Ðiển Vi.

Tháo thân ra cúng tế khóc than, rồi ngoảnh lại bảo các tướng rằng:

– Ta mất một con trưởng và một cháu yêu, cũng không thương là mấy, chỉ thương khóc Ðiển Vi mà thôi.

Các tướng ai cũng cảm thương.

Hôm sau Tháo hạ lệnh rút quân về Hứa Ðô.

Nay hãy nói chuyện Vương Tắc đem chiếu đến Từ Châu.

Lữ Bố mời Tắc vào phủ, mở đọc chiếu thư, thì chiếu phong cho Bố làm Bình Đông tướng quân, cho ấn thụ, lại đưa thư riêng của Tháo.

Vương Tắc nói đi nói lại mãi với Lữ Bố rằng Tào công kính trọng. Bố mừng lắm. Chợt có người báo Viên Thuật sai người sang. Bố gọi vào hỏi, người ấy nói rằng:

– Viên công nay mai sắp lên ngôi hoàng đế, lập ngôi đông cung, sai tôi sang thúc hoàng phi về Hoài Nam.

Bố nổi giận quát rằng:

– Phản tặc sao dám thế?

Liền giết kẻ sứ của Viên Thuật và đóng gông Hàn Dận, sai Trầng Ðăng mang tờ tạ biểu và giải Hàn Dận cùng Vương Tắc đến Hứa Ðô để tạ ân vua và đáp thư Tào Tháo, và xin thực thụ chức mục ở Từ Châu.

Tháo biết việc kết hôn Viên Thuật với Lữ Bố đã lỡ làng rồi, mừng lắm, đem Hàn Dận ra chém ngoài chợ.

Trần Ðăng nói nhỏ với Tháo rằng:

– Lữ Bố là giống sài lang, khỏe mà vô mưu, khinh đường việc lui và tới, nên sớm liệu trừ đi.

Tháo nói:

– Ta vẫn biết Lữ Bố là một loài sói lòng tham, không nên nuôi lâu. Nhưng phi cha con nhà ông thì không ai dò hết được tình hình hắn. Ông nên cùng với ta mưu toan việc ấy.

Ðăng nói:

– Thừa tướng định làm gì, tôi xin nội ứng.

Tháo mừng lắm, biểu tâu cho Trần Khuê là cha Trần Ðăng ăn lộc trung nhị thiên thạch và cho Ðăng làm Thái Thú ở Quảng Lăng.

Ðăng từ tạ rồi về, Tháo cầm tay Ðăng dặn rằng:

– Việc ở phương Ðông tôi giao phó cho ông đó.

Ðăng gật đầu xin vâng, về Từ Châu vào gặp Lữ Bố. Bố hỏi chuyện. Ðăng cũng kể việc Tào Tháo cho cha ăn lọc và mình được làm thái thú. Bố giận lắm nói rằng:

– Ta sai ngươi sang để cầu chức mục Từ Châu cho ta, ta chẳng được gì, mà cha con ngươi đều được hiển quý, thế là ta bị cha con ngươi đem bán để làm lợi cho mình.

Lữ Bố nói xong rút kiếm toan chém Trần Ðăng. Ðăng cười ha hả mà nói rằng:

– Sao tướng quân lại tối hiểu như thế!

Thế nào là tối hiểu?

Ðăng thưa:

– Tôi vào gặp Tào công, nói rằng: Nuôi tướng quân như nuôi hổ, nên cho ăn no thịt, nếu không ăn no thì tất cắn người. Tào công cười nói rằng: Ta đãi Ôn Hầu như nuôi chim cắt, cáo thỏ chưa trừ được chưa dám cho ăn no vội, bởi vì đói thì còn dùng được, chớ no thì bay mất. Tôi hỏi: Cáo thỏ là gì? Tào công nói: Viên Thuật ở Hoài Nam, Tôn Sách ở Giang Ðông, Viên Thiệu ở Ký Châu, Lưu Biểu ở Kinh Châu, Lưu Chương ở Ích Châu, Trương Lỗ ở Hán Trung, tuyền là cáo thỏ cả.

Bố nghe nói, ném kiếm xuống đất, cười rằng:

– Tào công thực biết ta đó!

Giữa lúc ấy thì có người lại báo rằng:

– Viên Thuật đem quân đến lấy Từ Châu!

Lữ Bố thất kinh.

Thế thực là:

Hôn nhân gây sự can qua,
Tưởng là Tần – Tấn, hóa là Việt – Ngô.

Hồi Thứ Mười Bảy

Viên Công Lộ Hưng Binh Bảy Đạo
Tào Mạnh Ðức Hội Tướng Ba Miền

Viên Thuật ở Hoài Nam đất rộng lương nhiều, lại có ngọc tỉ của Tôn Sách gửi làm tin, có ý muốn tiếm xưng đế hiệu, hội cả các bầy tôi bàn rằng:

– Xưa Hán Cao Tổ chẳng qua là một người đình trưởng ở Tứ Thượng, thế mà lấy được thiên hạ. Từ bấy giờ đến nay đã bốn trăm năm, khí số đã hết. Trong bốn bể loạn tứ tung như vạc sôi. Mà nhà ta thì bốn đời làm đến tam công, trăm họ ai cũng trông ngóng. Ta muốn ứng vận trời, thuận lòng người, lên ngôi cửu ngũ, các người nghĩ thế nào?

Chủ Bạ là Diêm Tượng can rằng:

– Xưa Hậu Tắc nhà Chu, chứa đức chất công; đến đời Văn Vương, thiên hạ chia ba có hai phần, còn phải thờ nhà Ân. Nay minh công gia thế tuy rằng quý, nhưng chưa được thịnh bằng nhà Chu. Nhà Hán tuy rằng suy, nhưng chưa đến nỗi tàn bạo như vua Trụ nhà Ân. Việc ấy quyết không nên làm.

Thuật giận nói rằng:

– Ta họ Viên do từ họ Trần mà ra, mà họ Trần vốn là cháu vua Ðõi Thuấn ngày xưa; thuộc về hành Thổ, lấy Thổ kế vào Hỏa chính ứng vận trời. Vả lại có câu sấm rằng: Thay nhà Hán ấy là chỗ cau ở giữa đường. Tên tự ta là Công Lộ, thế thì chính ứng câu sấm ấy. Lại có ngọc tỉ truyền quốc, nếu ta không làm vua, thì hóa ra trái đạo trời mất. Ý ta đã quyết, ai còn can nữa ta chém.

Lập tức đặt hiệu gọi là Trọng Thị, lập ra các quan, đài, sảnh: cưỡi kiệu long phượng, tế thần Nam Giao, Bắc Giao, lập con gái Phùng Phương làm hoàng hậu, lập con trai làm Ðông cung, rồi sai sứ sang Từ Châu để xin cưới con gái Lữ Bố về làm Ðông cung phi.

Nhưng nghe nói Lữ Bố đem giải Hàn Dận vào Hứa Ðô và đã bị Tào Tháo chém rồi, Thuận giận lắm, liền cử Trương Huân làm Ðại tướng quân thống lĩnh đại quân hơn hai mươi vạn, rồi chia làm bảy đạo sang đánh Từ Châu:

1. Trương Huân đi giữa;

2. Thượng tướng Kiều Dị đi bên tả;

3. Trần Kỷ đi bên hữu;

4. Phó tướng Lôi Bạc đi bên tả;

5. Trần Lan đi bên hữu;

6. Hàng tướng Hàn Tiêm đi bên tả;

7. Dương Phụng đi bên hữu.

Ðạo nào cũng thống lĩnh tướng đội, chọn ngày cất quân; lại sai thứ sử Duyện Châu Kim Thượng làm Thái Úy coi vận tiền lương cho bảy đạo quân.

Thượng không nghe, Thuận giết Thượng, lấy Kỷ Linh làm đô cứu ứng sứ để tiếp ứng cho bảy đạo quân.

Thuận tự lĩnh ba vạn quân sai Lý Phong, Lương Cương, Nhạc Tựu làm thôi tiến sứ, để đi lại cứu ứng quân bảy đạo.

Lữ Bố sai người đi dọ thám, biết tin đạo quân Trương Huân đi theo đường cái lớn đến lấy Từ Châu; đạo Kiều Dị thì lấy Tiểu Bái; đạo Trần Kỷ lấy Nghi Ðô; đạo Lôi Bạc thì lấy Lương Gia; đạo Trần Lan thì lấy Kệ Thạch; đạo Hàn Tiêm thì lấy Hạ Phì; đạo Dương Phụng thì lấy Tuấn Sơn.

Cả bảy đạo quân mã, mỗi ngày đi được 50 dặm, đi đến đâu cướp phá đến đó.

Bố nghe thám về báo thế, cho đi mời các mưu sĩ lại để bàn.

Trần Cung và cha con Trần Khuê cũng đến cả.

Trần Cung nói:

– Cái vạ Từ Châu này chỉ là do cha con Trần Khuê gây ra, nịnh triều đình để cầu tước lộc, mà để vạ lây đến tướng quân. Nay nên đem hai người ấy chém đi, mang đầu sang nộp Viên Thuật, thì lập tức Thuật rút quân về ngay.

Lữ Bố lập tức sai người lôi cha con Trần Khuê, Trần Ðăng ra chém, Trần Ðăng cười to lên nói rằng:

– Sao lại hèn thế? Bảy đạo quân Viên Thuật ta coi như cỏ rác mà thôi. Việc gì phải lo cuồng lên như vậy?

Bố truyền khoan chém rồi bảo Trần Ðăng rằng:

– Hễ ngươi có kế gì phá được giặc thì ta tha cho.

Ðăng nói:

– Nếu tướng quân nghe lời tôi, thì Từ Châu quyết không lo ngại gì cả.

Bố nói:

– Thử nói đi!

Ðăng nói:

– Quân Thuật tuy nhiều nhưng là quân ô hợp, không thân tín nhau. Nếu ta lấy chính binh mà giữ, lấy kỳ binh mà đánh, tất nhiên thành công. Tôi lại có một kế nữa: không những là giữ vững được Từ Châu lại còn bắt sống được Viên Thuật.

Lữ Bố hỏi kế ra làm sao, Ðăng nói:

– Hàn Tiêm, Dương Phụng nguyên là cựu thần nhà Hán; nhân sợ Tào Tháo mà chạy; không có nơi nương tựa cho nên phải theo Viên Thuật. Thuật tất cũng khinh thường họ, mà họ hẳn cũng không vui lòng để cho Thuật sai khiến. Nếu bây giờ ta đưa thư cho hai người ấy, nhử họ làm nội ứng, rồi ta lại nhờ Lưu Bị làm ngoại hợp, chắc là bắt sống được Thuật.

Bố nói:

– Ngươi phải đem thư cho Dương Phụng, Hàn Tiêm nhé?

Ðăng xin vâng.

Bố liền dâng biểu đến Hứa Ðô, và đưa thư sang Dự Châu cho Lưu Bị, rồi mới sai Trần Ðăng dẫn vài quân kỵ, sang trước đường Hạ Phì để đón Hàn Tiêm.

Khi Hàn Tiêm dẫn quân đến, lập trại rồi, Ðăng vào yết kiến.

Tiêm hỏi:

– Ngươi là người của Lữ Bố lại đây làm gì?

Ðăng nói:

– Ta là công khanh nhà Hán, sao lại gọi là người của Lữ Bố? Như tướng quân trước làm tôi nhà Hán, bây giờ lại làm tôi thằng phản tặc, thế là công cứu giá Quan Trung ngày xưa hóa thành công cốc. Tôi trộm nghĩ lấy làm tiếc cho tướng quân. Vả lại tính Viên Thuật là đứa đa nghi, tướng quân theo hắn rồi sau hại tới thân. Nay không sớm liệu đi, sau hối không kịp nữa.

Tiêm than rằng:

– Tôi cũng muốn về với nhà Hán, ngặt vì không có đường về.

Bấy giờ Ðăng mới đưa thư của Lữ Bố ra.

Tiêm xem xong nói rằng:

– Tôi xin lĩnh lời Lữ Ôn Hầu. Xin ông cứ về trước, để tôi cùng Dương tướng quân sẽ trở giáo đánh lới Viên Thuật. Ông về nói với Lữ Ôn Hầu hễ thấy lửa cháy làm hiệu thì đem binh đến tiếp ứng, tất là được.

Ðăng từ giã Tiêm về trình với Lữ Bố.

Bố chia quân ra làm năm đạo: Cao Thuận dẫn một đạo tiến lên đến Tiểu Bái để chống với Kiều Dị; Trần Cung dẫn một đạo đến Nghi Ðô để địch với Trần Kỷ; Trương Liêu và Tang Bá dẫn một đạo đến Lương Gia để địch với Lôi Bạc; Tống Hiến, Ngụy Tục dẫn một đạo đến Kế Thạch để địch với Trần Lan; Lữ Bố thì tự dẫn một đạo đi ra đường cái lớn để đón Trương Huân. Mỗi đạo đem đi một vạn quân, còn thừa để lại giữ thành.

Lữ Bố ra khỏi thành được ba mươi dặm đóng trại. Quân Trương Huân kéo đến, liệu chừng địch với Lữ Bố không nổi, lùi lại hai mươi dặm đóng đồn để đợi quân bốn đạo tiếp ứng.

Canh hai đêm hôm ấy Hàn Tiêm, Dương Phụng đem quân kéo lại đốt lửa làm hiệu, quân Lữ Bố ùa vào trại Trương Huân.

Quân Huân cuống cuồng.

Lữ Bố thừa thế đánh dấn vào.

Huân thua chạy.

Lữ Bố đuổi vừa đến sáng, gặp quân Kỷ Linh tiếp ứng cho Trương Huân vừa đến.

Hai bên vừa sắp sửa đánh nhau, thì Hàn Tiêm, Dương Phụng hai đạo cùng đánh xô đến.

Kỷ Linh cũng thua chạy nốt.

Lữ Bố đuổi theo đánh.

Bỗng thấy ở mé sau núi có một toán quân kéo ra.

-Ở ngoài có một hàng cờ bay phất phới, trong một đội quân mã, vác những cờ vẽ rồng vẽ phượng, cùng là kiếm vàng búa bạc, mao trắng, việt vàng; ở dưới thì tán tía lọng vàng.

Viên Thuật mình mặc áo giáp vàng, nách đeo đôi đao, cưỡi ngựa đứng trước cửa trận, gọi mắng Lữ Bố là đứa phản chủ.

Bố giận vác kích xông vào.

Tướng Thuật là Lý Phong, vác giáo ra địch. ựánh nhau chưa được ba hiệp, bị Lữ Bố đâm vào cánh tay.

Phong bỏ giáo chạy.

Bố thúc quân vào đánh giết.

Quân Viên Thuật cuống cuồng chạy trốn.

Lữ Bố dẫn quân đuổi theo, cướp giật được ngựa và áo giáp vô số.

Viên Thuật dẫn bại quân chạy, mới được vài dặm, sau núi có một toán quân kéo ra, chẹn ngang đường đi.

Một tướng đứng đầu toán quân ấy là Quan Vân Trường, gọi to lên rằng:

– Phản tặc, không chịu chết đi, còn chạy đâu?

Viên Thuật cắm đầu cắm cổ chạy, quân sĩ tán loạn bị Quan Công đánh một trận thật dữ dội.

Viên Thuật thu nhặt được ít tàn quân chạy về Hoài Nam.

Lữ Bố thắng trận, mời Quan Công, Hàn Tiêm, Dương Phụng về cả Từ Châu, mở một tiệc yến to ăn mừng.

Quân sĩ cùng được khao thưởng cả.

Hôm sau Quan Công từ tạ xin về.

Lữ Bố tâu xin cho Hàn Tiêm làm mục ở Nghi Ðô; Dương Phụng làm mục ở Lương Gia. Lúc Bố muốn lưu hai người lại ở Từ Châu, Trần Khuê nói:

– Hai người ấy không nên để ở Từ Châu. Cứ cho họ sang giữ ở Sơn Ðông thì tôi chắc chỉ trong một năm, bao nhiêu thành quách đất Sơn Ðông đều về tay tướng quân cả.

Bố nghe Khuê, tạm cho hai người ra đóng ở Nghi Ðô, Lương Gia để đợi ân mệnh.

Trần Ðăng thấy vậy mới hỏi cha rằng:

– Sao cha không để hai người ấy ở Từ Châu, làm tay trong cho mình để giết Lữ Bố.

Khuê nói:

– Thế ngộ hai người cùng hiệp sức giúp Lữ Bố thì có phải hóa ra thêm nanh vuốt cho hổ không?

Ðăng phục cao kiến của cha.

Viên Thuật thua về Hoài Nam, sai người sang Giang Ðông, hỏi Tôn Sách cho mượn quân để báo thù.

Sách giận mà nói rằng:

– Ngươi lấy không ngọc tỉ của ta, tiếm xưng đế hiệu, làm phản nhà Hán, xấc láo không biết đạo, ta đang muốn đem quân sang hỏi tội ngươi, đời nào lại đi giúp đứa phản tặc?

Bèn viết thư cự tuyệt Viên Thuật.

Thuật xem thư giận nói rằng:

– Thằng trẻ con miệng còn hơi sữa mà dám xấc à, ta phải đánh trước nó đi mới được.

Trưởng sử là Dương Ðại tướng ngăn can mãi Thuật mới thôi.

Tôn Sách từ khi đưa thư, sợ Viên Thuật đem quân đến, điểm binh giữ cửa sông.

Chợt có sứ Tào Tháo đến, đem chiếu chỉ cho Sách làm Thái Thú ở Cối Kê, và sai khởi binh sang đánh Viên Thuật.

Sách bàn bạc với các tướng, muốn khởi binh, Trưởng Sử là Trương Chiêu can rằng:

– Thuật tuy rằng mới thua, nhưng binh nhiều lương đủ, chưa dễ đánh được, không bằng đưa thư cho Tào Tháo, bảo hắn cứ sang đánh trước, rồi ta làm hậu ứng. Hai bên cùng hiệp lại đánh, quân Thuật phải thua, vậy ta chắc được vạn phần, vạn nhất có thua, có Tào Tháo cứu đỡ.

Sách nghe lời, sai sứ giả cứ như thế sang trình với Tào công.

Tào Tháo về đến Hứa Ðô thương nhớ Ðiển Vi lập miếu để thờ, rồi phong cho con Ðiển Vi là Ðiển Mãn làm Trung Lang, đem về phủ nuôi.

Bấy giờ có quân báo Tôn Sách sai sứ giả đem thư đến.

Tháo xem xong thư, lại có người báo rằng:

– Viên Thuật thiếu lương ra cướp ở Trần Lưu.

Tháo muốn thừa cơ sang đánh, sai Tào Nhân giữ lấy Hứa Ðô, còn bao nhiêu tướng sĩ bắt phải đi cả. Quân mã bộ cả thảy mười bảy vạn người, xe lương hơn một ngàn chiếc, một mặt sai người ra hẹn với Tôn Sách, Lưu Bị, Lữ Bố.

Khi quân đi đến địa giớ Dự Châu, Lưu Bị dẫn quân ra đón.

Tháo sai mời vào trại, Lưu Bị vào dâng hai cái đầu.

Tháo giật mình hỏi:

– Ðầu nào?

Lưu Bị nói:

– Ðây là đầu Dương Phụng, Hàn Tiêm.

Tháo hỏi:

– Sao lại giết hai người ấy?

Lưu Bị thưa:

– Lữ Bố sai hai người quyền coi Nghi Ðô, Lương Gia và tâu xin cho được thực thụ chức mục hai nơi ấy. Không ngời hai người thả quân cho ăn cướp của dân, ai cũng ta thán. Bởi thế tôi có làm một tiệc rượu, mời hai người đến bàn việc. Trong khi uống rượu, tôi ném chén làm hiệu sai Quan, Trương là hai em tôi đem hai người giết đi, bắt hết quân hàng phục. Vì thế nên nay lại thú tội với Thừa Tướng.

Tháo nói:

– Ông trừ hại cho nhà nước, ấy là công to, sao lại gọi là tội?

Tháo thưởng cho Lưu Bị, rồi hai bên cùng hợp binh lại, đến địa giới Từ Châu.

Lữ Bố ra đón.

Tháo lấy lời ngọt ngào dỗ dành Lữ Bố, phong cho làm tả tướng quân, hứa rằng: khi nào về Hứa Ðô sẽ đổi ấn khác.

Bố mừng lắm.

Tháo chia quân Lữ Bố ở tả, quân Lưu Bị ở hữu, còn mình tự lĩnh đại quân ở giữa; sai Hạ Hầu Ðôn, Vu Cấm làm tiên phong.

Viên Thuật biết quân Tào đã đến nơi, sai Kiều Dị đem năm vạn quân làm tiên phong.

Hai bên gặp nhau ở giáp giới Thọ Xuân. Kiền Dị tế ngựa ra trước, đánh nhau với Hạ Hầu Ðôn, chưa được ba hiệp, bị Ðôn đâm chết.

Quân Thuật thua chạy về thành. Giữa lúc ấy lại có người báo rằng:

– Tôn Sách đem thuyền đánh mặt Tây; Lữ Bố đem binh đánh mặt Ðông; ba anh em Lưu, Quan, Trương dẫn binh đánh mặt Nam; Tào Tháo thì dẫn mười bảy vạn quân đánh mặt Bắc.

Thuật nghe báo vội vàng họp cả văn võ lại để bàn. Dương đại tướng nói:

– Ðất Thọ Xuân luôn mấy năm nay nước lụt rồi nắng to, dân gian đói khát cực khổ. Nếu bây giờ lại cất quân thì nhiễu dân quá, tất dân oán mình, giặc đến khó lòng mà cự được, không bằng đóng quân ở Thọ Xuân, không đánh nhau với quân địch, đợi quân địch cạn lương tất nhiên sinh biến. Bây giờ bệ hạ hãy nên đem quân ngự lâm qua sông Hoài, trước là sang chỗ lúa chín, sau nữa là hãy tạm lánh thế mạnh của quân địch.

Thuật nghe lời, cho Lý Phong, Nhạc Tựu, Lương Cương và Trần Kỷ, cả thảy bốn tướng với mười vạn quân để giữ Thọ Xuân, còn bao nhiêu tướng giỏi, cùng là vàng bạc châu báu trong kho, thu xếp nhặt nhạnh hết đem qua sông Hoài Nam.

Quân Tào Tháo mười bảy vạn mỗi ngày ăn lương tốn lắm. Các quận lại mất mùa, chuyển vận không kịp.

Tháo thúc quân đánh mau.

Lũ Lý Phong cứ đóng chặt cửa thành không ra. Quân Tháo đánh thành hơn một tháng, lương ăn gần hết.

Tháo đưa thư sang vay Tôn Sách được mười vạn hộc lương. Quan coi lương là Vương Hậu thấy ít quá không đủ phát cho quân, vào bẩm với Tháo, hỏi xem nên làm thế nào?

Tháo nói:

– Ðem hộc nhỏ mà phát cho chúng nó, tạm cấp cứu lấy một lúc.

Hậu lại hỏi:

– Thế ngộ quân sĩ kêu ca thì nói thế nào?

Tháo nói:

– Ta đã có cách.

Hậu vâng lệnh, lấy hộc nhỏ đong lương phát cho quân.

Tháo cho người đi dò các trại, chỗ nào cũng thấy quân ta thán rằng: thừa tướng đánh lừa quân.

Tháo thấy vậy mật cho người ra đòi Vương Hậu vào bảo rằng:

– Nay ta muốn mượn ngươi một cái, để dẹp yên lòng quân, ngươi đừng nên tiếc.

Hậu hỏi:

– Thừa tướng muốn dùng cái gì?

Tháo nói:

– Ta muốn mượn cái đầu ngươi để dẹp yên lòng quân.

Hậu thất kinh, kêu oan, Tháo lại nói:

– Ta cũng biết ngươi không có tội, nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, sau khi ngươi chết, vợ con ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo.

Vương Hậu muốn nói nữa, nhưng Tháo đã gọi ngay đao phủ vào lôi Hậu ra ngoài cửa chém rồi bêu đầu lên một cái sào dài, yết thị rằng: Vương Hậu cố tình làm đấu nhỏ, để ăn cắp lương vua, nay chiếu quân pháp trị tội.

Bởi thế quân sĩ không oán gì nữa.

Hôm sau Tào Tháo hạ lệnh cho các tướng rằng:

– Hạn cho ba ngày, hễ không cố sức phá được thành, các tướng phải chém cả.

Tháo thân đến tận dưới thành, đốc thúc quân sĩ vận chuyển đất đá để lấp hào. Trên thành tên đá bắn xuống như mưa. Có hai tì tướng sợ hãi lui ra, Tháo rút ngay kiếm chém liền ngay ở dưới thành, rồi xuống ngựa để đỡ lấy đất lấp hố. Bởi thế tướng sĩ lớn nhỏ, ai cũng phải cố lăn vào. Trên thành chống cự không nổi, quân Tào tranh nhau lên thành, chặt gẫy khóa cửa thành, ào ào kéo vào.

Lý Phong, Trần Kỷ, Nhạc Tựu, Lương Cương đều bị bắt sống.

Tháo sai đem cả bốn tướng ra chợ chém, đốt sạch cả đề đài cung miếu, và bao nhiêu những đồ phạm cấm trong thành Thọ Xuân, cho quân cướp lấy sạch.

Tháo bàn muốn tiến binh sang sông Hoài đuổi theo Viên Thuật. Tuân Úc can rằng:

– Mấy năm nay đói kém, lương thực khan thiếu, nếu lại tiến binh thì nhọc quân và hại dân, vị tất đã có lợi, không bằng tạm về Hứa Ðô, đợi sang xuân lúa chín, quân lương đủ dùng, bấy giờ ta sẽ liệu.

Tháo ngầy ngừ chưa quyết, chợt có kỵ mã đến báo rằng:

– Trương Tú nương nhờ Lưu Biểu, nay lại tung hoành lắm. Các huyện Nam Dương, huyện Giang Lăng lại làm phản, Tào Hồng chống vại giặc không nổi, thua luôn mấy trận, nên sai đến cáo cấp.

Tháo đưa ngay thư cho Tôn Sách, sai vượt qua sông bày trận làm nghi binh để Lưu Biểu không dám tiến quân; Tháo thì ngay hôm ấy rút quân về, để bàn việc sang đánh Trương Tú.

Lúc đi, sai Lưu Bị lại về đóng đồn ở Tiểu Bái, cùng Lữ Bố kết làm anh em, phải cứu giúp lẫn nhau, không được xâm phạm nhau nữa.

Lữ Bố đem quân về Từ Châu, Tháo nói thầm với Lưu Bị rằng:

– Tôi sai ông đóng ở Tiểu Bái cũng là mẹo đào hố sẵn để bắt hổ đó. Ông nên cùng với cha con Trần Khuê bàn bạc, đừng để lầm lỡ điều gì, tôi sẽ làm ngoại viện.

Dặn dò xong rồi từ biệt nhau.

Tào Tháo dẫn quân về Hứa Ðô, có người báo rằng:

– Ðoàn Ai đã giết được Lý Thôi, Ngũ Tập giết được Quách Dĩ, mang đầu lại dâng. Ai lại bắt được họ hàng Lý Thôi, già trẻ hơn hai trăm người, giải vào Hứa Ðô đem nộp.

Tháo sai đem chia ra các cửa thành chém bêu đầu; nhân dân ai cũng hả dạ.

Vua lên điện hội tập các triều thần văn võ, mở tiệc yến thái bình ăn mừng, phong cho Ðoàn Ai là đảng khấu tướng quân; Ngũ Tập làm điễng lỗ tướng quân, đều đem quân ra trấn thủ Trường An.

Hai người tạ ơn rồi trở ra.

Tháo tâu rằng:

– Trương Tú làm loạn, Tháo xin cất quân ra đánh.

Vua thân ngự loan giá tiễn Tháo.

Bấy giờ về tháng tư năm thứ ba niên hiệu Kiến An. Tháo lưu Tuân Úc ở lại Hứa Ðô, sai binh khiển tướng tự thống lĩnh đại quân kéo đi.

Khi quân đi qua một nơi lúa đã chín, dân thấy quân đến chạy trốn không dám ra gặt lúa.

Tháo sai người đi hiểu dụ hết cả phụ lão thôn quê cùng các quan sở tại rằng:

– Ta phụng chiếu vua, đem quân đánh giặc, trừ hại cho dân. Nay đang mùa lúa chín, bắt đắc dĩ phải khởi binh. Quân tướng lớn nhỏ đi qua những ruộng, ai dẫm lên lúa đều bị chém. Quân pháp thực nghiêm, nhân dân không việc gì phải lo sợ cả.

Trăm họ nghe lời hiểu dụ, chỗ nào cũng vui mừng ca tụng, kéo cả ra đường bái vọng.

Quan quân đi qua các ruộng lúa đều phải xuống ngựa, lấy tay đỡ từng bông lúa mạch, lần lượt truyền tay nhau mà đi, không ai dám dẫm bừa.

Tháo cưỡi con ngựa đang đi, bỗng có một con chim gáy ở trong bụi lúa bay vụt ra. Ngựa Tháo giật mình lồng lên, nhảy ngay vào trong đám lúa, xéo nát cả một vùng lúa mạch.

Tháo lập tức gọi hành quân chủ bạ truyền phải luận tội mình xéo lúa.

Chủ Bạ nói:

– Sao lại có thể kết tội Thừa Tướng?

Tháo nói:

– Ta đặt ra phép, ta lại tự phạm, thì sao chúng phục?

Liền rút kiếm toan tự vẫn. Các tướng vội vàng ngăn lại.

Quách Gia nói:

– Cứ như nghĩa sách Xuân Thu ngày xưa, thì pháp luật không áp dụng với người tôn quý. Thừa Tướng thống lĩnh đại quân, sao lại tự sát?

Tháo dùng dằng một hồi rồi nói rằng:

– Có phải sách Xuân Thu có nghĩa thế, thì ta hãy tạm tha tội cho ta khỏi chết.

Rồi lấy kiếm cắt tóc mình vất xuống đất mà nói rằng:

– Cắt tóc để thay đầu!

Rồi sai người cầm nắm tóc ra, truyền bảo ba quân rằng:

– Thừa Tướng xéo phải lúa, đáng lẽ chém đầu làm hiệu lệnh. Nay hãy cắt tóc để thay!

Quân tướng nghe thấy đều rợn tóc gáy, không ai dám sai phép quân.

Ðời sau có thơ rằng:

Mười vạn quân hùng lắm bụng sao?

Một người ra lệnh cấm thế nào?

Thay đầu, cắt tóc, nghiêm quân pháp,

Trí trá Tào Man ấy mới cao!

Trương Tú nghe thấy Tháo dẫn binh đến, đưa ngay thư sang Lưu Biểu, nhờ làm hậu ứng, một mặt cùng với Lôi Tự, Trương Tiên hai tướng, đem quân ra ngoài thành nghênh địch.

Hai trận quây tròn lấy nhau. Trương Tú cưỡi ngựa ra, trỏ vào Tháo mắng rằng:

– Ngươi là đứa giả nhân giả nghĩa, không biết liêm sỉ, sánh với cầm thú không khác gì!

Tháo giận lắm sai Hứa Chử ra. Tú sai Trương Tiên ra tiếp chiến.

Ðánh nhau được ba hiệp, Chử chém Trương Tiên chết.

Quân Tú thua to, Tháo đem quân đuổi đánh đến dưới thành Nam Dương.

Tú vào thành đóng cửa không dám ra.

Tháo vây đánh thành, thấy hào rộng nước sâu, khó đến được gần thành, sai quân sĩ đổ đất lấp hào; lại dùng những đẫy vải dựng đất và những củi gỗ cỏ rác, chồng chất lẫn lộn cả ở bên thành, để làm bậc trèo vào; lại làm thang cao để dòm vào trong thành.

Tháo cưỡi ngựa đi diễu chung quanh thành ba hôm để nhìn xem địa thế, rồi truyền quân sĩ chất củi gỗ cỏ rác ở góc cửa tây, hội họp chư tướng, theo góc ấy trèo vào thành.

Giả Hủ ở trong thành, trông thấy quang cảnh như thế bảo với Trương Tú rằng:

– Ta biết ý Tào Tháo rồi, nay nên biến kế hắn thành kế của ta.

Thế thực là:

Ðã khôn gặp phải người khôn nữa;
Hay dối trêu ngay kẻ dối hơn.

Hồi Thứ Mười Tám

Giả Văn Hòa Liệu Mưu Quyết Thắng Giặc
Hạ Hầu Ðôn Rút Tên Nuốt Con Ngươi

Giả Hủ biết ý Tào Tháo, muốn biến kế Tháo thành kế của mình, bèn bảo Trương Tú rằng:

– Tôi ở trên thành, thấy Tào Tháo đi chung quanh thành xem xét ba hôm nay, hắn thấy gốc Đông Nam màu gạch, đất mới cũ không được đều, hàng rào chông chà đã nát quá nửa, ý hắn muốn đánh vào mặt ấy, nhưng mà giả vờ chứa cỏ rác ở góc Tây Bắc để đánh lừa ta rút quân về giữ Tây Bắc, rồi hắn nhân đêm tối, trèo lên góc Đông Nam tiến quân vào thành.

Trương Tú vội hỏi:

– Thế thì làm thế nào?

Hủ thưa:

– Khó chi việc ấy. Ngày mai nên sai quân tinh tráng ăn cơm no, mặc quần áo chẽn, phục cả trong buồng các trại ở mé Đông Nam, còn dân trong thành thì ăn mặc giả làm lính giữ mặt Tây Bắc. Ðến đêm mặc kệ cho chúng nó trèo vào góc Đông Nam, đợi khi chúng nó vào trong thành rồi, thì bắn một phát pháo hiệu, bao nhiêu quân phục đổ ra, Tháo chạy đi đằng trời.

Tú nghe, dùng kế ấy. Quả thực có quân thám, báo với Tào Tháo rằng: Trương Tú rút cả quân về mặt Tây Bắc, hò reo giữ thành, còn mặt Đông Nam bỏ trống.

Tháo mừng mà reo lên rằng:

– Hắn mắc kế ta rồi!

Liền sai quân sĩ sắp sẵn thuổng cuốc để đào thành vào; ban ngày chỉ đem quân đánh mặt Tây Bắc, đến tối vào độ canh hai mới đem cả tinh binh ra góc Đông Nam, lội qua hào, dọn sạch hành rào chông.

Trong thành vẫn im phăng phắc.

Quân Tháo kéo ùa cả vào, bỗng nghe một tiếng súng nổ, quân phục bốn mặt đổ ra.

Quân Tào vội vàng rút lui.

Trương Tú thúc quân dũng tráng đánh vào.

Quân Tháo thua to.

Tháo ra thành chạy hơn hai mươi dặm.

Tú đánh mãi đến tang tảng sáng mới rút quân về.

Tháo điểm quân mất hơn năm vạn người; xe lương cùng các đồ khí giới mang đi theo mất nhiều lắm; Lã Kiền, Vu Cấm đều bị thương.

Giả Hủ thấy Tháo thua chạy, bảo ngay Trương Tú đưa thư cho Lưu Biểu, sai đem quân ra chẹn đường sau.

Biểu được thư muốn kéo quân đi ngay, chợt có thám mã đến báo rằng:

– Tôn Sách đóng quân ở Hồ Khẩu.

Khoái Lương nói:

– Sách đóng binh ở Hồ Khẩu là mẹo của Tào Tháo đấy. Nay Tào Tháo mới thua, nếu mình không thừa thế đánh ngay, về sau tất rồi sinh lo.

Biểu mới sai Hoàng Tổ giữ vững cửa ải, mình tự đem quân đến huyện An Chúng, chẹn đường Tào Tháo, một mặt giao ước với Trương Tú.

Tú thấy Biểu đã khởi binh, cùng Giả Hủ đem quân đuổi Tào Tháo.

Tào Tháo dẫn quân đi dần dần đến Tương Thành, gần sông Dục Thủy.

Tháo tự dưng ngồi trên ngựa, khóc hu hu lên.

Các tướng ngạc nhiên hỏi vì cớ gì, Tháo nói rằng:

– Ta khóc là vì nhớ năm ngoái đại tướng của ta là Ðiển Vi chết ở chỗ này. Nghĩ đến, ta lại thương mà khóc.

Tháo lau nước mắt rồi truyền lệnh hãy đóng quân mã lại đó, bày một lễ lớn, tế vong hồn Ðiển Vi.

Tháo tự mình thắp hương khóc rồi lễ.

Ba quân ai thấy cũng động lòng.

Tế Ðiển Vi xong rồi, Tháo tế cháu là Tào Dân và con cả là Tào Ngang, rồi lại tế cả những quân lính chết ở đấy năm trước, tế cả đến con ngựa Ðại Uyển cùng chết một trận.

Hôm sau Tuân Úc sai người đến báo rằng:

– Lưu Biểu giúp Trương Tú đóng quân ở An Chúng, định chẹn đường ta.

Tháo trả lời Úc rằng:

– Mỗi ngày ta đi có vài dặm. Không phải là ta không biết có quân giặc đuổi theo sau đâu. Ta đã định đâu vào đấy cả rồi. Nếu đến An Chúng, ta chắc phá được quân Tú. Các ngươi chớ lo.

Nói rồi, giục quân đi cho mau đến đầu huyện An Chúng.

Quân Lưu Biểu đã giữ cả những chốn hiểm yếu, đằng sau thì Trương Tú kéo quân đuổi theo.

Tháo sai quân đêm hôm ấy đào những nơi hiểm mở đường mai phục kỳ binh.

Ðến sớm hôm sau, Lưu Biểu, Trương Tú, hai bên hội quân với nhau, thấy quân Tháo có ít, tưởng Tháo đã đi trốn rồi, kéo quân vào đường hẻm để đánh.

Bấy giờ Tháo mới thả quân phục ra, đánh vỡ tan cả quân hai nhà, rồi ra khỏi cửa huyện An Chúng, hạ trại ở mé ngoài cửa ải đóng quân.

Lưu Biểu, Trương Tú thua, nhặt nhạnh tàn quân rồi cùng bàn với nhau. Biểu nói:

– Không ngờ lại mắc phải kế Tào Tháo!

Tú nói:

– Ðể thong thả ta sẽ liệu.

Hai bên cùng đóng quân ở An Chúng.

Tuân Úc do thám được rằng Viên Thiệu muốn đem quân tiến vào Hứa Ðô, lập tức sai người đem thư cho Tào Tháo.

Tháo thất kinh, ngay hôm ấy rút quân về.

Quân Trương Tú có đứa do thám thấy thế, về báo với Tú. Tú muốn đuổi theo.

Giả Hủ can rằng:

– Không nên đuổi, đuổi tất thua!

Lưu Biểu không nghe, nói rằng:

– Nay không thừa thế đuổi dấn đi, bỏ phí mất cơ hội hay.

Biểu cố khuyên Tú, cùng dẫn một vạn quân đuổi theo.

Ði được mười dặm, đuổi kịp hậu quân Tào Tháo.

Quân Tào cố sức đánh lại. Bỉểu, Tú thua to chạy về.

Tú than với Hủ rằng:

– Tại tôi không nghe lời ông, quả nhiên thua thật.

Giả Hủ cười bảo rằng:

– Bây giờ hai ông nên thu quân lại mà đuổi.

Biểu và Tú nói:

– Vừa thua xong, lại còn đuổi làm gì nữa?

Hủ nói:

– Hai ông cứ đuổi đi. Phen này chắc hẳn là được. Hễ thua cứ chặt đầu tôi đi.

Tú tin lời Hủ, Biểu còn nghi hoặc, không chịu đi.

Tú dẫn quân một mình đi đuổi.

Quân Tháo quả nhiên thua to. Xe ngựa lương thảo bỏ đầy cả ra đường mà chạy.

Tú đương đuổi, sau núi bỗng có một cánh quân kéo ra, không dám đuổi nữa, thu quân về An Chúng.

Lưu Biểu thấy Tú được trận về, mới hỏi Giả Hủ:

– Trước đem quân thắng đuổi quân thua ông bảo rằng tất thua; sau đem quân thua đuổi đánh quân thắng, ông lại bảo tất được. Trước sau đều như lời ông cả. Sau cùng hai việc ông nói hai cách đều nghiệm cả, xin ông giảng cho tôi nghe.

Hủ thưa:

– Việc ấy dễ hiểu! Tướng quân dẫu biết dùng binh, nhưng không phải là tay địch nổi với Tào Tháo. Tào Tháo thua chạy tất nhiên phải để những tướng giỏi đi sau để phòng quân đuổi, quân ta dù giỏi cũng không địch nổi, bởi vậy tôi biết tất là thua. Tháo sở dĩ vội lui quân, chắc vì Hứa Ðô có việc, khi đã đánh được quân ta, tất nhiên xe nhẹ đi nhanh không phòng bị gì nữa, ta nhân lúc Tháo không phòng bị mà đuổi, chắc là được.

Lưu Biểu, Trương Tú đều phục là cao kiến.

Hủ lại khuyên Biểu về Kinh Châu và Tú giữ lấy Tương Thành để giúp đỡ lẫn nhau. Hai bên đều thu quân về.

Ðây nói lúc Tào Tháo đang đi nghe thấy báo:

– Hậu quân bị Trương Tú đuổi đánh.

Tháo liền đem các tướng lại cứu, đã thấy quân Trương Tú rút về rồi, bấy giờ đám hậu quân thua lại bẩm với Tháo rằng:

– Cũng may ở sau núi có toán quân ra chẹn đường, nếu không thì bị bắt hết cả.

Tháo vội hỏi:

– Người nào thế?

Một tướng vác giáo, xuống ngựa vào bái kiến Tào Tháo, thì là Trấn Oai Trung Lang tướng, người ở Giang Hạ, họ Lý tên Thông, tự là Văn Ðạt.

Tháo hỏi:

– Anh ở đâu đến?

Thông nói:

– Gần đây tôi giữ Nhữ Nam. Nghe tin Thừa Tướng đánh nhau với Trương Tú, Lưu Biểu, nên tôi đến để tiếp ứng.

Tháo mừng, phong cho Thông làm Kiến Công Hầu, sai giữ mé Tây đất Nhữ Nam để phòng Biểu, Tú.

Thông lạy tạ rồi đi.

Tháo về Hứa Ðô, dâng biểu tâu Tôn Sách có công, xin phong làm Thảo Nghịch tướng quân, tước Ngô Hầu, sai sứ cầm chiếu đến Giang Ðông, sai phải phòng đánh Lưu Biểu.

Tháo về phủ. Các quan đều đến chào mừng xong cả rồi, Tuân Úc mới hỏi rằng:

– Thừa Tướng đi thong thả đến An Chúng. Sao biết rằng tất phá được giặc?

Tháo nói:

– Quân đi không có đường về, tất sống chết cũng phải cố đánh. Ta đi thong thả là để dử đằng kia hắn đến, vả ta đã có quân phục chỉ chực để đánh. Thế thì làm gì mà không chắc được!

Tuân Úc bái phục.

Bấy giờ Quách Gia mới vào.

Tháo hỏi:

– Sao ông lại chậm thế?

Gia sờ vào trong tay áo lấy ra một phong thư, đưa cho Tào Tháo thưa rằng:

– Viên Thiệu sai người đưa thư cho Thừa Tướng, nói rằng muốn đem quân đánh Công Tôn Toản, đến mượn binh lương.

Tháo nói:

– Ta nghe Thiệu muốn dòm Hứa Ðô, nay thấy ta về, nên mới xoay ra cách khác.

Nói rồi mở thư ra xem. Thấy lời lẽ kiêu ngạo, Tháo hỏi Gia rằng:

– Viên Thiệu láo. Ta muốn sang đánh, ngặt vì sức ta không nổi, nên làm thế nào?

Quách Gia thưa:

– Họ Lưu không địch được họ Hạng, ông cũng đã biết, thế mà Hạng Vũ sau bị bắt là vì Cao Tổ có nhiều mưu trí. Nay Viên Thiệu có mười điều thua, còn ông có mười điều được, do đấy quân Thiệu tuy mạnh, nhưng không đáng sợ.

Tính Thiệu hay vẽ vời nghi lễ. Ông thì dễ dãi tự nhiên, thế là được về đạo.

Thiệu hành động trái lẽ. Ông thuận lẽ phải, thế là được về nghĩa.

Từ đời Hoàn, Linh đến giờ, triều chính đổ nát vì quá khoan rộng.

Nay Thiệu khoan quá, mà ông thì nghiêm để đưa vào quy củ, thế là được về chính trị.

Viên Thiệu ngoài khoan hòa, mà trong nghi kỵ, lại dùng toàn những người thân thích. Ông thì ngoài giản dị, trong sáng suốt, dùng người toàn là nhân tài, thế là được về độ lượng.

Thiệu nhiều mưu mà ít quyết đoán. Ông được mưu hay là làm ngay, thế là được về mưu lược.

Thiệu hiếu danh. Ông thì lấy bụng thực đãi người, thế là được về đức.

Thiệu nghĩ chỗ gần, quên chỗ xa. Ông thì nghĩ đâu cũng khắp, thế là được về nhân.

Thiệu hay nghe gièm pha, ngờ vực người. Ông thì không tin những đứa sàm nịnh, thế là được về sự sáng suốt.

Thiệu phải trái hồ đồ. Ông thì phép tắc phân minh, thế là được về văn.

Thiệu thích hư trương thanh thế, nhưng không biết cách dùng binh. Ông thì lấy ít đánh được nhiều, dùng binh như thần, thế là được về võ.

Ông có mười điều được ấy, đánh thắng Thiệu có khó gì.

Tháo cười nói rằng:

– Ông nói thế! Tôi sau có đủ được mười điều ấy.

Tuân Úc nói:

– Quách Phụng Hiếu kể mười điều được của ông và mười điều thua của Viên Thiệu, quả là hợp ý tôi lắm. Quân Thiệu dù nhiều cũng không đáng sợ.

Gia lại nói:

– Nay tôi xin lại hiến một kế: Lữ Bố ở Từ Châu là một mối lo trong lòng. Nay Thiệu lên mặt Bắc để đánh Công Tôn Toản. Ta nhân hắn đi xa hãy đánh Lữ Bố trước, quét sạch cõi Đông Nam đã, rồi sẽ đánh Viên Thiệu sau. Thế là hơn cả. Nếu ta đang đánh Viên Thiệu. Lữ Bố thừa cơ xâm phạm Hứa Ðô, thì lại hại to.

Tào Tháo cho là phải, bèn bàn việc kéo quân sang Đông đánh Lữ Bố.

Tuân Úc nói:

– Hãy sai người sang hẹn với Lưu Bị, đợi xem về báo thế nào, bấy giờ ta sẽ khởi binh.

Tháo nghe lời, một mặt đưa thư cho Lưu Bị, một mặt hậu đãi sứ Viên Thiệu, tâu cho Thiệu làm Đại Tướng Quân Thái Úy, và Đô Đốc cả bốn châu: Ký, Thanh, U, Tĩnh, lại đưa mật thư nói rằng: ông cứ sang đánh Công Tôn Toản, tôi sẽ giúp ông.

Thiệu được thư mừng lắm, liền sai tiến quân đánh Công Tôn Toản.

– Từ Châu, mỗi lần yến hội tân khách, cha con Trần Khuê cực lực ca tụng Lữ Bố.

Trần Cung không bằng lòng, nhân lúc vắng nói với Lữ Bố rằng:

– Cha con Trần Khuê ngoài mặt nịnh tướng quân, nhưng thâm hiểm khó lường được. Tướng quân phải giữ gìn cho khéo.

Bố giận mắng rằng:

– Ngươi vô cớ gièm pha, muốn hại người tốt hay sao?

Cung trở lui ra than rằng:

– Lời trung chẳng nghe. Lũ ta sẽ mắc nạn cả.

Cung muốn bỏ Lữ Bố đi nơi khác, nhưng không nỡ, lại sợ người ta chê cười, cả ngày buồn rầu, không vui.

Một hôm Cung đem vài mươi quân kỵ đi săn ở Tiểu Bái để giải trí, chợt gặp trên đường cái quan một người cưỡi ngựa trạm phóng ngựa lên trước.

Cung có bụng nghi, bỏ ngay vây săn, đem quân chạy đường tắt đuổi kịp, hỏi rằng:

– Ngươi là sứ giả của ai?

Người cưỡi ngựa biết Cung là bộ hạ Lữ Bố, sợ lúng túng không nói được.

Cung sai khám trong mình, bắt được một phong mật thư của Lưu Bị trả lời Tào Tháo.

Cung lập tức lôi cả người lẫn thư lại trình Lữ Bố, Bố hỏi người mang thư, người mang thư thưa: Tào thừa tướng sai tôi mang thư đưa đến Lưu Dự Châu, nay được thư trả lời, tôi không biết trong thư nói gì.

Bố mở thư ra xem, thư nói rằng:

– Tôi vâng lời minh công, muốn trừ Lữ Bố, ngày đêm vẫn phải lưu tâm. Ngặt tôi binh mọn tướng ít chưa dám khinh động. Nếu Thừa Tướng cất quân sang đánh tôi xin làm tiền khu. Nay xin sắp binh sửa giáp để đợi mệnh ngài.

Lữ Bố xem xong giận lắm, liền sai đem chém sứ giả, rồi sai Trần Cung, Tang Bá kết liên với giặc Thái Sơn là Tôn Quan, Ngô Ðôn, Doãn Lễ và Xương Hi, sang phía Đông đánh các quận Sơn Ðông, Duyện Châu.

Bố sai Cao Thuận, Trương Liêu đánh Bái Thành, bắt Lưu Bị; sai Tống Hiến, Ngụy Tục sang phía tây đánh Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên; Bố thì thống lĩnh trung quân để cứu ứng ba mặt.

Cao Thuận dẫn quân từ Từ Châu sắp đến Tiểu Bái, có người vào báo với Lưu Bị.

Lưu Bị họp ngay các quan lại bàn.

Tôn Càn nói:

– Trước hết nên cáo cấp ngay với Tào Tháo đã.

Lưu Bị hỏi:

– Ai sang Hứa Ðô bây giờ?

– Dưới thềm có một người bước ra xin đi, hỏi ra thì là người cùng làng với Lưu Bị, tên là Giản Ung, tự là Hiến Hòa, hiện đương làm Mạc Tân.

Huyền Ðức lập tức viết thư giao cho Ung, sai phải cấp tốc đi cho mau đến Hứa Ðô cấp cứu.

Một mặt chuẩn bị khí cụ giữ thành. Lưu Bị giữ cửa Nam, Tôn Càn giữ cửa Tây, Quan Công giữ cửa Bắc, Trương Phi giữ cửa Đông; lại sai My Chúc và em là My Phương giữ trung quân.

Nguyên My Chúc có em gái gả cho Lưu Bị làm vợ thứ, bởi thế Lưu Bị mới sai giữ ở trung quân để trông nom vợ con.

Khi quân Cao Thuận đến, Huyền Ðức đứng trên địch lâu hỏi rằng:

– Ta cùng Phụng Tiên không hiềm khích gì, cớ sao dẫn quân đến đây?

Thuận nói:

– Ngươi kết liên với Tào Tháo, quyết hại chủ ta, nay việc đã tiết lộ, sao không chịu trói ngay!

Thuận nói xong vẫy quân vào thành, Huyền Ðức đóng cửa không ra.

Hôm sau Trương Liêu dẫn quân đánh cửa Bắc.

Quan Công đứng ở trên thành bảo Trương Liêu rằng:

– Tôi trông ông nghi biểu cũng không phải người thường, sao lại khuất thân theo giặc?

Trương Liêu nghe nói, cúi đầu xuống, chẳng nói gì cả.

Vân Trường biết rằng người ấy có khí trung nghĩa, không nỡ nói quá, và cũng không ra đánh.

Liêu dẫn quân lui đến cửa Đông.

Trương Phi ra đánh.

Có người báo với Quan Công, Quan Công vội vàng ra cửa Đông xem thì thấy Trương Phi vừa ra thành thì Trương Liêu đã lui quân.

Phi muốn đuổi theo, Quan Công gọi lại bảo vào thành.

Phi nói:

– Hắn sợ mà chạy làm sao không đuổi?

Quan Công nói:

– Võ nghệ người ấy chẳng kém gì hai anh em ta đâu. Vì anh đã lấy lời phải bảo y, nên y có bụng hối không đánh nhau với ta đó.

Phi từ ấy không ra đánh nữa chỉ sai quân sĩ cố giữ lấy thành.

Giản Ung đến Hứa Ðô, vào ra mắt Tào Tháo, kể hết đầu đuôi.

Tháo họp mưu sĩ lại để bàn, nói rằng:

– Nay ta muốn sang đánh Lữ Bố, chẳng lo gì Viên Thiệu chẹn nách, nhưng chỉ sợ Lưu Biểu với Trương Tú chúng chực ở đằng sau đánh tập hậu.

Tuân Du nói:

– Hai người ấy mới thua, chưa dám khinh động. Lữ Bố kiêu dũng lắm, nếu để cho hắn kết liên được với Viên Thuật, tung hoành bên vùng Hoài, Từ thì khó lòng trừ được.

Quách Gia nói:

– Nay nhân hắn mới làm phản, bụng quân chưa ai phục, ta nên đánh ngay đi.

Tháo lập tức sai Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Uyên, Lã Kiền lĩnh năm vạn quân đi trước. Tự mình thống đại quân lần lượt kéo đi sau.

Giản Ung cũng theo về.

Có thám mã báo với Cao Thuận.

Thuận báo vớ Lữ Bố.

Hầu Thành, Hách Manh, Tào Tính dẫn hơn ba trăm quân kỵ tiếp ứng.

Cao Thuận, sai ra đón Tháo ngoài Bái Thành ba mươi dặm.

Lữ Bố tự dẫn đại quân đến tiếp ứng sau.

Lưu Bị ở trong thành Tiểu Bái thấy Cao Thuận lui quân, biết rằng quân Tào đã đến, chỉ để Tôn Càn giữ thành; My Chúc, My Phương giữ nhà, mình thì đem Quan, Trương ra ngoài thành, chia đường đóng trại, tiếp ứng Tào Tháo.

Hạ Hầu Ðôn dẫn quân đi lên, vừa gặp ngay Cao Thuận kéo quân đến, lập tức vác giáo cưỡi ngựa ra thách đánh.

Cao Thuận lại địch.

Hai bên đánh nhau bốn năm mươi hiệp.

Cao Thuận chống đỡ không nổi, thua chạy về trận.

Ðôn tế ngựa đuổi theo.

Thuận chạy vòng quanh trận.

Ðôn không tha cũng chạy vòng quanh đuổi.

Tào Tín đứng trong trận trông thấy hai người đuổi nhau ngầm giương cung đặt tên, nhìn thực đích xác, bắn một phát trúng ngay mắt bên tả Hạ Hầu Ðôn.

Ðôn kêu to một tiếng, lấy tay rút mũi tên ra, không ngờ cả con ngươi cũng bật ra. Ðôn nói rằng: Tình cha huyết mẹ không nên bỏ, rồi đút con ngươi vào mồm nuốt chửng, lại cầm giáo tế ngựa xông vào đánh Tào Tín.

Tín chưa kịp đề phòng bị Ðôn đến đâm một nhát vào giữa mặt, chết ngã quay xuống.

Quân sĩ hai bên trông thấy ai cũng khiếp đảm.

Ðôn giết được Tín rồi quay ngựa về.

Cao Thuận tự đằng sau đuổi lại vẫy quân kéo ùa cả lên.

Quân bên Tào thua.

Hạ Hầu Uyên hộ vệ anh chạy thoát.

Lã Kiền, Lý Ðiển rút bại quân về Tế Bắc đóng trại.

Cao Thuận được trận ấy rồi quay về đánh Lưu Bị.

Giữa lúc ấy đại quân Lữ Bố cũng đến.

Bố cùng Trương Liêu, Cao Thuận chia quân làm ba đường tiến đánh…

Thế mới biết rằng:

Mãnh tướng nuốt ngươi tuy đánh giỏi,
Tiên phong trúng đạn khó lâu bền?

Hồi Thứ Mười Chín

Ðánh Hạ Bì, Tào Tháo dùng kế
Lầu Bạch Môn, Lữ Bố vong thân

Lữ Bố cử Trương Liêu, Cao Thuận đi đánh Vân Trường, còn Lữ Bố địch với Trương Phi, Huyền Ðức thì trợ chiến cho hai em . Lữ Bố đánh thốc hai mũí dùi, Quan Trương phải né tránh Huyền Ðức chạy về

Bái Thành, Lữ Bố rượt theo. Cửa thành vội mở đón Huyền Ðức, nào ngờ Lữ Bố dẫn quân như bay xông thẳng vào thành. Huyền Ðức vội chạy ra cửa Tây, bỏ cả vợ con gia quyến.

Lữ Bố ra lệnh chiêu an.

Mê Trước nói :

– Việc này do Tào Tháo chứ không phải Huyền Ðức.

Lữ Bố trả lời :

– Ừ, ta với Huyền Ðức là chỗ bạn cũ , sao nỡ làm hại gia quyến nguời . Nói rồi cho đưa gia quyến Huyền Ðức về Từ Châu. Lại khiến Trương Liêu, Cao Thuận ở lại giử Tiểu Bái, còn mình thì qua Diễn Châu và San Ðông.

Lúc này , Quan Trương phải vào núi mà ẩn. Còn Huyền Ðức đang chạy nghe một người kêu, té ra Tôn Càng.

Tôn Càng khuyên về đầu Tào Tháo.

Huyền Ðức y theo và lên đường ngay. Dọc đường đói khát, được dân chúng đem lễ vật đãi đằng.

Ít lâu sau, thấy trước mặt bụi bay mù trời. Té ra là quân của Tào Tháo.

Huyền Ðức dắt Tôn Càng vào ra mắt, được Tào Tháo ân cần đón nhận.

Khi binh Tào đến Tế Bắc thì có Hạ Hầu Huyên nghinh đón , Huyên kể việc Hạ Hầu Ðôn bị tên trúng mắt hiện còn nằm dưỡng bệnh.

Tào Tháo cho đưa Ðôn về Hứa đô. Mặt khác sai quân đi dò tin, được biết Lữ Bố cùng Trần Cung , Tang Bá đang hoành hành ở Diễn Châu.

Tháo liền sai Tào Nhơn đánh mặt Tiểu Bái còn Huyền Ðức cùng mình hiệp nhau đi đánh Lữ Bố.

Dọc đường, Tháo đánh tan đạo quân ăn cướp ở núi Thái San.

Lữ Bố lúc này đă về Từ Châu hay tin liền cùng Trần Ðăng đi đánh Tiểu Bái, sai Trần Khuê ở lại giữ Từ Châu.

Khuê dặn rằng :

– Nên nhớ việc Tào Công ủy thác .

Ðăng nói :

– Việc bên ngoài xin cứ mặc con, chừng nào Lữ Bố chạy về thì cha đừng cho hắn vào, con đã có kế.

Sau đó Trần Ðăng vào nói với Lữ Bố :

– Từ Châu nay bốn mặt đều thọ địch. Vậy nên dời bớt lương về Hạ Bì.

Bố khen phải và cho luôn gia quyến sang Hạ Bì để an tâm hơn.

Sau đó Bố cùng Trần Ðăng đi cứu Tiểu Quang.

Nửa đường, Trần Ðăng xin đi trước để dò động tĩnh.

Tới Tiểu Quang, Trần Cung rước Ðăng vào, Ðăng nói dối :

– Ôn Hầu trách các ông sao không tiến tới mà chỉ cố thủ. Thế nào các ông cũng bị quở đó .

Trần Cung nói :

– Tôi thấy binh Tào đang mạnh, nhờ ông thưa lại Chúa Công chỉ nên cố thủ mà thôi .

Trần Ðăng giả vờ gật đầu. Sau đó, Ðăng lên mặt thành nghe ngóng, thấy binh Tào đã tới, bèn bắn xuống một mũi tên có mang theo bức mật thư.

Hôm sau, Ðăng từ giả Trần Cung về thưa với Lữ Bố :

– Chúa Công nên mang binh gấp tới tiếp ứng Trần Cung .

Bố gật đầu và dặn khi cần, Trần Cung hãy nổi hỏa lên làm hiệu.

Sau đó Ðăng lại tới bảo Trần Cung :

– Từ Châu đang nguy khốn, ông phải mau về cứu .

Cung liền dẫn quân đi ngay, Trần Ðăng liền nổi hỏa làm hiệu. Ðêm ấy vì tối trời hai đạo binh Trần Cung và Lữ Bố lầm tưởng nhau là địch, đánh nhau chết hại vô số. Sau đó hai người nhận ra nhau, mới biết đều mắc mưu Trần Ðăng cả, liền kéo đi Từ Châu.

Ðến cửa thành thì tên ở trên bắn xuống.

Mê Trước nói xuống :

– Mi đoạt thành của ta thì nay phải trả, đừng vô nữa.

Bố liền cùng Trần Cung định sang Tiểu Bái thì nửa đường đã gặp Trương Liêu và Cao Thuận cũng kéo binh về.

Thì ra Trương Liêu bị Trần Ðăng gạt bảo Lữ Bố bị vây ở Từ Châu nên kéo quân đi cứu.

Lữ Bố hét lên như sấm, thề giết Trần Ðăng mới thôi.

Sau chót lại kéo quân đi Tiểu Bái cũng đã thấy phất phới lá cờ Tào Tháo rồi.

Lữ Bố chửi mắng Trần Ðăng, Ðăng ở trên đáp :

– Ta là tôi nhà Hớn, đâu là tôi của mi .

Lữ Bố xông tới đánh thành, gặp Trương Phi.

Cao Thuận ra địch với Trương Phi, không lại, Lữ Bố ra tiếp tay thì bốn phía lại có binh Tào đổ đến.

Lữ Bố chạy về hướng Ðông, binh Tào đuổi theo.

Bỗng có một tướng ra chặn đường. Thì ra là Vân Trường.

Ðàng sau thì Trương Phi sắp tới, Lữ Bố không dám đánh, chạy gấp về Hạ Bì.

Hầu Thành ra tiếp đón, rước vào thành.

Nói về Quan Công và Trương Phi dắt nhau về ra mắt Huyền Ðức, ba anh em mừng mừng tủi tủi. Xảy có Mê Trước báo tin cho Huyền Ðức biết cả gia quyến vẫn được bình an. Kế đó, cha con Trần Khuê vào ra mắt Tào Tháo, Tháo truyền mở tiệc khao thưởng hết mọi người.

Sau đó kéo đi đánh Hạ Bì.

Trình Dục thưa :

– Nay Lữ Bố chỉ còn một Hạ Bì này nếu áp bức y lắm, y về với Viên Thuật thì thành một hậu họa. Vả chăng bọn Tang Bá, Tôn Quang ở San Ðông cũng chưa bình định được. Vậy thì phải cử một tướng giỏi ngăn chận ở đường tắt Hoài Nam khiến Lữ Bố không tiếp xúc với Viên Thuật mới được .

Tháo liền nhờ Huyền Ðức đi ngăn chận đường Hoài Nam.

Huyền Ðức để Mê Truớc và Giảng Ung ở lại Từ Châu, còn mình với Quan, Trương và Tôn Càng kéo quân ra đi.

Chính Tào Tháo kéo đại binh đi đánh Hạ Bì.

Lữ Bố ở Hạ Bì thấy lương thực đầy đủ, lại có sông Vị Thủy hiểm trở thì an lòng cố thủ.

Trần Cung bảo :

– Quân Tào mới đến, nên nhân cơ hội dánh cho một trận .

Bố nói :

– Quân ta vừa thua, nên cho dưỡng sức. Chờ binh nó kéo đến đây, ta đánh cũng không muộn. Vả lại chúng khó mà qua được sông Vị Thủy.

Khi Tào Tháo lập trại xong, liền cho quân tới trước thành nhiếc mắng.

Trần Cung lúc đó đứng cạnh Lữ Bố nói rằng :

– Thằng Tào Tháo này quả là đứa gian hùng . Nói rồi bắn một mũi tên, trúng ngay vào cây lọng vàng che đầu Tào Tháo. Tháo tức lắm, truyền đánh thành gấp .

Trần Cung khuyên Lữ Bố rằng binh Tào ở lâu thì thế nào cũng hết lương, vậy Bố nên mang quân ra một nơi ngoài thành, còn trong thành cứ mặc Trần Cung giữ.

Tháo đánh thành thì Lữ Bố đánh bọc hậu, như vậy làm sao mà Tháo lấy được thành.

Lữ Bố khen kế rất hay. Nói rồi sắp sửa ra đi.

Vợ là Nghiêm thị hỏi :

– Chẳng hay phu quân đi đâu ?

Bố đem mưu kế cua Trần Cung ra nói, Nghiêm thị buồn rầu đáp :

– Rủi thành có bề gì thì thiếp biết trông cậy vào ai .

Lữ Bố lại dùng dằng trong khi Trần Cung giục đi gấp vì nghe tin Tào Tháo sắp hết lương mà chặn đường lương, thì thế nào Tháo cũng thua.

Lữ Bố vào nói chuyện với Ðiêu Thuyền thì Ðiêu Thuyền cũng nói như Nghiệm Thị, âu cũng là số Lữ Bố sắp hết vậy. Từ đó Bố không đi đâu nữa, cứ cả ngày uống rượu với thê cùng thiếp.

Trần Cung thấy vậy than rằng :

– Tụi này đến chết không có đất mà chôn .

Hứa Tỵ vào thưa với Lữ Bố :

– Xưa kia Tướng Quân còn lời hứa làm suôi với Viên Thuật. Nay nên nhờ Viên Thuật đánh bọc hậu mà

giải nguy .

Bố liền viết thư cho Hứa Tỵ mang đi. Lại sai Trương Liêu và Hích Mạnh dẫn binh để đưa đường.

Ðêm ấy, thoát ra khỏi trại Huyền Ðức.

Huyền Ðức khi hay tin thì đã muộn, Hích Mạnh thì đi theo bảo hộ Hứa Tỵ còn Trương Liêu thì quay về thành, chợt gặp Vân Trường.

Hai bên chưa kịp giao phong thì Cao Thuận xông ra đưa Trương Liêu vào thành.

Còn Hứa Tỵ khi đến Thọ Xuân, ra mắt Viên Thuật mà đưa thư.

Viên Thuật xem rồi bảo :

– Ngày trước Lữ Bố giết sứ tuyệt tình suôi gia, nay còn biên thư làm gì ?

Hứa Tỵ thưa :

– Phụng Tiên trước chót nghe lầm đứa nịnh, nay thật lòng ăn năn .

Thuật lại nói :

– Nếu không chịu binh Tào vây, đời nào Bố gả con gái cho con ta . Sau khi suy nghĩ hồi lâu Viên Thuật quyết định :

– Muốn ta đem binh đi cứu thì hãy đưa con gái của y đến đây trước đã.

Hứa Tỵ đành mang lời nói ấy trở về.

Lữ Bố nói :

– Làm sao mà đưa đi được bây giờ ?

Hứa Ty nói :

– Vừa rồi quân Tào bắt được Hích Mạnh, mưu cơ của mình đã lộ . Vậy phi Tướng Quân thì chẳng ai mang nổi tiểu thư đi. Bố nghe theo, sai quân dọn sẵn một chiếc tiểu xa, rồi dặn Trương Liêu cùng Cao Thuận đi theo hộ tống. Sang canh hai, Lữ Bố kêu con gái ta, lấy lụa nịt kỹ quanh mình, lấy giáp che ở phía ngoài rồi đai con ở sau lưng, cầm kích lên ngựa. Cả đoàn ra khỏi thành, tức thì tiếng pháo nổ vang, Quan Công , Trương Phi cùng xông ra kêu :

– Lữ Bố chớ chạy .

Lữ Bố chỉ mong tìm đường mà đi thì Huyền Ðức cũng lại dẫn binh kéo tới.

Lữ Bố tuy sức mạnh vô địch nhưng sợ con bị thương nên không dám xông pha. Lúc đó lại thêm Hứa Chữ , Từ Quang ầm ầm kéo tới .

Lữ Bố đành phải rút vào thành. Từ đó, Lữ Bố càng thêm buồn bực, cả ngày chỉ uống rượu làm khuây.

Tào Tháo đánh mãi Hạ Bì mà không được, chợt nghe tin Thái Thú Hà Nội là Trương Dương muốn đem binh đi cứu Lữ Bố nhưng bị phó tướng là Dương Vu giết đi.

Sau đó Tào Tháo bàn vói các tướng :

– Nay Bắc có Viên Thiệu, Ðông có Lưu Biểu, Trương Tú , thành Hạ Bì vây mãi không ăn thua, ý ta muốn lui về Hứa đô, phỏng có nên chăng ?

Quách Gia hiến kế :

– Ngăn nước con sông Nghi, con sông Tú, thế nào cũng xong .

Tào Tháo cả mừng, khiến quân ngăn ngay nước hai con sông ấy, rồi dắt các tướng lên chỗ cao xem nước chảy đổ vào thành Hạ Bì .

Chẳng bao lâu, chỉ còn cửa Ðông thành là khô ráo, ba cửa kia ngập hết.

Quân vào báo Lữ Bố nói :

– Ta có ngựa Xích Thố , chạy được trên nước lo gì. Nói rồi lại uống rượu.

Ngày kia chợt soi gương thấy mình vì tửu sắc mà gầy guộc bèn ra lệnh cấm rượu, hễ ai uống thì chém đầu .

Trong lúc ấy có Hầu Thành mất một số ngựa nay tìm lại được mừng lắm, đặt một ít ruợu để ăn mừng. Nhưng sợ Lữ Bố nên Hầu Thành cầm một bình ruợu đến dâng Lữ Bố mà rằng :

– Tôi mừng tìm được ngựa, muốn đặt chút ruợu để mừng nhưng sợ có lệnh của Tướng Công nên mang bình rượu này tới để xin phép.

Lữ Bố cả giận truyền quân mang ra ehém. Các tướng đổ xô lại ngăn cản, Lữ Bố mới thôi, nhưng bắt Hầu Thành chịu một trăm roi. Quân lính thấy vậy lại càng chán nản.

Ngụy Thục nói :

– Nuớc ngập châu thành, bọn ta không biết sống chết thế nào mà sao Lữ Bố cứ điềm nhiên như không. Tống Hiến nói :

– Tôi muốn bỏ thành mà đi, anh thì sao ?

Ngụy Thục nói :

– Chi bằng ta nên qua đầu Tào Công là hơn .

Hầu Thành nói :

– Hai ông có ý dâng thành đầu Tào Công thì phần tôi ăn trộm con ngựa Xích Thố.

Thương nghị xong, đêm ấy Hầu Thành dắt ngựa Xích Thố đi về hướng Ðông, Ngụy Thục mở cửa cho đi. Hầu Thành mang ngựa sang dâng Tào Tháo và nói ý Ngụy Thục ,Tống Hiến muốn dâng thành và sẽ dựng cờ trắng làm hiệu, Tào Tháo mừng lắm, đốc quân phá thành.

Lữ Bố tìm ngựa thì ngựa đă bị mất, liền xách kích đi bốn mặt thành chống giữ, tới tối binh Tào mới lui.

Lữ Bố trong mình đã mệt, liền lên lầu thiu thiu ngủ.

Tống Hiến liền ăn cắp cây kích trước, chờ Lữ Bố ngủ say lấy dây cột luôn Lữ Bố vào ghế.

Lữ Bố thức dậy, kên tả hữu, nhưng chẳng có ai.

Trên thành cờ trắng dựng lên, binh Tào ùa vào như nước.

Tống Hiến quăng cây kích của Lữ Bố xuống làm tin.

Trương Liệu, Cao Thuận , Trần Cung đều bị bắt.

Tào Tháo, Huyền Ðức vào thành, lên ngồi trên lầu Bạch Môn.

Các nguời bị bắt được đưa tới.

Lữ Bố tuy mạnh, nhưng kêu lên :

– Trói chặt quá, xin nới bớt .

Tào Tháo đáp :

– Trói hùm phải trói cho chặc chớ .

Bố nhìn thấy bọn Tống Hiến đứng gần đấy , liền bảo :

– Ta đãi không bạc, sao nỡ phản ta ?

Tống Hiến đáp :

– Chẳng nghe lời tướng sĩ, chỉ nghe vợ con, không bạc là gì ?

Khi dẫn Cao Thuận tới, Tào Tháo hỏi han, Thuận không thèm đáp, tức thời bị chém.

Trần Cung bị dẫn đến .

Tào Tháo hỏi :

– Lâu nay Công Ðài có mạnh giỏi không ?

Trần Cung bảo :

– Ngươi thật là kẻ tâm thuật xảo trá nên ta mới bỏ ngươi đó .

Tào Tháo lại hỏi :

– Thế Lữ Bố thì sao ?

Cung đáp :

– Bố vô mưu nhưng không quỉ trá như ngươi đâu .

Tào Tháo lại hỏi :

– Bây giờ ông tính sao đây ?

Trần Cung hét lớn :

– Chỉ còn cái chết, sao cứ hỏi mãi ?

Tháo lại nói :
– Ông chết đã đành, nhưng vợ con ông tính sao ?

Trần Cung đáp :

– Lấy hiếu trị thiên hạ thì không giết mẹ người. Lấy nhân trị thiên hạ thì không giết vợ con người. Ðó là việc của ngươi , tùy ngươi đối xử . Nói xong Trần Cung đi thẳng tới pháp trường.

Tào Tháo làm bộ đi theo, rồi than van, rồi khóc lóc, lại nói to với quân sĩ :

– Các ngươi phải đem gia quyến Công Ðài về Hứa đô mà cấp duỡng .

Trần Cung cũng chẳng quay lại, đi thẳng tới chổ chịu chém.

Ai nấy đều sa nước mắt, Tào Tháo truyền phải khâm liệm tử tế.

Trong khi Tào Tháo theo tiễn Trần Cung thì Lữ Bố nói vói Huyền Ðức :

– Sao ông chẳng một lời nói giúp nhau .

Huyền Ðức gật đầu .

Khi Tào Tháo trở lại, Lữ Bố nói :

– Tha cho tôi ông làm chánh, tôi làm phó thì định thiên hạ có khó gì.

Tào Tháo quay lại hỏi ý kiến Huyền Ðức.

Huyền Ðức nói :

– Ngài có còn nhớ chuyện Ðinh Kiển Dương và Ðổng Trác không ?

Lữ Bố hét lên :

– Thằng kia thật chẳng có tín nghĩa gì hết !

Tháo sai quân mang Lữ Bố đi.

Lữ Bố còn nói to :

– Thằng tai lớn kia, mi quên chuyện bắn kích nơi viên môn rồi sao ?

Xẩy có người nói lớn :

– Chết thì chịu chết còn nói làm gì ?

Ðó là Trương Liêu .

Ngoài kia , Lữ Bố đã bị quân sĩ thắt cổ chết , rồi đem bêu đầu .

Tào Tháo hỏi Trương Liêu :

– Ai đó như quen mặt ?

Trương Liêu đáp :

– Phải ở Bộc Dương , ta tiếc rằng lửa chưa thiêu chết tên gian hùng như mi .

Tào Tháo rút gươm ra toan chém .

Hồi Thứ Hai Mươi

Tào Tháo Ra Săn Ruộng Hứa Ðiền
Ðổng Thừa Vâng Chiếu Trong Nội Các

Nhắc lại, Tào Tháo rút kiếm toan chém Trương Liêu thì Huyền Ðức nắm tay kéo lại, còn Vân Trường quỳ trước mặt khuyên can.

Huyền Ðức nói:

– Người này có một tấm lòng son sắt, rất nên lưu dụng.

Vân Trường lại nói:

– Tôi vốn biết Văn Viễn là người trung nghĩa, nên tôi nguyện đem tánh mạng ra để bảo đảm.

Tào Tháo vứt ngay kiếm xuống đất, cười ha hả nói:

– Ta cũng biết Văn Viễn là người trung nghĩa, nên đùa chơi đấy thôi!

Rồi liền tự tay cởi trói và cởi áo mình mặc cho Trương Liêu, lại mời ngồi trên.

Trương Liêu cảm vì mỹ ý nên chịu đầu hàng.

Tào Tháo phong cho Trương Liêu làm Trung Lang tướng, ban tước Quan Nội Hầu, rồi sai chiêu an Tang Bá.

Bấy giờ, Tang Bá nghe Lữ Bố đã chết, Trương Liêu đã hàng nên dẫn quân bản bộ đến quy hàng.

Tháo thưởng cho rất hậu.

Tang Bá lại dụ được Tôn Quan, Ngô Ðôn, Doãn Lễ tới hàng.

Chỉ còn Xương Hy chưa quy thuận.

Tào Tháo phong Tang Bá làm Lang gia tướng, bọn Tôn Quan cũng đều được quan chức và được lệnh đóng giữ vùng duyên hải các châu Thanh, Từ.

Tào Tháo truyền đem gia quyến Lữ Bố về Hứa đô, phong tước cho các tướng sĩ mới quy hàng, mở tiệc khao thưởng ba quân.

Kế đó truyền lệnh nhổ trại ban sư.

Khi đi qua đất Từ châu, bá tánh đều thắp hương quỳ thưa:

– Xin để Lưu Sứ quân ở lại trấn nhậm đất Từ châu.

Tào Tháo nói:

– Huyền Ðức có công rất lớn, vậy để về triều lãnh tước rồi sẽ trở ra cũng chẳng muộn.

Trăm họ bái tạ, Tháo liền gọi Xa Kỵ tướng quân là Xa Trụ mà giao cho quyền lãnh Từ Châu.

Quân về đến Hứa Xương, Tháo phong thưởng cho các tướng sĩ xuất chinh, lưu Huyền Ðức ở trong tướng phủ, nghỉ ngơi trong một cái nhà ở sát bên trái.

Hôm sau, Hiến Ðế thiết triều. Tháo tâu rõ quân công của Huyền Ðức, Huyền Ðức chỉnh tề triều phục lạy trước đan trì. Vua tuyên triệu lên điện hỏi:

– Tổ tiên của khanh là ai?

Huyền Ðức tâu:

– Thần là hậu duệ của Trung Sơn Tĩnh Vương, huyền tôn của Hiếu Cảnh Hoàng Ðế, cháu Lưu Hùng, con Lưu Hoằng.

Vua liền truyền nội giám đem quyển “Tôn tộc thế phổ” ra xem, rồi sai quan Tông Chánh Khanh tuyên đọc lên như sau:

Hiếu Cảnh Hoàng Ðế sinh mười bốn người con trai. Người con thứ bảy là Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng; Lưu Thắng sinh ra Lục Thành Ðình Hầu Lưu Trinh; Trinh sinh Bái Hầu Lưu Ngang; ngang sinh Chương Hầu Lưu Lộc; Lộc sinh Nghi Thủy Hầu Lưu Luyến; Luyến sinh Khâm Dương Hầu Lưu Anh; Anh sinh An Quốc Hầu Lưu Kiến; Kiến sinh Quảng Lăng Hầu Lưu Ai; Ai sinh Giao Thủy Hầu Lưu Hiến; Hiến sinh Tổ Ỵp Hầu Lưu Thư; Thư sinh Kỳ Dương Hầu Lưu Nghị; Nghị sinh Lưu Trạch Hầu Lưu Tất; Tất sinh Dĩnh Xuyên Hầu Lưu Ðạt; Ðạt sinh Phong Linh Hầu Lưu Bất Nghi; Bất Nghi sinh Tế Xuyên Hầu Lưu Huệ; Huệ sinh Ðông quận Phạm lệnh Lưu Hùng; Hùng sinh Lưu Hoằng; Hoằng sinh Lưu Bị.

Vua so trong thế phổ thì Huyền Ðức thuộc vai chú của vua, mặt rồng hớn hở, bèn mời vào trong Thiên điện lấy lễ chú cháu mà đãi Huyền Ðức.

Hiến Ðế nghĩ thầm trong lòng rằng:

– Tào Tháo lộng quyền không kể Trẫm ra gì. Nay Trẫm có được người chú anh hùng là Trẫm có kẻ giúp rồi!

Bèn phong cho Huyền Ðức làm Tả tướng quân, tước Nghi Thành Ðình Hầu, và bày yến tiệc khoản đãi.

Yến ẩm xong, Huyền Ðức tạ ơn lui ra.

Từ đó mọi người đều gọi Huyền Ðức là Lưu Hoàng thúc.

Tào Tháo về đến phủ, bọn Tuân Húc cùng mưu sĩ đến ra mắt và nói:

– Thiên tử nhìn Lưu Bị là chú, e không lợi cho Minh công.

Tào Tháo lại nói:

– Tuy Thiên tử đã nhìn hắn là Hoàng thúc, song ta lại dùng chiếu vua sai khiến hắn, hắn càng phải tỏ ra hết lòng phục tùng. Huống chi nay ta để hắn ở tại Hứa Ðô, tiếng tuy gần vua, kỳ thật là nằm trong tay ta, ta còn sợ gì?

Tào Tháo lại nói:

– Hiện nay ta chỉ sợ có Dương Bưu là chỗ thân thích với Viên Thuật. Nếu hắn làm nội ứng cho hai anh em họ Viên thì hại này chẳng phải nhỏ. Ta phải nên trừ gấp đi mới được.

Liền ngầm sai người vu cáo cho Dương Bưu là tư thông với Viên Thuật rồi bắt Dương Bưu và giao cho Mãn Sủng xử trị.

Lúc ấy có Thái Thú quận Bắc hải là Khổng Dung còn ở lại Hứa Đô mới khuyên can Tháo:

– Nhà Dương công đã bốn đời có thanh đức, nay há vì chuyện họ Viên mà bắt tội cho đành. Huống chi Dương công ngày trước bảo tấu mà rước Thừa Tướng về kinh, nay sao lại làm điều bất nghĩa như vậy, chẳng sợ triều thần chê cười Thừa Tướng hay sao?

Tháo nói:

– Ấy là lệnh của triều đình, chớ ta có can chi

Dung nói:

– Thế thì giả sử xưa kia Văn Thành Vương giết Thiệu Công, phỏng Châu Công cũng nói mình không biết được chăng?

Tào Tháo bất đắc dĩ phải tha chết cho Dương Bưu, nhưng cách quan chức đuổi về quê quán.

Quan Nghị Lang là Triệu Ngạn giận Tào Tháo chuyên quyền, liền làm sớ tâu với vua hạch tội rằng:

– Tào Tháo không có mệnh vua mà dám tự tiện bắt quan đại thần.

Tào Tháo căm tức, liền bắt Triệu Ngạn giết đi.

Từ đó, bá quan đều sợ hãi, im hơi lặng tiếng.

Một hôm mưu sĩ Trình Dục nói với Tào Tháo:

– Thanh thế của Minh công ngày càng mạnh. Sao không nhân lúc này mà mưu việc vương bá đi?

Tào Tháo có vẻ suy nghĩ, nói:

– Ta xem vây cánh của triều đình còn mạnh lắm, để ta mời Thiên tử đi săn để dò thêm động tịnh thế nào.

Bèn lựa chọn ngựa hay, chó săn tốt, dự bị đủ cung tên.

Tập hợp quân lính ở ngoài thành xong rồi, Tháo vào rước Thiên tử đi săn.

Hiến Ðế phán:

– Việc săn bắn Trẫm e không phải là chánh đạo?

Tháo tâu:

– Những Ðế vương ngày xưa vẫn thường săn bắn bốn mùa: Xuân là sưu, Hạ là miêu, Thu là tiễn, Ðông là thú, ra chỗ giao ngoại để biểu dương uy vũ với thiên hạ. Nay đang lúc bốn bể nhiễu nhương, chính nên mượn việc săn bắn để giảng võ.

Hiến Ðế không dám không nghe, bèn lên ngựa Tiêu dao, đeo Bửu điểu cung, mang Kim phê tiễn ngự giá xuất hành. Huyền Ðức cùng Quan, Trương cũng mang cung dắt tên, trong mình lồng yểm tâm kính, tay cầm binh khí, dẫn vài chục quân kỵ theo vua ra Hứa Điền.

Tào Tháo thì cưỡi ngựa Phi Điện, kéo mười vạn tinh binh, đưa Thiên tử đi săn.

Hôm ấy, quân sĩ bao vây một vòng săn chu vi dài hơn hai trăm dặm.

Tháo cưỡi ngựa đi sát cạnh vua, sụt lại có một đầu ngựa, đằng sau là các tùy tướng tâm phúc của Tháo, còn bá quan văn võ đi xa xa ở phía sau, không dám tiến gần.

Khi vua rong ngựa tới Hứa Điền, vua thấy Huyền Ðức dắt ngựa đứng đón bên đường, liền phán:

– Hôm nay Trẫm muốn xem tài bắn Hoàng thúc đây.

Huyền Ðức lãnh mạng, lên ngựa đi theo.

Khi đến gần một bụi rậm, bỗng có một con thỏ chạy vụt ra.

Huyền Ðức liền bắn một mũi tên, tức thì trúng ngay con thỏ ấy.

Vua hết sức khen ngợi.

Rồi tới cái gò đất, lại thấy một con hươu lớn từ đám cây gai rậm rạp nhảy ra.

Vua giương cung bắn luôn ba mũi tên mà không trúng, bèn ngoảnh lại bảo Tháo:

– Khanh hãy bắn đi!

Tào Tháo xin vua cho mượn cung ngọc với tên vàng, rồi bắn một phát trúng ngay mình hươu.

Hươu ngã lăn xuống đám cỏ.

Các quan, các tướng vội chạy đến xem thấy kim phê tiễn, ngỡ là của vua bắn, đều nhảy nhót reo mừng, hướng về phía vua mà tung hô vạn tuế.

Bỗng Tháo thúc ngựa sấn lên, đứng chắn trước mặt vua để đón lấy những lời chúc tụng ấy.

Hết thảy bá quan, chư tướng, ai nấy đều thất sắc…

Nhưng một tiếng giật mạnh giây cương vẳng lên đâu đó, và một ánh đao lóe lên!

Thì ra Vân Trường ở sau lưng Huyền Ðức đã tức giận xung thiên, mắt phượng quắt lên, cặp mày tằm dựng ngược, lăm lăm cây đại đao, giục ngựa sấn ra để chém Tháo!

Huyền Ðức thấy thế, hốt hoảng xua tay đảo mắt ra hiệu ngăn lại.

Vân Trường thấy anh như thế, nên không dám ra tay.

Huyền Ðức bèn đến trước mặt Tháo, nghiêng mình mừng rằng:

– Xạ thuật của Thừa tướng thần diệu vô cùng, ít ai sánh kịp.

Tào Tháo cười lớn, nói:

– Ấy là nhờ hồng phúc của của Thiên tử đó.

Rồi quay ngựa lại vái mừng vua, nhưng vẫn lờ đi không dâng trả cây cung khảm ngọc, mà đeo luôn bên mình.

Vòng săn đã dẹp, tiệc yến được mở ra giữa rừng.

Yến ẩm xong, vua trở về Hứa Đô.

Mọi người đều về nhà.

Vân Trường liền hỏi Huyền Ðức:

– Tào tặc khi quân phạm thượng như vậy, em muốn giết đi để trừ hại cho nước, sao anh lại cản em?

Huyền Ðức giảng giải rằng:

– Ném chuột sợ bể đồ quý. Tháo nó ở sát bên vua, chỉ chênh lệch một đầu ngựa. Vả lại, bộ hạ của nó hộ vệ khắp chung quanh. Em vì cơn giận nhất thời mà khi xuất bạo động, nếu việc không thành, lại tổn thương đến Thiên tử, có phải tội lớn đổ về đầu chúng ta không?

Vân Trường băn khoăn nói:

– Nếu chẳng giết đứa phản nghịch ấy, ắt để tai họa về sau.

Huyền Ðức khuyên giải:

– Việc đó phải đợi tùy thời. Hãy nên giữ kín điều đó, chớ có hở ra.

Nói về Hiến Ðế khi về cung trong lòng buồn bực, khóc với Phục Hoàng hậu rằng:

– Trẫm từ ngày lên ngôi đã gặp nhiều bọn gian hùng áp chế đủ điều. Trước hết là cái vạ Ðổng Trác, sau đến cái loạn Lý Thôi, Quách Dĩ, những nỗi khổ mà kẻ thường nhân chưa phải chịu, Trẫm với ái khanh đã phải trải rồi. Sau này được Tào Tháo, những tưởng là bầy tôi rường cột, không ngờ nó chuyên lộng quốc quyền, tự tiện tác oai tác phúc. Mỗi khi Trẫm thấy mặt nó, không khác gì bị chông gai đâm sau lưng! Cho tới hôm nay, giữ chỗ vi trường mà nó dám đứng chắn trước mặt Trẫm để đón lấy lời chúc tụng. Thật là khi quân phạm thượng hết chỗ nói. Sớm tối ắt nó có âm mưu soán nghịch. Vợ chồng ta chưa biết sống chết lúc nào?

Phục hậu buồn bã tâu:

– Cả triều công khanh hưởng lộc nhà Hán mà không lấy có một người cứu được quốc nạn hay sao?

Phục hậu nói chưa dứt lời, bỗng có người ở ngoài cửa bước vào tâu:

– Bệ hạ và Hoàng hậu chớ lo. Thần xin cử một người có thể trừ được họa lớn đó.

Vua xem lại thì người ấy chính là cha của Phục Hoàng hậu, tên là Phục Hoàn.

Vua gạt lệ, hỏi:

– Quốc trượng cũng biết rõ Tào tặc lộng quyền ư?

Phục Hoàn tâu:

– Việc bắn hươu ở Hứa Ðiền, ai mà không biết. Ngặt vì trong triều đầy dẫy những họ hàng và bộ hạ của Tào tặc cả. Nếu không tìm được người quốc thích thì khó trừ giặc giúp Bệ hạ nữa? Lão thần không có binh quyền, khó mà làm được việc này.

Vua hỏi:

– Thế việc ấy thì Quốc trượng dạy nên phó thác cho ai?

Phục Hoàn tâu:

– Có quan Xa Kỵ tướng quân là Quốc cựu Ðổng Thừa. Bệ hạ có thể phó thác được đấy.

Hiến Ðế nói:

– Ðổng Quốc cựu đã từng cứu nạn nước. Trẫm biết rõ lắm. Nên tìm vào đây mà cùng bàn việc lớn.

Phục Hoàn liếc mắt nhìn bốn phía rồi lại nói:

– Những người tả hữu của Bệ hạ đều là tâm phúc của Tào tặc. Nếu sự việc tiết lộ thì tai vạ không nhỏ.

Vua hỏi:

– Vậy thì biết làm sao cho được?

Hoàn tâu rằng:

– Thần có một kế này: Bệ hạ hãy sai may một cái áo bào và một đai ngọc đái, mật ban cho Ðổng Thừa. Trước khi ban, hãy lồng một tờ mật chiếu vào bên trong đai áo. Về đến nhà, thấy chiếu chỉ, ắt Quốc cựu ngày đêm lo liệu kế sách. Như thế thì quỷ thần cũng không biết được.

Vua khen phải. Phục Hoàn liền từ tại lui ra. Vua bèn tự cắn đầu ngón tay út, lấy máu mà viết một tờ mật chiếu, lại sai Phục Hoàng hậu khâu đính tờ chiếu vào bên trong lạp gấm tía, rồi gấp lại, tự tay lồng vào đai áo ấy. Xong đâu đó, sai nội sứ đi triệu Ðổng Thừa.

Ðổng Thừa vào cung bái kiến xong, vua phán:

– Ðêm qua, Trẫm và Hoàng hậu cùng nhau nhắc lại những ngày khổ cực ở Bá lăng, Hoàng hà, nhạ tới công lớn của Quốc cựu, nên nay tìm vào ủy lạo vậy.

Ðổng Thừa liền cúi lạy tạ ơn.

Hiến Ðế dẫn Ðổng Thừa ra khỏi điện, qua nhà Thái miếu, rồi trèo lên gác Công thần.

Vào trong gác, vua thân đốt hương làm lễ.

Lễ xong, dắt Ðổng Thừa lại xem ngắm nghía các bức chân dung.

Trước hết, nhìn vào bức tượng Hán Cao Tổ ở chính giữa, vua hỏi Ðổng Thừa:

– Cao Tổ Hoàng Ðế nhà ta khởi thân từ đất nào? Mở nghiệp ra sao nhỉ?

Ðổng Thừa kinh lạ, tâu:

– Muôn tâu, Bệ hạ phán hỏi thử thần đấy chứ? Việc đức Cao Tổ sao Bệ hạ lại không biết? Cao Hoàng xuất thân từ một vị Ðình trưởng trên sông Tứ, cầm ba thước gươm, chém rắn khởi nghĩa, tung hoành bốn bể, ba năm diệt Tần, năm năm phá Sở mà được thiên hạ, lập nên cơ nghiệp muôn đời.

Hiến Ðế thở dài than:

– Tổ tiên ta anh hùng như thế mà con cháu hèn yếu thế này. Thật đáng buồn thay!

Rồi vua chỉ hai bức tượng hai bên hỏi:

– Ðây có phải là Lưu Hầu Trương Lương và Tạn Hầu Tiêu Hà không?

Ðổng Thừa tâu:

– Chính phải. Ðức Cao Tổ khi khai cơ sáng nghiệp được là nhờ công đức hai vị này.

Vua quay lại thấy tả hữu đứng cách khá xa, liền hạ giọng bảo nhỏ Ðổng Thừa:

– Khanh cũng nên cố gắng như hai vị này mà đứng bên mình Trẫm nhé!

Ðổng Thừa nghe phán, áy náy tâu:

– Hạ thần không chút công lao, đâu dám sánh như thế.

Vua an ủi:

– Trẫm nhớ cái công khanh cứu giá ở Tây Ðô, chưa phút nào quên mà chẳng có chút gì để ban cho.

Rồi trỏ vào chiếc đai ngọc ở áo bào đang mặc:

– Vậy khanh hãy mặc lấy chiếc áo của Trẫm đây, thắt lấy chiếc đai này, thì lúc nào cũng thấy như ở bên mình của Trẫm vậy.

Thừa cúi đầu lạy tạ.

Vua bèn cởi áo bào, đai ngọc trao cho Thừa mà ân cần dặn dò:

– Khanh về nhà, hãy xem xét lại cho cẩn thận. Chớ phụ lòng Trẫm nhé!

Thừa hiểu ý, bèn mặc áo, thắt đai cẩn thận, rồi bái từ xuống gác.

Nhưng sớm đã có kẻ đi báo Tháo rằng:

– Vua cùng Ðổng Thừa lên Công Thần Các nói chuyện gì ấy…

Tháo vội vào triều xem.

Bấy giờ Thừa xuống khỏi gác, vừa ra tới cửa hoàng cung thì gặp Tháo đi tới.

Thừa vội tìm lối tránh mặt, nhưng đã muộn và cũng chẳng có lối nào, đành đứng dẹp ra bên đường, chắp tay thi lễ.

Tháo hỏi:

– Quốc cựu đi đâu đó vậy?

Thừa nói:

– Bẩm, tôi vừa được Thiên tử tuyên triệu vào, ban cho áo gấm, đai ngọc đây ạ.

Tháo hỏi:

– Vì sao mà được ban?

Thừa nói:

– Thiên tử nhớ đến công tôi cứu giá nơi Tây Ðô ngày trước nên ban cho thế này.

Tháo nói:

– Mở ngọc đái cho ta coi.

Thừa biết trong cẩm bào và ngọc đái ắt có mật chiếu, sợ Tháo biết được nên cứ dè dặt không muốn mở.

Tào Tháo liền nạt kẻ tả hữu lột hết ra.

Tháo cầm xem kỹ đến nữa canh giờ, rồi nói:

– Quả cái đai ngọc rất quí!

Rồi lại truyền:

– Cởi luôn áo bào ra ta xem.

Ðổng Thừa trong lòng sợ hãi chẳng dám trái lời, phải cởi áo dâng lên.

Tào Tháo cầm lấy giơ lên soi qua ánh nắng, xem kỹ từng ly từng tí.

Xem xong xỏ tay mặc luôn vào mình, thắt lưng đai ngọc rồi quay lại hỏi tả hữu:

– Dài ngắn ra sao?

Tả hữu thưa:

– Bẩm, vừa vặn lắm ạ.

Tào Tháo quay lại nói với Ðổng Thừa:

– Quốc cựu hãy cho lại ta cẩm bào và ngọc đái này được không?

Ðổng Thừa thất kinh liền nói:

– Ơn Thánh thượng đã ban cho tôi, lẽ nào tôi lại dám cho người khác.

Tào Tháo lại hỏi:

– Quốc cựu mà lãnh cẩm bào và ngọc đái này chẳng biết có mưu kế chi không?

Ðổng Thừa thở ra, mặt mày biến sắc, liền nói gượng:

– Tôi đâu dám nghĩ việc ấy, nếu Thừa tướng có muốn thì tôi xin nhượng lại cho.

Tào Tháo nói:

– Ông chịu ơn vua, tôi đâu dám có tham vọng như vậy, ấy là tôi muốn nói thử ông chơi đó thôi.

Nói rồi liền cởi áo đưa trả cho Ðổng Thừa.

Ðổng Thừa hú vía vội vã cúi đầu ra về.

Ðêm ấy, Ðổng Thừa về đến dinh, ngồi một mình trong thư phòng, đem áo bào ra xem xét kỹ càng.

Nhưng lật đi, lật trở lại mãi, dò tìm rất tỉ mỉ mà tịnh không thấy gì cả.

Thừa trong lòng buồn bã, nghĩ bụng:

– Thiên tử cho ta cẩm bào, ngọc đái lại khiến ta về coi cho kỹ lưỡng, chẳng phải không có việc gì, sao nay ta tìm chẳng thấy dấu tích gì, là nghĩa làm sao?

Nghĩ rồi liền để ngọc đái nơi ghế lật qua lật lại tìm kiếm, nhưng cũng chỉ thấy màu ngọc lung linh óng ánh, có chạm hình con rồng nhỏ bò trong đám hoa, bên trong may gấm tía làm lót, đường kim mối chỉ vuông vắn, thẳng ngay. Và cũng chẳng có dấu vết gì khác lạ.

Thừa nghi hoặc trong lòng, lại đặt lên án thư dán mắt vào mà tìm đi, xét lại. Tìm tòi giờ lâu, mỏi mệt quá, vừa nằm xuống ghế nghỉ, thì bỗng cây đèn trên án chập chờn, ngọc bốc cháy thành hoa, rồi hoa đèn nổ cái “tách”, bắn rớt xuống đai áo lửa bén vào lần lót.

Thừa vội vàng lấy tay phủi đi, thì đã cháy thủng một đám nhỏ, lộ ra một tấm lụa trắng, bên trong thấp thoáng có vết máu.

Thừa vội vã lấy dao cắt ra xem, thấy một tờ mật chiếu do chính Thiên tử viết bằng máu.

Chiếu rằng:

Trẫm nghe, trong đạo lạn nhân luân thì cha con làm trọng, trong phận tôn ti thì vua tôi làm trọng. Gần đây giặc Tháo lộng quyền, dối hiếp Quân phụ, kéo bè kết đảng, làm bại hoại Triều cương, mọi việc sắc phong, thưởng phạt đều không do Trẫm làm chủ. Trẫm ngày đêm lo lắng, sợ thiên hạ nguy đến nơi mất. Khanh là đại thần của nước, là người chí thân với Trẫm, nên ghi nhớ công ơn đức Cao Hoàng xưa kia sáng nghiệp gian nan. Hãy cử hợp những liệt sĩ trung nghĩa lưỡng toàn, giết hết gian đảng, phục an xã tắc, thì tông miếu nhà Hán may lắm. Cắn ngón tay lấy máu, Trẫm viết chiếu này trao cho khanh. Khanh phải thận trọng, lo tính cho kỹ, chớ phụ ý Trẫm.

Năm Kiến An thứ tư, mùa xuân, tháng ba. Nay chiếu.

Ðổng Thừa đọc xong thì nước mắt trào tuôn lai láng. Lòng sầu đau, suốt đêm chợp mắt không yên.

Rạng ngày ngồi dậy, lại đến thư phòng, đem tờ chiếu ra đọc đi, đọc lại đôi ba lần, tìm mãi không có mưu chi để trừ Tào Tháo liền để tờ chiếu lên án.

Nghĩ mãi mệt óc, bất giác gục xuống ghế ngủ thiếp lúc nào không hay.

Bấy giờ có quan Thị lang Vương Tử Phục đến chơi.

Người canh cửa biết rõ là bạn thiết của Ðổng Thừa, không dám ngăn trở.

Tử Phục đi thẳng vào thư viện, thấy Ðổng Thừa nằm phục trên ghế mê mệt, tay áo đè lên một tấm lụa trắng để lộ ra một chữ “Trẫm”.

Tử Phục nghi ngờ liền rút trộm xem.

Xem xong giấu vào tay áo mình, rồi đánh thức Ðổng Thừa dậy:

– Quốc cựu! Quốc cựu! Sao yên tâm ngủ kỹ thế!

Ðổng Thừa dậy không thấy tờ chiếu đâu thì hồn bay vía lạc, tay chân run lập cập.

Tử Phục nói:

– A, ông muốn giết Tào Công hả? Tôi phải đi xuất thú mới xong!

Ðổng Thừa vừa khóc vừa nói:

– Tử Phục ơi! Nếu ông làm thế thì nhà Hán hỏng mất!

Nhưng Tử Phục nói:

– Ấy là tôi nói chơi đó, cha con tôi đều ăn lộc nhà Hán lẽ nào tôi lại không có lòng ngay. Tôi nguyện giúp sức với ông, cùng diệt trừ đứa quốc tặc.

Thừa lau nước mắt, nói:

– Ông có lòng như thế, thật là đại hạnh cho nước.

Tử Phục nắm tay Ðổng Thừa nói:

– Thôi, bây giờ chúng ta hãy cùng vào nhà kín lập tờ “nghĩa trạng” liều lấy ba họ mà báo ơn vua.

Thừa cả mừng, lấy ra một bức lụa trắng, viết mấy lời nghĩa trạng cam kết, rồi ký tên, ghi tự của mình vào trước tiên.

Tử Phục cũng cầm bút ký tên, ghi tự vào theo.

Ký xong, Tử Phục nói:

– Tướng quân Ngô Tử Lan là chỗ chí thân với tôi. Có thể mời cùng mưu việc được.

Ðổng Thừa nói:

– Ðại thần đầy triều, chỉ có Trường Thủy Hiệu Úy Sùng Tập với Nghị Lang Ngô Thạc là chỗ gan ruột với tôi, ắt có thể cùng chúng ta lo việc này.

Ðang bàn bạc, tên gia đồng vào báo:

– Bẩm, có Sùng Hiệu Úy và Ngô Nghị Lang tới thăm.

Thừa nghe tin mừng rỡ nói:

– Ðây là trời giúp ta!

Nhưng Ðổng Thừa khuyên Tử Phục hãy tạm tránh vào sau bình phong, Thừa ra đón tiếp hai người vào thư viện.

Trà nước xong, Sùng Tập nói:

– Cái việc đi săn ở Hứa Ðiền vừa qua, ông có tức giận không?

Ðổng Thừa giả vờ nói:

– Giận tuy có giận, nhưng làm gì được?

Ngô Thạc giận dữ nói:

– Ta thề giết thằng giặc ấy. Tiếc rằng không có ai giúp ta một tay!

Sùng Tập hăng hái:

– Vì nước trừ hại, dẫu chết tiếc gì thân!

Bỗng Vương Tử Phục từ sau bình phong bước ra dọa:

– Rõ ràng nhé! Hai người đã manh tâm mưu sát Tào Thừa tướng, ta phải đi xuất thú kẻo vạ lớn! Có Ðổng Quốc cựu làm chứng cho ta đây rồi.

Sùng Tập càng giận dữ, mắng:

– Trung thần không sợ chết! Chúng ta chết đi làm ma nhà Hán chớ sống để a tòng dua nịnh thằng quốc tặc như mày sao?

Ðổng Thừa bật cười, liền lên tiếng:

– Thôi đi. Chính hai chúng tôi cũng lo làm việc ấy, đang muốn gặp hai ông đây. Vương Thị lang nói đùa đấy!

Nói rồi, Thừa rút một tờ mật chiếu trong tay áo đưa ra cho hai người xem.

Hai người đọc tờ huyết chiếu mà tuôn tràn suối lệ.

Ðổng Thừa lại đem tờ nghĩa trạng ra mời ký tên vào.

Tử Phục nói:

– Hai ông hãy ngồi đây lát nữa nhé. Ðể tôi đi mời Ngô Tử Lan đến luôn.

Nói rồi Tử Phục ra đi.

Ði chưa bao lâu đã mời được Ngô Tử Lan đến ra mắt mọi người.

Rồi cũng đọc chiếu và ký tên vào nghĩa trạng.

Ký xong Ðổng Thừa mời tất cả vào hậu đường uống rượu.

Ðang đàm đạo, bỗng lại có tin báo:

– Thái Thú Tây Lương Mã Ðằng đến thăm.

Ðổng Thừa truyền cho Môn lại:

– Bây ra xin lỗi rằng ta đang bịnh không thể tiếp kiến được.

Môn lại vâng lời ra báo như thế. Mã Ðằng nổi giận nói:

– Thế là làm sao? Mới hôm qua ta đứng ngoài cửa Ðông Hoa, chính mắt ta thấy rõ ràng hắn mặc áo gấm thắt đai ngọc đi ra, bây giờ kêu đau nặng? Ta không phải vô sự mà tới đây. Sao lại cự tuyệt không tiếp?

Người canh cửa lại chạy vào kể rõ lời lẽ và sự giận dữ của Mã Ðằng.

Ðổng Thừa liền đứng dậy nói:

– Các ông đợi chốc lát để tôi ra xem.

Ðổng Thừa đón mời Mã Ðằng vào sảnh đường. Chào hỏi an tọa xong.

Ðằng trách:

– Tôi mới vào chầu nhận mệnh, sắp phải đi xa, nên tới đây từ giã nhau, sao Quốc cựu lại muốn lánh mặt?

Ðổng Thừa nói:

– Thân hèn đau bịnh bất ngờ, không ra đón tiếp được. Thật có tội với Sứ quân.

Mã Ðằng nhìn thẳng vào mặt Ðổng Thừa nói:

– Vẻ mặt tươi tỉnh hớn hở thế kia, sao gọi là đau?

Ðổng Thừa chẳng biết trả lời sao nữa. Ðằng rũ áo đứng phắt dậy thở dài một cái, rồi vừa bước xuống thềm vừa nói:

– Những hạng này không phải mặt cứu nước!

Ðổng Thừa nghe nói xúc động, níu tay giữ lại hỏi:

– Ông bảo ai là người không đáng mặt cứu nước?

Mã Ðằng nghiến răng nói:

– Cái việc bắn hươu ở Hứa Ðiền, tôi còn tức uất gan, đầy phổi đây! Ông là người thân thích của nhà vua mà cũng đắm chìm trong tửu sắc, không nghĩ kế đánh giặc. Như thế đâu phải người phò nạn cứu nguy cho nhà Hán?

Vẫn còn sợ Mã Ðằng lừa dối mình, Thừa giả bộ kinh hãi nói:

– Tào Thừa tướng là đại thần rường cột của nước, cả triều đình trông cậy vào, sao ông ăn nói như thế?

Ðằng đùng đùng nổi giận mắng:

– Ðến ngươi cũng cho thằng giặc Tào là người tốt nữa à?

Thừa nói:

– Ỷ đây tai vách mạch rừng, xin ông nói nho nhỏ chứ…

Ðằng càng giận, mắng lớn hơn nữa:

– Thôi, đồ tham sống sợ chết! Không đáng cùng luận bàn việc lớn!

Mắng rồi, lại toan đứng dậy. Thừa biết Ðằng là người trung nghĩa, liền bảo:

– Ông hãy nguôi giận. Tôi mời ông vào đây xem cái này…

Ðổng Thừa dẫn Ðằng vào thư phòng, đem tờ chiếu ra xem.

Mã Ðằng đọc xong nộ khí xung thiên, tóc râu dựng ngược, trợn mắt nhíu mày, răng cắn chặt môi, máu chảy đầy miệng! Ðoạn bảo Ðổng Thừa:

– Khi nào ông ra tay, tôi sẽ đem hết binh mã Tây Lương về tiếp ứng ngay!

Ðổng Thừa mời Mã Ðằng vào hội kiến với bốn người kia, rồi lấy tờ nghĩa trạng bảo Ðằng ký vào.

Ðằng tức thì chích máu hòa rượu cùng mọi người uống mà thề:

– Chúng ta thề cùng chết, quyết không phụ lời ước!

Thề xong, Mã Ðằng trỏ vào năm người kia nói:

– Nếu được đủ mười người như thế này làm “thập nghĩa” ắt đại sự phải thành.

Ðổng Thừa nói:

– Kẻ sĩ trung nghĩa lúc này khó mà được nhiều. Nếu mưu việc với kẻ không ra gì e mang hại.

Bấy giờ Ðằng nghĩ cách tìm thêm người, liền bảo Thừa lấy cuốn sổ “Uyên hàng lộ tự” (ghi tên các triều thần) ra xem xét. Khi xem tới tên những người tôn thất họ Lưu.

Ðằng bỗng đập tay xuống bàn nói:

– Ðây rồi! Sao ta không bàn việc với người này?

Mọi người cũng vội hỏi:

– Ai? Người nào thế?

Mã Ðằng không ngần ngại, trỏ tay vào sổ, đọc tên người ấy lên…

Ðó chính là:

Ðã hay Quốc thích vâng minh chiếu,
Lại có Hoàng thân giúp Hán triều.

Hồi Thứ Hai Mươi Mốt

Tào Tháo Uống Rượu Luận Anh Hùng
Vân Trường Lừa Mưu Giết Xa Trụ

Nhắc lại, Ðổng Thừa và các bạn hỏi Mã Ðằng:

– Ông muốn rủ thêm người nào?

Ðằng trỏ tay vào quyển “Uyên hàng, lộ tự” 1, nói:

– Hiện có quan Mục Dự Châu là Lưu Huyền Ðức ở đây. Sao ta không mời cùng mưu việc?

Ðổng Thừa phân vân nói:

– Người ấy tuy là Hoàng Thúc, nhưng hiện đang nhờ vả, giúp rập Tào Tháo, sao chịu làm việc này?

Mã Ðằng nói:

– Bữa hôm đi săn, giữa chốn vi trường, lúc Tào Tháo đón lấy lời chúc tụng, tôi thấy rõ Quan Vân Trường ở sau lưng Huyền Ðức đã giơ đao lên, toan chém Tháo, và Huyền Ðức đã đưa mắt ngăn lại. Ðó không phải Huyền Ðức không muốn giết Tháo, chỉ vì ngại nanh vuốt Tháo quá nhiều, e sức không nổi đấy thôi. Ông cứ thử mời xem. Tôi tin chắc Huyền Ðức phải hưởng ứng.

Ngô Thạc nói:

– Việc đó không nên vội quá. Hãy thong thả bàn lại xem.

Bàn bạc xong, giải tán, ai về nhà nấy.

Ðêm hôm sau, Ðổng Thừa ngầm đem tờ chiếu trong mình, đi trong đêm tối đen mịt, lần tới công quán Huyền Ðức tạm trú.

Người canh cửa vào báo, Huyền Ðức ra đón mời vào các gác nhỏ an tọa. Quan, Trương đứng hầu bên cạnh.

Huyền Ðức hỏi:

– Quốc cựu đang đêm tới đây, ắt có việc gì?

Thừa thổ lộ:

– Ban ngày cưỡi ngựa tới thăm, sợ Tháo sinh nghi, nên phải gặp nhau lúc đêm tối này.

Huyền Ðức sai lấy rượu ra mời. Thừa nói:

– Hôm trước, giữa chỗ vòng săn, Vân Trường muốn giết Tháo. Tướng quân lại đưa mắt lắc đầu can ngăn, là thế nào?

Huyền Ðức sợ hãi, vội hỏi chữa:

– Ai bảo với ngài như thế?

Thừa quả quyết nói:

– Phải, mọi người đều không thấy, chỉ riêng tôi nhìn rõ mà thôi?

Huyền Ðức không thể dấu diếm được nữa, bèn nói:

– Quả thật xá đệ thấy Tháo tiếm lễ, vượt Vua, nên bất giác nổi giận như thế.

Thừa lấy tay che mặt, khóc rằng:

– Nếu thần tử triều đình ai cũng được như Vân Trường thì lo gì thiên hạ chẳng yên ổn.

Huyền Ðức sợ chính Tháo sai Thừa đến dò thám mình, nên giả tảng nói:

– Tào Thừa tướng trị nước giỏi như thế, sao ngài lại nói thiên hạ không yên?

Thừa biến sắc mặt, đứng dậy trách rằng:

– Thấy ông là vị Hoàng thúc nhà Hán, tôi mới moi gan phơi phổi để ông hay. Sao ông nỡ giả dối thế?

Huyền Ðức biện bạch:

– Sợ Quốc cựu có mưu lừa nên tôi thử lòng đó thôi.

Thừa bèn rút tờ “Y đái chiếu” đưa cho xem.

Huyền Ðức xem xong, lòng đau như xé, căm giận không nén nổi!

Thừa lại đưa ra tờ “Nghĩa trạng”.

Huyền Ðức thấy đã có 6 người ký tên là:

1. Xa Kỵ Tướng Quân Ðổng Thừa

2. Công Bộ Thị Lang Vương Tử Phục

3. Trường Thủy Hiệu Úy Sùng Tập

4. Nghị Lang Ngô Thạc

5. Chiêu Tín Tướng Quân Ngô Tử Lan

6. Tây Lương Thái Thú Mã Ðằng

Huyền Ðức bèn nói:

– Ông đã mang chiếu đánh giặc, Bị này dám không đem sức khuyển mã ra giúp sao!

Thừa tạ ơn và mời ký tên vào.

Huyền Ðức bèn ghi thêm vào “Nghĩa trạng” mấy chữ: “Tả tướng quân Lưu Bị”. Ký tên rồi, trao lại cho Thừa.

Thừa nói:

– Hãy thong thả để tìm thêm ba người nữa cho đủ “Thập nghĩa” mà trừ quốc tặc.

Huyền Ðức căn dặn rằng:

– Phản nên từ từ. Chớ khinh xuất mà tiết lậu!

Rồi bàn bạc mãi tới canh năm, Thừa mới cáo về.

Về phần Huyền Ðức vẫn đề phòng việc Tháo có thể mưu hại, nên thường ra vườn sau trồng rau, tự tay xới đất tưới cây, làm kể giả ngây giả dại.

Quan, Trương thấy thế, hỏi rằng:

– Huynh trưởng sao không lưu tâm tới việc lớn thiên hạ, lại đi làm cái việc nhỏ mọn của kẻ tầm thường thế này?

Huyền Ðức chỉ trả lời vắn tắt:

– Việc này hai em không thể biết được.

Quan, Trương không dám hỏi nữa.

Rồi một ngày kia, Quan, Trương đều đi vắng, chỉ còn một mình Huyền Ðức ở nhà, đang tưới rau ngoài vườn, bỗng thấy Hứa Chử, Trương Liêu dẫn vài chục tên quân đi thẳng vào báo rằng:

– Thừa Tướng sai chúng tôi mời Sứ quân đến ngay!

Huyền Ðức trong lòng kinh hãi, vội hỏi:

– Có việc gì mà khẩn cấp thế?

Hứa Chử nói:

– Không biết là việc gì. Chỉ thấy sai chúng tôi đến mời.

Huyền Ðức đành phải theo hai tướng vào Phủ ra mắt Tháo.

Vừa thấy mặt Huyền Ðức, Tháo đã cười, hỏi:

– Hừm! Ông ở nhà lo toan “việc lớn” ghê nhỉ?

Huyền Ðức nghe qua, mặt tái như gà cắt tiết! Nhưng Tháo đã nắm lấy tay dắt thẳng vào hậu viên, hỏi rằng:

– Huyền Ðức học làm vườn có khó không?

Bấy giờ Huyền Ðức mới hiểu ra, bèn ung dung đáp:

– Vì chẳng có việc gì làm, nên bày trò tiêu khiển đấy ạ.

Tháo trỏ tay lên những cây mai xanh tốt nói:

– Vừa rồi, nhân ngắm rặng mai, thấy đầu cành quả xanh đâm mơn mởn, bỗng xúc cảm nhớ lại năm qua, khi đem quân đi đánh Trương Tú. Hôm ấy giữa đường hết nước uống, tướng sĩ đều khát cháy cổ, ta bỗng nghĩ ra một kế, bèn lấy roi ngựa trỏ bừa về phía trước mà nói lớn: “Kìa! Trước mặt chúng ta có rừng mai đầy quả đấy!” Quân sĩ nghe nói tới quả mai, đều thèm ứa nước miếng. Thế là ai nấy đỡ khát. Nay thấy mai tươi phô quả ngọt, không thể không thưởng thức. Nhân lại mới cất được ít rượu, nên mời Sứ quân tới tiểu đình cùng uống cho vui.

Tâm thần Huyền Ðức đã yên định, bèn thong dong theo Tháo vào tiểu đình, thấy đã bày sẵn vò chén; những quả mai tươi mơn mởn đặt trong đĩa giữ mâm, bên cạnh là một vò rượu mới cất thơm tho.

Hai người ngồi xuống, cùng nhau nâng chén khề khà thưởng thức.

Rượu được nửa chừng, bỗng trên không mây kéo đen kịt, sắp đổ cơn mưa.

Người đứng hầu dưới thềm trỏ tay lên không nói:

– Có rồng lấy nước!

Tháo cùng Huyền Ðức ra vịn lan can nhìn xem.

Tháo hỏi:

– Sứ quân có rõ phép biến hóa của rồng chăng?

Huyền Ðức thưa:

– Bẩm, chưa hiểu thế nào cả!

Tháo đang sẵn hứng rượu, thao thao nói:

– Con Rồng biến hóa có khi to, khi nhỏ, lúc bay cao, lúc ẩn kín. Khi vươn mình to lớn thì cuộn mây, phun mù. Khi thu hình nhỏ bé để tàng hình ẩn tích. Lên cao thì bay lượn khắp vũ trụ. Tạm ẩn thì chìm lặng dưới ba đào. Nay đang tiết xuân, rồng thừa thời mà biến hóa, cũng như con người gặp khi đắc chí, tung hoành. Con rồng trong loài vật cũng ví như người anh hùng trong đám người. Sứ quân từng lịch duyệt hồ hải, chơi khắp bốn phương, ắt rõ những ai là anh hùng thời nay? Xin nói cho biết?

Huyền Ðức thong thả nói:

– Bị này mắt thịt, làm sao nhận biết anh hùng?

Tháo nói:

– Thôi! Xin đừng quá khiêm như thế!

Huyền Ðức nói:

– Bị vô tài thiển học, từ lâu sống trong tăm tối, nay nhờ ơn Thừa Tướng, Bị được vào triều làm quan. Quả thật chẳng biết những ai là anh hùng trong thiên hạ…

Tháo gặng hỏi:

– Dù không biết mặt đi nữa, cũng có nghe tiếng chứ?

Bấy giờ, Huyền Ðức mới làm bộ suy nghĩ, rồi kể ra:

– Kìa như Viên Thuật ở Hoài Nam, binh nhiều lương đủ, chiếm cứ một phương, có thể gọi là anh hùng?

Tháo cười nói:

– Hắn chỉ là bộ xương khô trong mả! Sớm tối rồi ta bắt sống cho mà xem!

Huyền Ðức lại nói:

– Thế thì Viên Thiệu ở Hà Bắc kia, nhà bốn đời làm đến Tam công, quan lại tay chân, cùng môn hạ đầy dẫy khắp nơi, nay chiếm Ký châu như hổ cứ nhất phương, văn quan võ tướng rất nhiều, có thể gọi là anh hùng?

Tháo lại cười nữa:

– Viên Thiệu mặt béo mà gan non, háo mưu mà vô đoán, gánh việc lớn thì tiếc thân, thấy lợi nhỏ lại quên mệnh, không phải là anh hùng!

Huyền Ðức lại suy nghĩ giây lát rồi nói:

– Có người kia nổi tiếng là một trong “Tám tay tài tuấn”, uy trấn chín châu: đó là Lưu Cảnh Thăng, có thể gọi là anh hùng?

Tháo lắc đầu:

– Lưu Biểu chỉ có hư danh, không có thực tài. Ðâu phải là anh hùng!

Huyền Ðức nói:

– Thế thì có người này đang độ huyết khí hăng hái, trí dũng kiêm toàn, hiện làm lãnh tụ toàn cõi Giang Ðông: như Tôn Bá Phù đã đáng mặt anh hùng vậy.

Tháo vẫn chưa chịu:

– Tôn Sách nhờ tiếng của cha mà được thế. Chưa phải là anh hùng!

Huyền Ðức nói:

– Thế thì Lưu Quý Ngọc ở Ích châu có thể gọi là anh hùng chăng?

Tháo nói:

– Lưu Chương tuy là giòng Tôn Thất, nhưng chỉ làm con chó giữ nhà mà thôi! Anh hùng gì?

Huyền Ðức nói:

– Vậy còn những người như Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại… thì thế nào?

Tháo vỗ tay cười ha hả:

– Chao ôi! Cái lũ tiểu nhân lúc nhúc ấy, đếm xỉa đến làm gì!

Huyền Ðức kết thúc:

– Vậy thì ngoài những người vừa kể, Bị chẳng biết có ai nữa.

Tháo dõng dạc nói:

– Người anh hùng ấy à? Phải là người nuôi chí lớn trong tim óc, lại phải có mưu cao kế giỏi, có tài bao tàng cả máy vũ trụ trong lòng, có chí nuối trời mửa đất, ấy mới đáng mặt anh hùng chứ?

Huyền Ðức hỏi:

– Ai là người được như thế?

Tháo chẳng úp mở gì nữa, trỏ tay sang Huyền Ðức, rồi lại trỏ về ngực mình mà nói thẳng ra rằng:

– Anh hùng trong thiên hạ ngày nay, chỉ có Sứ quân với… Tháo này thôi!

Huyền Ðức nghe qua, giật nẩy mình lên! Ðôi đũa cầm trên tay bất giác rơi xuống đất!

May thay, lúc ấy trời sắp đổ mưa, vừa vặn có tiếng sấm nổ ran!…

Huyền Ðức mới từ từ cúi xuống, vừa lượm đôi đũa vừa nói rằng:

– Oai trời to thật! Vừa nghe một tiếng, đã đến nỗi này…

Tháo cười hỏi:

– Trượng phu mà cũng sợ sấm à?

Huyền Ðức nghiêm trang nói:

– Ðến Thánh nhân xưa kia, nghe sấm rền gió thét cũng còn biến sắc mặt nữa là tôi!

Thế là Huyền Ðức kịp thời thác ra chuyện “sợ sấm” mà che đậy được cái sợ thực của mình.

Tháo thì cho rằng Huyền Ðức còn tầm thường, từ đó không nghi ngờ nữa.

Người sau có thơ khen Huyền Ðức rằng:

Gượng vào hang cọp tạm nương thân,

Lộ mặt anh hùng, đũa rớt lăn!

Vội vã bầy ra trò sợ sấm,

Tùy cơ ứng biến lẹ như thần.

Cơn mưa vừa dứt, bỗng thấy hai người xông xáo vào hậu viên, tay cầm bảo kiếm lăm lăm, chạy sồng sọc thẳng tại tiểu đình. Tả hữu không sao cản nổi.

Tháo nhìn ra mới biến là Quan Vân Trường và Trương Phi.

Nguyên lai, hôm ấy, Quan, Trương ra ngoài thành săn bắn.

Khi trở về nghe tin Huyền Ðức bị Hứa Chử, Trương Liêu mời đi rồi, thì cứ một mạch chạy thẳng vào Tướng phủ, lại nghe nói Huyền Ðức đang ở hậu viên, sợ xẩy ra chuyện gì chăng, nên xung đột bất kể mà vào kỳ được.

Bấy giờ thấy rõ Huyền Ðức đang ngồi đối ẩm với Tháo, hai ông mới yên tâm, bèn chống gươm đứng lại.

Tháo hỏi:

– Hai người đến đây làm gì?

Vân Trường thưa:

– Bẩm, nghe Thừa tướng cùng gia huynh uống rượu, nên chúng tôi tới xin múa kiếm cho tiệc thêm vui.

Tháo cười nói:

– Ðây đâu phải tiệc Hồng môn mà cần đến Hạng Trang, Hạng Bá? 2

Huyền Ðức cũng cười. Tháo bèn gọi quân hầu:

– Hãy lấy rượu cho hai “Phàn Khoái” uống, để hú vía!

Quan, Trương bái tạ. Chốc lát tiệc tan, Huyền Ðức cái biệt trở về.

Vân Trường nói:

– Huynh trưởng làm hai em sợ hết hồn!

Huyền Ðức đem chuyện đánh rơi đũa thuật lại cho hai em nghe.

Quan, Trương cùng hỏi:

– Như vậy là ý thế nào?

Huyền Ðức nói:

– Ta sở dĩ học việc làm vườn, là muốn cho Tháo coi thường anh không có chí lớn. Không ngờ Tháo lại nhận anh làm anh hùng, nên anh giật mình đến nỗi đánh rơi đũa. Anh sợ Tháo sinh nghi, vội mượn chuyện “sợ sấm” để che đậy…

Quan, Trương cùng bái phục:

– Huynh trưởng thật là cao kiến!

Hôm sau, Tháo lại mời Huyền Ðức vào uống rượu nữa. Ðang uống bỗng có tin báo:

– Mãn Sủng đi thám thính Viên Thiệu đã trở về.

Tháo cho gọi ngay vào hỏi. Mãn Sủng nói:

– Công Tôn Toản đã bị Viên Thiệu diệt rồi!

Huyền Ðức giật mình, vội hỏi:

– Ðầu đuôi ra sao? Mong ông kể cho nghe?

Sủng thuật lại rằng:

– Toản đánh nhau với Thiệu, gặp bất lợi, mới đắp lũy cao bao quanh thành hình trôn ốc. Bên trên thì xây lầu cao mười trượng, gọi là lầu Dịch kinh, trữ 30 vạn hộc gạo, làm kế cố giữ lâu dài. Quân sĩ kéo ra kéo vào bất thần. Nếu xảy có toán nào bị quân Thiệu vây, các tướng xin ra cứu thì Toản gạt đi mà rằng: “Nếu cứ cứu như thế, thì sau này mỗi khi ra trận, kẻ nào cũng trông đợi được cứu, không ai chịu tử chiến nữa.” Nói rồi cứ bỏ mặc. Vì thế, mỗi khi quân Thiệu đến đánh, quân Toản đầu hàng rất nhiều. Toản cô thế, mới sai người mang thư về đây cầu cứu với Thừa tướng. Không ngờ giữa đường sứ giả bị quân Thiệu bắt được. Toản lại đưa thư qua Trương Yên, ngầm hẹn đốt lửa làm hiệu, trong đánh ra, ngoài đánh vào. Nhưng người đưa thư cũng bị Viên Thiệu bắt nốt. Thiệu bèn nhân kế trong thư, đốt lửa ngoài thành lừa dụ Toản. Toản kéo quân ra đánh thì bị phục binh bốn mặt bổ vây. Quân hao tổn mất quá nửa, Toản phải rút vào thành cố thủ. Sau đó, Thiệu ngầm sai quân đào đường hầm… dần dần vào thẳng bên dưới lầu Toản ở rồi chui lên phóng hỏa. Toản không còn đường chạy, liền đem vợ con ra giết trước, rồi treo cổ tự tử. Thây cả nhà bị lửa cháy thành than. Hiện Thiệu đã thu hết quân của Toản, thanh thế rất lớn. Em Thiệu là Viên Thuật ở Hoài Nam kiêu xa quá độ, không thương quân dân, bị họ làm phản rất nhiều. Thuật đã phải sai người qua nói với Thiệu, xin nhường lại Ðế hiệu. Thiệu đòi lấy ấn ngọc, Thuật đã hứa tự mình mang tới nộp. Hiện Thuật đã rời Hoài Nam để qua Hà bắc. Nếu hai anh em y hiệp sức thì ta khó mà trừ được. Xin Thừa tướng tính gấp đi mới xong.

Nghe tin Công Tôn Toản đã chết, Huyền Ðức nhớ tới công ơn tiến cử mình ngày trước, lòng bồi hồi thương cảm. Lại không biết Triệu Tử Long ra sao, lưu lạc về đâu, lòng càng áy náy không yên, nhân nghĩ thầm rằng:

– Nay mình không thừa cơ hội, tìm kế thoát thân, thì biết đợi tới bao giờ?

Bèn đứng dậy nói với Tháo:

– Viên Thuật nếu chạy sang với Thiệu, ắt phải qua lối Từ châu. Xin cho Bị một đạo binh kéo đi triệt đường, có thể bắt được Thuật!

Tháo cười nói:

– Ðược rồi. Ngày mai tôi sẽ tâu Thiên tử, cho ông khởi binh.

Hôm sau, Huyền Ðức vào chầu Vua. Tháo sai Huyền Ðức tổng đốc 5 vạn binh mã kéo đi đánh Viên Thuật.

Tháo lại sai hai tướng Chu Linh, Lộ Chiêu cùng đi.

Huyền Ðức bái biệt Vua. Hiến Ðế ứa lệ tiễn đưa.

Huyền Ðức vội vã về nhà trọ, suốt đêm sửa soạn quân khí yên cương, đeo ấn Tướng quân, thôi thúc tướng sĩ lên đường gấp rút.

Ðổng Thừa giục ngựa theo ra ngoài trường đình mười dặm tiễn đưa.

Huyền Ðức dặn Thừa:

– Xin Quốc cựu yên tâm. Tôi đi chuyến này thế nào cũng báo được ân mệnh.

Thừa nói:

– Ông nên lưu tâm. Chớ phụ lòng Thiên tử.

Hai người chia tay.

Quan, Trương ngồi trên ngựa hỏi anh:

– Huynh trưởng xuất chinh lần này, sao có vẻ vội vàng thế?

Huyền Ðức nói:

– Ta đang như chim trong lồng, như cá trong lưới. Ta đi chuyến này cũng như cá ra biển cả, chim lượn trời xanh, không còn bị ràng buộc gì nữa!

Rồi sai Quan, Trương thúc giục Chu Linh, Lộ Chiêu kéo quân đi gấp.

Bấy giờ Trình Dục và Quách Gia đi kiểm giảo tiền lương trở về Hứa Ðô, nghe tin Tháo đã sai Huyền Ðức tiến binh ra Từ châu, thì vội vã vào can rằng:

– Thừa tướng sai Lưu Bị kéo quân đi làm gì thế?

Tháo nói:

– Sai đi chặn đường Viên Thuật.

Trình Dục nói:

– Hồi Bị còn làm Dự châu Mục, chúng tôi xin giết đi, Thừa tướng đã không nghe. Nay lại giao cho binh mã, chính là thả rồng ra biển, thả hổ về rừng rồi! Sau này muốn trị, còn làm sao được nữa?

Quách Gia cũng nói:

– Thừa tướng dù không muốn giết Bị, cũng không nên sai đi như thế. Cổ nhân có câu: “Một ngày thả kẻ địch, để mối lo muôn đời”. Xin Thừa tướng xét lại.

Tháo nghe lời, bèn sai Hứa Chử đem năm trăm quân khinh kỵ đuổi theo, gọi Huyền Ðức trở lại.

Hứa Chử lập tức kéo quân đi.

Huyền Ðức đang tiến quân, bỗng thấy phía sau bụi bay mù mịt, bèn bảo Quan, Trương rằng:

– Ðây ắt là quân Tào đuổi theo!

Liền cho hạ dinh trại, sai Quan, Trường cầm binh khí đứng chờ sẵn hai bên.

Hứa Chử đến nơi, thấy binh giáp nghiêm chỉnh, bèn xuống ngựa vào dinh ra mắt Huyền Ðức.

Huyền Ðức hỏi:

– Ông đến đây làm gì?

Chử nói:

– Vâng lệnh Thừa Tướng, mời Tướng quân trở về, có việc cần thương nghị.

Huyền Ðức nghiêm nghị nói:

– Tướng ở bên ngoài, có khi mệnh Vua cũng không theo. Hơn nữa, ta đã vào chầu Thiên tử, lại có quân mệnh của Thừa tướng rồi, không còn phải bàn gì nữa. Ông hãy mau trở về, bẩm lại với Thừa tướng dùm ta như thế.

Hứa Chử nghĩ thầm:

– Từ trước, Thừa tướng vẫn chơi thân với y lắm. Nay Thừa tướng cũng không hề bảo ta đến đây để đánh nhau… Chi bằng cứ trở về bẩm lại như thế, xem ý Thừa tướng sao đã.

Nghĩ vậy, Chử bèn từ biệt, kéo quân về ra mắt Tháo, thuật lại những lời Huyền Ðức đã nói.

Tháo do dự chưa quyết định ra sao, thì Trình Dục, Quách Gia cùng nói:

– Lưu Bị không chịu hồi binh, đủ biết lòng sinh biến rồi đấy.

Nhưng Tháo gạt đi mà rằng:

– Ta đã sai Chu Linh, Lộ Chiêu đi kèm, như vậy y vị tất đã dám có lòng kia khác. Huống chi chính ta sai đi, còn hối tiếc thắc mắc làm gì?

Bèn không tính chuyện đuổi theo Huyền Ðức nữa.

Người sau có thơ luận Huyền Ðức rằng:

Giục ngựa xua quân, vội ruổi rong,

Chiếu vua cài áo, khắc ghi lòng.

Hùm tung cũi sắt, về non hiểm,

Rồng vượt ao tù tới biển Ðông.

Bấy giờ Mã Ðằng thấy Huyền Ðức đã đi khỏi, lại nghe tin biên cảnh cấp báo, cũng vội lên đường về Tây Lương. Huyền Ðức đem quân tới Từ châu.

Thứ sử Xa Trụ ra đón. Yến tiệc xong, bọn Tôn Càn, My Trúc cùng đến ra mắt. Huyền Ðức về phủ thăm gia đình.

Một mặt sai người đi thám thính xem Viên Thuật ở đâu?

Thám tử về báo rằng:

– Viên Thuật xa xỉ thái quá, bọn Lôi Bạc, Trần Lan phải bỏ Thuật kéo quân ra Tung sơn rồi. Thanh thế đã mất, Thuật viết thư xin nhường Ðế hiệu cho Viên Thiệu.

Thiệu ra lệnh triệu Thuật đến.

Thuật thu thập quân mã với những đồ ngự dụng trong cung cấm ra đi, hiện đã gần tới địa phận Từ châu.

Huyền Ðức nghe tin Thuật sắp đến, bèn dẫn Quan, Trương cùng Chu Linh, Lộ Chiêu vại 5 vạn quân kéo đi chặn đánh. Ði chưa bao lâu đã gặp ngay Kỷ Linh.

Trương Phi chẳng nói nửa lời, vung xà mâu tới đánh liền.

Ðánh chưa hết 10 hiệp, Phi đã thét lên một tiếng như sấm, đâm Linh chết lăn xuống chân ngựa.

Quân Linh thua chạy tơi bời.

Rồi Viên Thuật tự dẫn quân tới.

Huyền Ðức chia binh ba đường: Chu Linh, Lộ Chiêu đi bên tả, Quan, Trương đi bên hữu, Huyền Ðức lĩnh quân đi giữa.

Thấy mặt Viên Thuật, Huyền Ðức dừng ngựa dưới cờ mắng lớn:

– Tên phản tặc bất đạo kia! Nay ta vâng chiếu tới đánh mày, mày hãy khoanh tay chịu hàng ngay đi, mới mong khỏi tội chết!

Viên Thuật mắng lại:

– Thằng dệt chiếu, đóng dép sao dám khinh ta?

Rồi phất cờ vẫy quân đánh sang.

Huyền Ðức tạm lui trung quân, dử địch tràn sang, để cho hai đạo hai bên đánh kẹp lại, chém giết quân Thuật một trận khủng khiếp, thây nằm đầy nội, máu chảy thành ngòi. Quân tàn bại bỏ trốn đi vô số.

Thuật lại bị Lôi Bạc, Trần Lan từ trong núi đổ ra cướp hết lương thảo tiền bạc, đang muốn trở về Hoài Nam thì bọn giặc cướp lới tới đánh tập hậu cho một trận nữa, đành phải đóng lại Giang Ðình, kiểm điểm thấy chỉ còn hơn một ngàn quân, mà đều là những người già yếu.

Bấy giờ đang tiết trời đang nóng nực, lương thực hết cả, chỉ còn độ 30 hộc gạo mạch, đem phân phát cho quân sĩ. Người nhà Thuật phải nhịn ăn.

Nhiều kẻ đói lả mà chết.

Thuật đói bụng, toan ăn cơm, nhưng vì quen miệng những cao lương mỹ vị, nên cơm gạo xấu không thể nào nuốt được, mới gọi nhà bếp lấy mật để nhắp cho đỡ khát.

Nhà bếp nói:

– Chỉ có… máu, chứ làm gì có mật?

Nghe lời nói cay chua, Thuật đang ngồi trên giường, kêu rống lên một tiếng, ngã quay xuống đất, thổ ra đến một đấu máu rồi chết! Bấy giờ là năm Kiến An thứ 6, tháng tư.

Người sau có thơ rằng:

Hán mạt binh đao nổi bốn phương,

Ngu như Viên Thuật dám xưng cuồng.

Nối nhà, chẳng giữ lẽ Công Tướng,

Cướp nước, xây liều nghiệp Ðế Vương.

Giải thích… sấm truyền, xưng ứng vận,

Tin mê ấn ngọc, cứ khoa trương.

Quân tan, lương hết, đòi chi mật,

Thổ huyết nằm co, rõ… chết đường!

Thuật chết rồi, cháu là Viên Dận đem linh cữu cùng vợ con Thuật chạy về Lư Giang, nhưng bị Từ Cầu đón đường giết hết cả nhà.

Cầu cướp lấy ấn ngọc, đưa về Hứa Ðô, dâng Tào Tháo.

Tháo mừng lắm, phong cho Cầu làm Thái Thú Cao lăng.

Thế là “Truyền quốc ngọc tỉ” về tay Tháo.

Huyền Ðức nghe tin Viên Thuật đã chết, bèn viết biểu tâu về triều đình.

Lại viết thư trình với Tháo, sai Chu Linh, Lộ Chiêu mang về Hứa Ðô, nhưng lưu số binh mã của hai tướng lại, để giữ Từ châu.

Một mặt thân ra ngoài thành, đi chiêu dụ những nhân dân thất tán trở về an cư lạc nghiệp.

Chu Linh, Lộ Chiêu về Hứa đô ra mắt Tháo, nói rõ Huyền Ðức giữ hết binh mã ở lại.

Tháo nổi giận, toan chém hai người. Tuân Húc can rằng:

– Quyền ở Lưu Bị. Hai tướng không thể làm gì được!

Tháo mới tha cho hai tướng. Húc lại bày kế:

– Thừa tướng nên viết thư riêng gởi cho Xa Trụ, dặn lừa bịp mà trừ đi.

Tháo y kế, ngầm sai người qua Từ châu gặp Xa Trụ, truyền quân chỉ.

Trụ mời Trần Ðăng tới mật bàn việc giết Huyền Ðức, Ðăng nói:

– Việc này dễ lắm. Hiện Lưu Bị đang ra ngoài thành an dân, chỉ mấy ngày nữa y trở về. Tướng quân cứ cho quân sĩ phục bên thành, gần hai bên cửa, rồi giả tảng ra đón tiếp. Ðợi khi tới gần, cứ chém cho một đao. Tôi đứng trên mặt thành sẽ sai bắn xuống đám hậu quân của y. Thế là xong việc lớn.

Xa Trụ nghe lời, sửa soạn.

Trần Ðăng về nhà kể rõ đầu đuôi cho cha nghe.

Trần Khuê bắt Ðăng phải đi báo trước cho Huyền Ðức biết.

Ðăng vâng lời cha, phi ngựa đi báo.

Ra khỏi thành được một quãng thì gặp Quan, Trương. Ðăng liền báo rõ tình hình như thế…

Số là Huyền Ðức đã trở về, nhưng còn đi sau. Quan, Trương về trước.

Trương Phi nghe rõ âm mưu, hăm hở đòi đánh thành ngày.

Vân Trường cản lại:

– Không được! Nó phục binh ở cửa thành rình ta, nếu đến ắt mắc mưu. Ta có kế này, có thể giết Xa Trụ.

Ðêm nay, thừa lúc tối trời, ta giả làm quân Tào mới kéo đến Từ châu, lừa Xa Trụ ra đón mà đánh úp, giết ngay đi là xong.

Trương Phi y kế làm ngay.

Nguyên số quân bộ hạ của Quan, Trương lúc bấy giờ vốn sẵn cờ hiệu của Tào Tháo. Áo giáp cũng một kiểu ấy. Vào canh ba đêm đó, kéo tới gần thành, kêu mở cửa.

Quân trên thành hỏi:

– Quân mã của ai?

Dưới thành trả lời:

– Ðây là binh mã của Trương Văn Viễn được Tào Thừa tướng sai tới.

Quân báo cho Xa Trụ. Trụ vội mời Trần Ðăng tới bàn rằng:

– Không ra đón thì sợ Thừa tướng nghi. Ra đón lại sợ bị lừa. Biết làm sao?

Nói rồi, Trụ lên mặt thành đáp rằng:

– Ðêm tối quá, không rõ thực hư thế nào. Hãy tạm đóng bên ngoài, đợi sáng mai sẽ hội kiến!

Dưới thành kêu:

– Quân có việc cơ mật. Nếu để chậm sợ Lưu Bị biết. Mở cửa mau!

Xa Trụ còn dùng dằng chưa quyết. Nhưng ngoài thành một hai kêu cửa gấp quá, Trụ bèn mặc áo giáp lên ngựa, dẫn một ngàn quân, mở cửa thành kéo ra. Ra khỏi cầu treo, gọi lớn:

– Văn Viễn ở đâu?

Nhưng ánh lửa sáng rực lên, chẳng thấy Trương Liêu đâu, mà chỉ thấy một tướng mặt đỏ râu dài, múa đao giục ngựa sấn tới quát mắng:

– Ðồ thất phu kia! Sao dám bầy gian kế hại huynh trưởng ta?

Xa Trụ kinh hồn bạt vía, gượng đánh với Vân Trường chưa được vài hiệp đã quay ngựa chạy về thành.

Nhưng chạy tới đầu cầu treo lại bị Trần Ðăng sai quân bắn loạn tên xuống như mưa.

Xa Trụ đành vòng quanh thành mà chạy. Vân Trường đuổi sát tới, vung ngang một đao, chém Trụ chết lăn, rồi cắt lấy thủ cấp, giơ cao lên gọi quân trên thành rằng:

– Xa Trụ là đứa phản tặc, ta đã giết rồi. Ngoài ra, ai nấy đều vô tội. Hãy hàng đi cho khỏi chết!

Quân sĩ đều trở giáo xin hàng. Náo động chỉ chốc lát, rồi quân dân yên ổn ngay.

Vân Trường đem đầu Xa Trụ đi đón Huyền Ðức, kể rõ việc Xa Trụ mưu hại nên phải chém đầu.

Huyền Ðức kinh hãi mà rằng:

– Nếu Tào Tháo kéo đến thì làm thế nào?

Vân Trường nói:

– Em với Dực Ðức sẽ nghênh chiến!

Huyền Ðức ân hận mãi, rồi vào thành Từ châu. Phụ lão cùng trăm họ đứng hai bên đường đón tiếp.

Huyền Ðức về phủ tìm Trương Phi, thì thấy Phi đã đem cả nhà Xa Trụ ra giết hết!

Huyền Ðức than rằng:

– Giết mất người tâm phúc của Tháo, đời nào hắn chịu bỏ qua?

Nhưng Trần Ðăng nói:

– Sứ quân khỏi lo. Tôi có một kế đẩy lui quân Tào…

Ðó chính là:

Thân cô, đã thoát xa hang cọp, Mẹo giỏi rồi đây tắt khói lang.

——————————–

1 Chim Uyên, chim Lộc đi có hàng, đứng có lối, giống như bá quan trong triều
2 Xưa Sở Bá Vương Hạng Vũ có mời Hán Vương Lưu Bang tới Hồng Môn dự tiệc.
Tiệc nửa chừng, Phạm Tăng bảo nhỏ Hạng Trang rút kiếm ra trước xin múa “làm vui”, để rồi thừa lúc bất ngờ chém chết Hán Vương.
Nhưng Hạng Bá biết ý, muốn che chở cho Hán Vương, cũng bước ra múa đôi với Trang, rồi gạt Trang ra một bên, che đỡ không cho hại Hán Vương.
Sau đó, Phàn Khoái biết tin, chạy thẳng đến tiệc Hồng Môn, cứu nguy cho Hán Vương.

 

Hồi Thứ Hai Mươi Hai

Viên, Tào Khởi Ba Quân Mã Bộ
Quan, Trương Bắt Hai Tướng Vương, Lưu

Nhắc lại, Trần Ðăng hiến kế cho Huyền Ðức rằng:

– Tào Tháo chỉ sợ Viên Thiệu. Hiện Thiệu như con hổ chiếm cứ bốn châu Tinh, U, Thanh, Ký. Quân giáp sĩ có tới một trăm vạn, văn quan võ tướng rất nhiều, thế lực rất mạnh. Sao Sứ quân không sai người sang đó cầu cứu?

Huyền Ðức phân vân nói:

– Thuở nay ta không qua lại với người, phần ta mới hại em người, có lý nào người lại chịu giúp ta.

Trần Ðăng nói:

– Ỷ đây có một người thông gia với Viên Thiệu đã ba đời rồi, nếu được bức thư của người ấy, ắt Viên Thiệu không nỡ từ chối.

Huyền Ðức hỏi:

– Người nào thế?

Trần Ðăng đáp:

– Người này chính là người vẫn được Sứ quân trọng đãi kính lễ hàng ngày đó.

Huyền Ðức chợt nhớ ra:

– Là Trịnh Khanh Thành tiên sinh phải không?

Trần Ðăng cười đáp:

– Chính phải.

Nguyên Trịnh Khanh Thành tức là Trịnh Huyền, từ nhỏ có tài và hiếu học, từng thụ nghiệp Mã Dung. Mỗi khi Mã Dung ngồi giảng bài thì buông trướng đỏ. Phía ngoài học trò ngồi, phía trong thì đoàn con hát hầu vui. Những cô hầu gái thì đứng hai bên. Trịnh Huyền học với thầy suốt ba năm mà luôn luôn nhìn thẳng, không bao giờ nghiêng mắt liếc ngang một cái. Mã Dung lấy làm lạ, lòng khen thầm. Khi thành tài, Huyền xin nghỉ trở về. Mã Dung than rằng:

– Hết thẩy học trò của ta, chỉ có một mình Trịnh Huyền lãnh hội được cái học bí truyền của ta!

Trong nhà Trịnh Huyền, ai cũng biết chữ. Ðến lũ đầy tớ gái cũng thông thuộc Kinh Thi. Một hôm có con hầu ăn nói thất thố làm trái ý Huyền, Huyền bắt quỳ dưới thềm rất lâu. Một con khác đi qua trông thấy, hỏi đùa bớn rằng:

– Vì sao mà sa vào chỗ bùn lầy như vậy? 1

Con hầu bị phạt đám ngay:

– Chợt khi lỡ lời, gặp phải lúc ông ấy đang giận. 2

Ấy, đại để nếp nhà phong nhã như thế. Ðời Hoàn Ðế, Huyền làm quan đến chức Thượng Thư. Sau gặp loạn Thập Thường Thị, Huyền bỏ quan, về làm ruộng ở Từ Châu.

Khi Huyền Ðức còn ở Trác quận, đã có học với Trịnh Huyền, đến khi làm quan Mục Từ châu vẫn thường đến nhà thỉnh giáo và kính lễ rất hậu.

Bấy giờ Huyền Ðức nhớ ra, mừng lắm, bèn hiệp với Trần Ðăng đến nhà Trịnh Huyền nhờ viết thư.

Trịnh Huyền khẳng khái nhận lời, viết một phong thư giao cho Huyền Ðức. Huyền Ðức liền sai Tôn Càn đi suốt đêm đem qua Hà Bắc.

Viên Thiệu xem thư xong, nghĩ thầm:

– Huyền Ðức đã hại em ta, lẽ nào ta lại giúp hắn, ngặt vì có thư của Trịnh Thượng thư, nếu không đi thì không được.

Viên Thiệu liền triệu tập hết các quan văn võ để bàn việc hưng binh đánh Tào Tháo.

Mưu sĩ Ðiền Phong can rằng:

– Binh chinh chiến luôn mấy năm, bá tánh đều khổ cực, kho đụn thiếu hụt rồi. Nay không thể khởi đại binh được nữa. Chỉ nên trước sai người về Kinh dâng tin thắng trận lên Thiên Tử. Nếu không báo tiệp được thì hãy dâng biểu kể tội Tào Tháo ngăn đường không cho ta phò Vua. Rồi sau này đem binh ra đóng Lê Dương, tăng thêm chiến thuyền dàn ở Hà Nội, sửa sang khí giới, chia quân tinh nhuệ đi đóng chẹn các chỗ biên giới. Như thế, trong vòng ba năm, việc lớn ắt thành.

Mưu sĩ Thẩm Phối nói:

– Không được! Với tài thần võ của Minh công, lại thêm đất Hà Bắc cường thịnh này thì hưng binh đánh giặc Tào dễ như trở bàn tay. Việc gì phải chờ đợi dềnh dang ngày này qua tháng khác?

Mưu sĩ Thư Thụ lại nói:

– Cái sách lược chế thắng không phải ở sự cường thịnh. Vả lại Tào Tháo giỏi thi hành pháp lệnh, quân sĩ tinh luyện, không như hạng Công Tôn Toản ngồi một xó chịu khốn. Nay nếu bỏ cái kế hay “báo tiệp tâu công” mà đi khởi quân vô danh nghĩa, thiết nghĩ Minh công không nên làm.

Nhưng mưu sĩ Quách Ðồ nói:

– Nói thế là sai! Ðem binh đánh Tào Tháo, sao gọi là vô danh? Lúc này, Minh công nên kịp thời mưu đại nghiệp. Xin thể theo lời Trịnh Thượng thư, hợp cùng Lưu Bị, nêu cao đại nghĩa, tiêu diệt giặc Tào, trên hợp ý trời, dưới hợp lòng dân. Thực là cơ hội rất tốt.

Thế là bốn mưu sĩ tranh luận giằng co, Viên Thiệu trù trừ chưa biết quyết định ra sao? Bỗng lại có hai mưu sĩ Hứa Du, Tuân Thầm từ bên ngoài bước vào. Thiệu nói:

– Hai người này có nhiều kiến thức đây. Thử hỏi xem chủ trương thế nào?

Hai người vào thi lễ xong, Thiệu hỏi:

– Có Trịnh Thượng thư gửi thư đến đây, bảo ta giúp Lưu Bị đánh Tào Tháo. Vậy nên khởi binh hay không khởi binh?

Hai người đồng thanh thưa:

– Minh công lấy nhiều phục ít, lấy mạnh đánh yếu, đánh giặc nhà Hán để phò nhà Hán. Nên khởi binh lắm!

Viên Thiệu cười nói:

– Lời hai ngươi nói rất hợp ý ta!

Liền viết một phong thư phúc đáp, sai Tôn Càn trở về trao cho Huyền Ðức, hẹn chuẩn bị sẵn sàng tiếp ứng.

Sau đó, Viên Thiệu sai Thẩm Phối và Phùng Kỷ làm Thống quân; Ðiền Phong, Tuân Thầm, Hứa Du làm mưu sĩ, còn Nhan Lương và Văn Xú làm Tướng quân, khởi mười lăm vạn mã quân, mười lăm vạn bộ quân, cộng hết là ba mươi vạn tinh binh, nhằm hướng Lê Dương tiến phát.

Thiệu phân phát xong rồi, Quách Ðồ tiến lên nói:

– Nay Minh công lấy đại nghĩa mà đánh Tào Tháo. Vậy phải làm hịch loan truyền trong nhân dân, hài tội của Tháo, làm cho rõ cái lẽ khiến ta khởi binh, để cho danh chánh ngôn thuận thì mới có thêm uy lực.

Thiệu nghe lời, sai viên thư ký Trần Lâm thảo tờ hịch.

Nguyên Trần Lâm tự Khổng Chương, tài văn nổi tiếng. Thời Hoàn Ðế đã làm quan Chủ Bạ, vì can ngăn Hà Tiến không được, rồi gặp loạn Ðổng Trác, chạy loạn lên Ký Châu, được Viên Thiệu dùng làm Ký Thất. Bấy giờ Trần Lâm vâng lệnh cầm bút thảo ngay một bài hịch.

Hịch văn như sau:

Thường nghe rằng: bậc minh chúa gặp nguy mà chế biến, kẻ trung thần lo nạn nước mà tùng quyền. Cho nên, có người phi thường rồi sau mới có việc phi thường. Có việc phi thường rồi mới có công lao phi thường. Người phi thường ấy không phải ai cũng có thể bắt chước làm nổi.

Xưa kia, nhà Tần mạnh gặp lúc vua yếu, Triệu Cao nắm hết quyền bính, chuyên chế việc triều đình, tự mình tác oai tác phúc. Thiên hạ nhiều người oán hận nhưng không ai dám nói gì. Thế mà rồi hắn cũng chết thảm ở cung Vọng Di, tổ tông mang tiếng ô nhục, để tiếng xấu lưu muôn đời.

Cho đến cuối đời bà Lã hậu, hai tên Sản, Lộc chuyên chính, bên trong giữ cả hai quân, bên ngoài thống chế hai nước Lương, Triệu, lạm quyền quốc sự, quyết việc nơi Cấm đình, dưới lăng loàn, trên suy yếu, bốn bể ai cũng đau lòng. Vì thế Dáng Hầu 3 với Chu Hư Hầu 4 mới hưng binh phẫn nộ, tru di quân nghịch bạo, tôn lập đức Thái Tông 5 làm hưng thịnh lại Vương đạo, bốn cõi quang minh rực rỡ. Ðó là cái gương lớn: Ðại thần tùng quyền vậy.

Ngày nay có viên Tư Không Tào Tháo làm càn. Ông nó tên Ðằng, làm Trung Thường Thị, đã từng thông với bọn Tả Quản, Từ Hoàng làm điều yêu nghiệt, tham tàn càn rỡ, tổn thương phong hóa, tàn ngược nhân dân.

Cha nói tên Tung, vốn con nhà ăn mày được dắt về nuôi, nhờ có của tiền mua lấy chức vị, xe vàng khiêng ngọc đút lót chỗ quyền môn, trộm cắp đỉnh tư, làm nghiêng đổ đồ quốc bảo.

Ðến nó tên Tháo, con thằng tôi tớ, cháu tên quan hoạn, nên chẳng có nết na gì, tai quái luông tuồng, ham loạn lạc, vui trong tai vạ của nước non.

Mạc phủ 6 đây, đổng thống quân ưng dương, tảo trừ lũ hung nghịch. Gặp hồi Ðổng Trác cướp quyền hại nước, đã vung gươm khua trống, truyền lệnh ra Ðông Hạ, chiêu tập anh hùng, không kể người xấu nết hèn, chỉ cốt dùng lấy việc, nên mới để Tào Tháo được cùng mưu việc, cho giữ một cánh quân, tưởng rằng chim ưng, chó săn cũng có chút tài khả dụng.

Không ngờ Tháo là đứa ngu si dốt nát, tiến liều lui bậy, làm tổn quân mã, mất cả nhuệ khí ba quân. Mạc phủ lại phải rèn luyện lại quân binh, sửa sang quân ngũ, rồi tâu xin cho nó sang Ðông quận làm Thứ Sử Duyện châu. Thân dê đội lốp cọp, nắm được quyền hành, những tưởng rồi nó sẽ đem thân khuyển mã để báo được trận thua khi trước như quân Tần báo thù Tấn.

Thế mà nó nhân được thể, dám làm trò lợn vượt qua rào, hung hăng tàn bạo, chiếm cứ liên miên, hại người hiền, giết người ngay. Quan cố Thái Thú Cửu Giang Biên Nhượng là bậc anh tài tuấn vĩ, thiên hạ đều biết tiếng, nhìn ngay nói thẳng, không lời dua nịnh, mà cũng bị nó giết hại, đầu bêu ngọn giáo, vợ con bị nạn diệt vong. Từ đó khắp kẻ sĩ ai ai đều tức giận, nhân dân chốn chốn càng xót xa căm hờn. Một người vung cánh tay, trăm họ cùng hưởng ứng, nên quân nó bị phá ở Từ Châu, đất nó mất về tay Lữ Bố. Thân nó bơ vơ nơi cõi Ðông, không biết nương tựa vào đâu?

Mạc phủ nghĩ đến nghĩa “cành mạnh nâng đỡ nhánh mềm”, vả cũng vốn không dung đảng giặc, cho nên lại giương cờ, mặc giáp, gióng trống, khua chiêng đem quân tới cứu nó và đánh quân Lữ Bố tan vỡ, cứu cho nó khỏi cái nạn tử vong, lại phục hồi cho nó cái địa vị phương bá. Thế thì, Mạc phủ tuy không có công đức gì với trăm họ Duyện Châu nhưng đã làm phúc lớn cho Tháo lắm vậy.

Về sau, khi loan giá về Ðông Ðô, bị lũ giặc theo cướp, bấy giờ Ký Châu đang có việc cảnh cấp ở phía Bắc, Mạc phủ chưa thể rời ra được, nên đã sai quan tùng sự Trung lang Từ Huân đến truyền cho Tháo phải vào mà sửa sang chốn tôn miếu, giúp đỡ ấu quân. Thế mà Tháo nó dám rông rỡ làm càn, hiếp vua dời giá ra chỗ khác. Nó khinh nhờn vương thất, làm bại hoại pháp chế, rối loạn kỷ cương, ngồi khuynh loát cả Tam đài, chuyên chế hết cả triều chính, muốn thưởng ai mặc lòng, muốn giết ai cứ nói. Yêu ai thì làm rạng tới ba đời, ghét ai thì giết cả ba họ. Ai tụ tập luận bàn thì bị chém công khai. Ai bí mật dị nghị thì bị giết thầm lén. Trăm quan phải ngậm miệng, người đi đường chỉ đưa mắt cho nhau, không ai dám nói tiếng nào. Chức Thượng Thư chỉ còn biết ghi chép buổi triều hội Công Khanh, ngồi đứng cho có vị. Như cố Thái úy Dương Bưu, trải coi hai Ty, ở địa vị nhất phẩm quốc gia, thì Tháo gườm mắt căm ghét, vu oan tội tình, đánh đập thảm thương, tước hết chức quyền, đuổi ra điền lý. Tháo đã tự ý làm càn, không thèm coi hiến cương ra gì nữa. Văn nghị lang Triệu Ngạn, lòng trung nói thẳng, nghĩa ấy đáng khen, Thánh triều nghe hợp đạo, long nhan vui tươi, gia thưởng tước lộc. Tháo liền ganh tỵ, mê đoạt Thánh minh, chặn lắp đường lối, không cho ai vào chầu Vua, rồi tự tiện bắt Ðại thần, không tâu mà giết, Vua chẳng biết gì.

Lại như Lương Hiếu Vương là anh em cùng mẹ với Ðức Tiên Ðế, lăng tẩm tôn quý, dẫu đến cây dâu cây tử, gốc bá cành tùng cũng đáng được kính trọng thay, thế mà Tháo nó thân đem tướng sĩ quân lính đến khai quan quật mộ, phơi thây giữa trời, cướp lấy vàng bạc châu báu, đến nay Thánh triều còn chưa ráo lệ, sĩ dân vẫn còn đau lòng 7. Nó lại còn đặt ra chức Trung lang tướng đào mả, chức Hiệu úy bại vàng, đi đến đâu tàn hại đến đó, dẫu người chết nằm dưới đáy mồ vẫn không tha, biết bao nhiêu hài cốt bị bươi móc lồ lộ giữa trời.

Thân ở ngôi Tam công mà nó quen thói trộm cướp, làm nhơ cả nước, làm nhục muôn dân, gây vạ độc địa cho cả vong hồn người chết. Chính sự nó thì tinh ranh thảm khắc, điều luật bầy ra trói buộc khắp mặt, cạm bẫy chăng đầy đường khắp lối, khiến ai nấy giơ tay đụng phải lưới, bước chân mắc phải tròng. Cho nên dân vô tội hai xứ Duyện, Dự đau khổ lầm than, tiếng rên la thấu chốn Ðế Ðô rất là ai oán. Trải xem sử sách cổ kim, những kẻ làm tôi tham tàn khốc liệt cũng nhiều, nhưng không kẻ nào tai hại bằng tên Tháo ngày nay nữa.

Mạc phủ đang bận hỏi tội đứa ngoại gian, chưa kịp răn trách đến nó tức là còn nấn ná rộng dung, tưởng nó sẽ sửa lầm, cải lỗi đi chăng? Thế mà nó vẫn lòng lang dại sói, manh tâm gây vạ, muốn đạp đổ rột rường, làm cho nhà Hán thế cô sức yếu. Nó hãm hại người trung, chính là nó muốn củng cố địa vị độc tài để được tự làm ác như con cú độc vậy.

Trước đây, Mạc phủ gióng trống Bắc chinh, trừ tên giặc dữ Công Tôn Toản, phải cầm vòng vây một năm trời, Tháo nhân lúc quân giặc chưa tan, dám ngầm mưu thông với giặc, đưa thư hẹn họp, ngoài mặt giả cách giúp vua, trong lòng rình toan đánh úp. May được kẻ đưa thư tiết lộ, giặc Toản bị bêu đầu, và nọc độc của tên Tháo phải rụt lại, chẳng mưu được điều bội nghĩa. Ngỡ thế là yên, ngờ đâu nó lại dám đóng chẹn Ngao thương, ngăn sông gây việc, toan đem đôi càng con bọ ngựa để cản bánh Long xa!

Mạc phủ nay phụng oai linh nhà Hán đi dẹp bốn phương. Quân có kích dài trăm vạn ngọn, ngựa khỏe nghìn đàn, phấn khích tinh thần như tráng sĩ, sức lực tựa Hoàng, Dục, Hoạch 8, vương thế mạnh nỏ cứng, cung bền. Quân đội Tinh châu vượt núi Thái hàng mà đi. Binh mã Thanh Châu lội ngang sông Tế, Tháp mà tại 9. Ðại quân băng qua sông Hoàng hà đánh mặt trước, quân Kinh châu lại tiến vào đất Uyển, Diệp đánh mặt sau. Thế mạnh như sấm ran cọp đuổi vào ổ giặc, thì khác gì nổi lửa lớn mà đốt mớ cỏ khô, dốc nước biển cả để tưới lò than nhỏ! Giặc Tháo thế nào mà chẳng bị tiêu diệt?

Vả lại những quân sĩ của Tháo có thể đánh trận được, đều là những người quê quán ở hai châu U, Ký bị bắt buộc mà phải theo. Ai ai cũng có bụng oán, muốn về quê hương, ứa nước mắt trông về phương Bắc. Ngoài ra, những người Duyện, Dự đều là những quân sĩ của Lữ Bố, Trương Dương còn sót lại, vì bị ức hiếp, tạm thời đi theo, cánh quân nọ thù ghét cánh quân kia, sẵn sàng trở giáo. Nếu ta lên gò cao đánh trống, phất cờ trắng để mở đường cho họ về hàng, tất họ sẽ bỏ chỗ tối, tìm chỗ sáng. Chỉ một trận thì như đất lở ngói tan, không cần phải đâm chém đổ máu.

Hiện nay nhà Hán suy vi, cương duy lỏng lẻo, Thánh triều không có một người nào giúp, tay chân như bị trói, không thể nào vùng vẫy được. Ỷ đất trực thuộc triều đình, những vị giản luyện đều phải cúi đầu xếp cánh, không thể trông cậy vào ai. Tuy có kẻ sĩ trung nghĩa, nhưng bị loạn thần bạo ngược hiếp chế, thì còn phát triển khí tiết của mình làm sao? Hơn nữa, Tháo nó sai hơn bảy trăm tinh binh tay chân ngày đêm vây kín cung khuyết, ngoài mặt giả làm quân túc vệ, kỳ thực là giam cầm nhà Vua.

Mạc phủ sợ rằng cái mầm phản nghịch từ đó mỗi lúc một nẩy nở thêm, lúc này là lúc kẻ trung thần phải đem gan óc báo đền, là cơ hội để các liệt sĩ lập công báo quốc. Há chẳng nên cùng hết sức ru?

Tháo nó lại hay giả thác chiếu Vua, sai đi gọi binh các nơi tiếp viện. Sợ rằng các châu quận ở xa không rõ mưu gian, lại tưởng rằng lệnh Thiên Tử thực mà giúp lầm kẻ nghịch, thì hóa ra theo giặc phản Vua, mất hẳn danh nghĩa, để tiếng cười cho thiên hạ sau này. Vậy mà những bậc khôn ngoan ắt không làm như thế!

Nay mai quân Tinh, U, Thanh, Ký, bốn châu cùng tiến 10. Thư đưa tới Kinh Châu mời cùng ra binh với Kiến Trung tướng quân hợp làm thanh thế 11. Các châu quận hãy chấn chỉnh nghĩa binh, liên lạc với nhau nơi cảnh giới, thị vũ dương uy, cùng khuông phò xã tắc, thế là cái công phi thường đã rõ rồi vậy.

Ai lấy được thủ cấp Tào Tháo sẽ được phong Hầu năm mươi vạn hộ, thưởng tiền năm mươi vạn.

Những Thiên, Tỳ, Tướng, Hiệu& ai đem quân đến hàng, đều không bị hỏi han gì cả. Ta sẵn sàng mở rộng đường ân tín, ban thưởng tuyên dương cho ngay.

Nay làm tờ hịch này bố cáo khắp thiên hạ, để bốn phương biết rằng Thánh triều đang bị cái nạn câu thúc nguy cấp!

Viên Thiệu xem xong tờ hịch thì mừng lắm, liền sai người đi đưa đến các châu quận, và yết thị ở bến đò, treo dán khắp các cửa ải.

Tờ hịch truyền lan tới Hứa Ðô, bấy giờ Tào Tháo đang bị cảm gió nhức đầu, nằm trên giường dưỡng bệnh. Tả hữu đem vào trình, Tháo xem xong, rợn tóc rùng mình, mồ hôi ra như tắm, bất giắc thấy hết nhức đầu, ngồi phắt dậy, nhảy xuống đất, quay hỏi Tào Hồng:

– Có biết ai làm bài hịch này không?

Hồng thưa:

– Nghe đâu Trần Lâm chủ bút.

Tháo cười bảo:

– Tài văn còn phải có võ lược đi kèm nữa chứ! Văn Trần Lâm hay, nhưng võ Viên Thiệu kém thì sao?

Nói rồi liền họp các mưu sĩ bàn việc nghênh địch. Khổng Dung hay được việc ấy liền ra mắt Tào Tháo mà can rằng:

– Viên Thiệu thế lực đang mạnh, không nên đánh với hắn, xử hòa thì hay hơn.

Tuân Húc nói:

– Viên Thiệu là đồ vô dụng, hà tất phải dụng hòa?

Dung nói:

– Viên Thiệu có đất rộng dân cường. Bộ hạ như Hứa Du, Quách Ðồ, Thẩm Phối, Phùng Kỷ đều là những kẻ sĩ trí mưu. Ðiền Phong, Thư Thụ là những trung thần. Nhan Lương, Văn Xú đều là những võ tướng dũng lược quán tam quân. Ngoài ra bọn Cao Lâm, Trương Cáp, Thuần Vu Quỳnh đều là những danh tướng đời nay. Sao bảo Thiệu là kẻ vô dụng được?

Húc cười, nói:

– Quân Thiệu nhiều, nhưng không chỉnh. Ðiền Phong tính cương mà hay phạm thượng. Hứa Du tham lam mà không có trí. Thẩm Phối tự chuyên mà vô mưu. Phùng Kỷ tính quả quyết nhưng vô dụng. Mấy kẻ ấy không thể dung được nhau, ắt sinh nội biến. Còn Nhan Lương, Văn Xú chỉ có cái sức khỏe của kẻ thất phu, đánh một trận có thể bắt được. Ngoài ra là những bọn lau nhau, lúc nhúc, dẫu có trăm vạn đi nữa đáng kể làm gì?

Khổng Dung lặng thinh không nói nữa. Tháo mừng rỡ nói:

– Thật đúng như luận liệu Tuân Văn Nhược!

Liền lập tức sai Lưu Ðại làm Tiền quân, Vương Trung làm Hậu quân dẫn năm vạn binh, kéo cờ hiệu Thừa tướng, tiến ra Từ châu đánh Lưu Huyền Ðức. Nguyên Lưu Ðại là Thứ sử Duyện châu, sau Tháo kéo đến, Ðại xin hàng. Tháo phong cho chức Thiên tướng. Nay cho lãnh binh cùng Vương Trung.

Còn Tháo góp hết các tướng dẫn đại quân hơn hai mươi vạn kéo đến Lê dương cự Viên Thiệu.

Trình Dục nói:

– Sợ e Lưu Ðại, Vương Trung làm không nên việc.

Tào Tháo nói:

– Ta cũng biết hai tướng ấy không phải là địch thủ của Lưu Bị, nhưng hãy tạm hư trương thanh thế như vậy. Rồi sau sẽ liệu.

Bèn dặn hai tướng:

– Không được khinh chiến. Phải đợi ta phá xong Viên Thiệu thì sẽ quay binh về đánh Lưu Bị.

Lưu Ðại, Vương Trung vâng lệnh kéo đi.

Còn Tháo cũng kéo binh ra Lê dương. Ðến nơi, quân hai bên đóng cách nhau chừng tám mươi dặm. Bên nào cũng đào hầm đắp lũy đề phòng chớ không chịu đánh.

Hai bên cầm cự như thế từ tháng tám đến tháng mười. Về phía Hà bắc, vì Hứa Du thấy Thẩm Phối được lãnh binh thì không thích. Thư Thụ cũng giận Viên Thiệu không dùng kế của mình. Các mưu sĩ bất hòa với nhau, nên chẳng buồn nghĩ đến việc tiến thủ gì. Viên Thiệu nghi hoặc trong lòng, cũng không buồn nghĩ tới tiến binh nữa.

Tháo dò biết được, bèn gọi hàng tướng Tang Bá, bộ hạ cũ của Lữ Bố, sai đóng giữ mặt Thanh, Từ; sai Vu Cấm, Lý Ðiển đóng đồn trên sông, để Tào Nhân tổng đốc đại quân đóng giữ Quan Ðộ. Tháo tự mình dẫn một cánh quân về Hứa đô.

Nói về Lưu Ðại, Vương Trung dẫn năm vạn quân ra đến Từ châu cách chừng một trăm dặm thì hạ trại, hư trương cờ hiệu “Thừa tướng” nơi trung quân, chưa dám tiến binh, chỉ sai quân đi nghe ngón tin tức mặt trận Hà Bắc.

Huyền Ðức không rõ quân Tào Tháo hư thực thế nào nên cũng không dám bạo động, chỉ cho người đi Hà Bắc thám thính xem sao.

Bỗng Tháo sai người tới truyền cho Lưu Ðại, Vương Trung tiến đánh. Hai người họp nhau trong trại thương nghị.

Lưu Ðại nói:

– Thừa tướng thúc giục đánh thành như vậy ông hãy tiến binh đi trước!

Vương Trung thoái thác:

– Thừa tướng sai ông đi trước, sao ông lại nạnh tôi?

Lưu Ðại nói:

– Ta là chủ tướng, lẽ nào lại đi trước?

Vương Trung nói:

– Vậy tôi và ông cùng tiến một lượt vậy.

Lưu Ðại nói:

– Thôi, để ta với ngươi bắt thăm, hễ ai bắt trúng thì đi trước.

Khi vò hai mảnh giấy rồi gắp, thì Vương Trung bắt được thăm có chữ “tiên”, Ðại được chữ “hậu”. Vương Trung đành dẫn lấy một nửa quân mã tiến đánh Từ châu.

Huyền Ðức nghe binh mã Tào Tháo kéo đến, liền thỉnh Trần Ðăng vào thương nghị:

– Viên Bản Sơ tuy đóng binh tại Lê Dương, nhưng vì các mưu sĩ bất hòa nên không chịu ra binh. Còn Tào Tháo lúc nầy không biết hắn ở nơi đâu mà nơi Lê Dương không thấy dựng cờ hiệu của hắn, còn nơi đây lại có, thế là làm sao?

Trần Ðăng nói:

– Tào Tháo nó quỷ quyệt lắm. Thế nào hắn cũng coi Hà Bắc là trọng, chắc thế nào hắn cũng có mặt ở đó. Bởi thế, hắn cố ý kéo cờ hiệu ở đây để hư trương thanh thế. Tôi chắc Tháo không có ở đây đâu.

Huyền Ðức quay lại hỏi Quan, Trương:

– Hai em, ai dám ra đó thám thính tình hình của giặc không?

Trương Phi liền bước ra nói:

– Em xin đi.

Huyền Ðức nói:

– Em tính nóng nẩy, e rằng làm hư việc của anh.

Trương Phi nói:

– Dẫu có thằng Tào Tháo đến nữa, em cũng xin bắt về đây!

Vân Trường lại bước ra nói:

– Xin để em đi xem động tĩnh thế nào?

Huyền Ðức nhận lời và nói:

– Vân Trường đi, anh mới an dạ.

Vân Trường liền dẫn ba ngàn quân kéo ra khỏi thành. Bấy giờ tiết trời mới sang đông, mây xám kéo u ám, hoa tuyết bay tơi bời. Người ngựa dàn trận ngoài mưa tuyết xong, Vân Trường cầm đao giục ngựa ra, lớn tiếng gọi Vương Trung ra nói chuyện.

Trung thúc ngựa ra nói:

– Thừa Tướng đã tới đây, sao không hàng đi?

Vân Trường đáp:

– Hãy mời Thừa Tướng ra đây, ta có việc cần đàm đạo.

Vương Trung nói:

– Thừa Tướng há đi hạ mình nói chuyện với một đứa thất phu kia sao?

Vân Trường cả giận, vung đao tới chém. Vương Trung múa giáo đón đánh. Hai ngựa giao kề, đánh chừng vài hiệp, Vân Trường giả thua bỏ chạy. Vương Trung rượt theo. Ðến chân núi, Vân Trường hét lên một tiếng quay ngựa trở lại, múa đao chém. Trung chống đỡ không nổi, vội quay ngựa chạy trốn. Vân Trường bèn cắp ngược đao ở tay trái, thúc ngựa đuổi sát rồi đưa tay mặt nắm lấy thắc lưng, lôi xiết Trung khỏi yên ngựa, bắt sống bỏ nằm ngang trên lưng ngựa mà về trận. Quân Vương Trung bỏ chạy tán loạn.

Vân Trường áp giải Vương Trung về Từ Châu nạp cho Huyền Ðức. Huyền Ðức truyền kẻ tả hữu dẫn vào và hỏi:

– Ngươi là ai? Làm chức gì mà dám mạo xưng là Tào Thừa Tướng?

Vương Trung run lập cập nói:

– Tôi đâu dám man trá. Vì có lệnh Thừa Tướng bắt phải hư trương thanh thế để làm nghi binh như vậy. Quả thực Thừa Tướng không có ở đây.

Huyền Ðức cười thầm, rồi sai lấy áo xiêm cho Vương Trung mặc, lấy cơm rượu cho ăn uống, và rồi sai quân tạm giam lại, chờ bắt được Lưu Ðại sẽ hay.

Vân Trường nói:

– Em biết ý anh muốn giải hòa, nên cố bắt sống dẫn về.

Huyền Ðức nói:

– Ta e Dực Ðức nóng nảy giết mất Vương Trung nên không dám sai đi. Cái hạng người như thế giết làm chi vô ích, cứ để sống mà giảng hòa hay hơn.

Trương Phi nghe qua, hăm hở nói:

– Nhị ca đã bắt được Vương Trung, vậy để em ra bắt Lưu Ðại cho.

Huyền Ðức nói:

– Lưu Ðại trước kia đã từng làm Thứ Sử Duyện Châu. Hồi đánh Ðổng Trác ở Hổ Lao quan, hắn đường đường là một mặt chư hầu. Nay hắn lãnh Tiền quân tới đây, không thể khinh địch.

Trương Phi nói:

– Cái đồ chuột nhắt ấy, kể làm gì? Em sẽ làm như nhị ca: bắt sống nó về đây cho kỳ được.

Huyền Ðức nói:

– Chỉ sợ em hại mất mạng nó, làm lỡ việc lớn thôi!

Trương Phi cam kết:

– Nếu em giết nó, em đền mạng em cho đại ca.

Buộc lòng, Huyền Ðức phát cho Trương Phi ba ngàn quân. Trương Phi mừng rỡ, liền kéo binh ra khỏi thành khiêu chiến. Lưu Ðại nghe tin Vương Trung bị bắt, thì sợ hãi chỉ một mực đóng cửa trại không ra.

Trương Phi ngày ngày đến trước trại chửi mắng, khiêu khích. Nhưng Ðại nghe cái tên “Trương Phi” với tiếng quát như sấm, thì càng sợ rúm người lại, không dám ló đầu ra!

Qua ba ngày rồi mà Lưu Ðại vẫn cố thủ, Trương Phi trong lòng buồn bực, liền nẩy ra một kế, bèn truyền lệnh cho quân sĩ canh hai đêm nay đi cướp trại địch. Ban ngày, Trương Phi vào trướng uống rượu giả tảng say, tìm vạch tội quân sĩ, rồi bắt một tên lính canh, đánh cho một trận thật đau và trói ở trong dinh, lại nói rằng:

– Ðợi đêm nay, khi cất quân, sẽ chém đầu nó tế cờ!

Nhưng sau đó, lại bí mật bảo tả hữu thả ra. Tên quân thoát được, trốn ra khỏi trại, chạy ngay sang trại Lưu Ðại đầu hàng và báo:

– Trương Phi định đêm nay đến cướp trại Tướng quân đó.

Lưu Ðại hay được tin, lại thấy tên quân bị đánh đập tàn nhẫn, thương tích nặng nề, nên tin lời ngay. Ðại bèn bỏ trại trống không, đem hết quân ra phục bên ngoài, chờ Trương Phi đến cướp trại thì vùng ra giết.

Ðêm ấy, Trương Phi chi quân ba đạo: một đạo ước chừng ba mươi người vào thẳng trại Lưu Ðại mà phóng hỏa, còn hai đạo kia lẻn ra phục sau trại, cứ trông lửa hiệu cháy mà hai mặt giáp công.

Ðến canh ba, Trương Phi tự dẫn tinh binh đi chẹn hẳn lối sau của Lưu Ðại. Khi ba mươi người xông thẳng vào trong trại đốt lửa, quân phục của Lưu Ðại vừa toan đánh vào thì hai cánh quân của Trương Phi đã đổ tới đánh ép lại. Quân Lưu Ðại náo loạn, không rõ quân Trương Phi nhiều ít thế nào, bỏ trốn tứ tán.

Ðại thấy nguy, bèn dẫn một đội quân cướp đường mà chạy. Chạy thế nào lại đụng ngay phải Trương Phi. Ðại toan quay ngựa, nhưng Phi đã sấn tới, chỉ vung xà mâu có một hiệp là bắt sống được Ðại. Quân Ðại xin hàng hết, Phi sai người về Từ Châu trước báo tin thắng trận

Huyền Ðức hay được tin ấy, mừng rỡ bảo Vân Trường rằng:

– Tam đệ bấy lâu nay tính tình nóng nảy, nay lại có mưu lược như vậy thật ta hết lo rồi.

Nói rồi liền sai quân ra ngoài thành đón rước. Khi điệu Lưu Ðại về, trông thấy Huyền Ðức, Trương Phi đắc chí vểnh râu lên nói:

– Bấy lâu nay đại ca chê em lỗ mãng, nay thấy thế nào?

Huyền Ðức cười đáp:

– Nếu anh không nói khích, em đâu chịu dùng mưu!

Phi sung sướng cười ha hả, rồi sai dẫn Lưu Ðại tới. Khi quân sĩ giải Lưu Ðại tới, Huyền Ðức vội xuống ngựa, đến mở trói cho Lưu Ðại mà tạ rằng:

– Tiểu đệ Trương Phi trót mạo phạm, xin Lưu công tha tội cho!

Bèn mời vào thành, lại truyền thả Vương Trung ra, cùng bày tiệc thết đãi cả hai tử tế.

Huyền Ðức lại nói với hai tướng ấy:

– Trước đây Xa Trụ vì mưu hại Bị này, nên không thể không giết. Thừa tướng lại ngờ Bị này bội phản nên cử hai Tướng quân đến đây vấn tội. Bị đã chịu ơn lớn của Thừa Tướng, những mong báo đáp, có đâu dám làm phản. Mong rằng hai Tướng quân về Hứa Ðô, sẽ lựa lời phân biện khéo léo giúp cho, thì may cho Bị lắm.

Lưu Ðại, Vương Trung cùng nói:

– Ðội ơn sâu Sứ quân không giết, vậy khi về cửa Thừa Tướng chúng tôi xin hết sức tìm lời phân biện. Xin Sứ quân cứ an dạ, chúng tôi nguyện đem hết gia quyến ra bảo lãnh việc ấy.

Huyền Ðức tạ ơn. Hôm sau, Huyền Ðức đem hết binh mã của hai tướng ra trao trả, rồi tiễn ra khỏi thành.

Lưu Ðại và Vương Trung đi chưa quá mười dặm, bỗng nghe một hồi trống nổi lên, Trương Phi cầm xà mâu chặn ngang đường thét lớn:

– Anh ta sao lạ thế này? Ðã bắt được tướng giặc sao lại thả?

Tiếng thét như sấm khiến Lưu Ðại, Vương Trung ngồi trên ngựa run bắn người.

Trương Phi trợn mắt tròn xoe, cầm xà mâu sấn tới, nhưng đã có người phi ngựa đến sau lưng kêu lớn:

– Em không được vô lễ!

Thì ra là Quan Vân Trường. Vương, Lưu hai tướng mới hết sợ. Vân Trường bảo Trương Phi:

– Huynh trưởng đã tha, sao em không tuân pháp lệnh?

Trương Phi hỏi lại:

– Lần này tha cho, ngày khác chúng lại đến thì sao?

Vân Trường đáp:

– Ðợi đến lần nữa thì sẽ giết cũng chưa muộn mà!

Lưu, Vương luôn miệng nói:

– Phen này về Hứa Ðô, dù Thừa Tướng giết cả ba họ, chúng tôi cũng đành chịu, quyết không đến đây nữa! Xin Tướng quân tha cho.

Trương Phi trợn mắt nói lớn:

– Cho cả thằng Tào Tháo đem xác tới đây nữa, ta cũng đánh cho không còn mảnh giáp. Thôi hãy gửi tạm hai cái đầu các ngươi đó!

Lưu Ðại, Vương Trung ôm đầu lủi thủi thúc ngựa chạy về.

Sau đó, Huyền Ðức đòi chư tướng đến nghị việc. Vân Trường nói:

– Tào Tháo thế nào cũng đến đây.

Tôn Càn nói:

– Từ Châu là đất trống trải, không nên ở lâu. Chi bằng chia binh ra đóng Tiểu Bái và giữ Hạ Bì, làm thế ỷ dốc mới mong chống được binh Tào.

Huyền Ðức nghe theo, liền sai Vân Trương ra giữ Hạ Bì, đưa Cam, My hai vị phu nhân ra đó. Nguyên Cam phu nhân vốn người Tiểu Bái, còn My phu nhân là em gái My Trúc. Tôn Càn, Giản Ung, My Trúc, My Phương thì giữ Từ Châu. Huyền Ðức cùng Trương Phi ra đóng binh nơi Tiểu Bái.

Còn Lưu Ðại, Vương Trung về đến Hứa đô ra mắt Tào Tháo, nói quyết rằng:

– Lưu Bị không có ý bội phản.

Tháo nổi giận liền mắng:

– Ðồ vô dụng, làm nhục quốc thể, còn để chúng mày làm gì?

Mắng rồi, thét tả hữu lôi hai tướng ra chém.

Ðó là:

Chó, lợn dám tranh cùng hổ mạnh?
Cá, tôm sao chọi được rồng thiêng?

——————————–

1 Nguyên văn: “Hồ vi hồ nê trung?” (Kinh Thi)
2 Nguyên văn: “Bạc ngôn vãng tố, phùng bỉ chi nộ!” (Kinh Thi)
3 Tức là Chu Bột
4 Tức là Lưu Chương
5 Tức là Hán Văn Ðế
6 “Mạc phủ” là lời Viên Thiệu tự xưng
7 Hồi Tào Tháo đi đánh Từ Châu báo thù cha, có sai quân quật mồ mả bá tánh Từ Châu, trong số này có cả lăng mộ Lương Hiếu Vương
8 Trung Hoàng, Hạ Dục, và Ô Hoạch là những đại lực sĩ thời cổ
9 Cháu của Thiệu là Cao Cán làm Thứ Sử Tinh Châu. Con trưởng của Thiệu là Viên Ðàm đóng giữ Thanh Châu
10 Con thứ của Thiệu là Viên Hy đóng giữ U Châu<
11 Kiến Trung tướng quân tức là Trương Tú

Hồi Thứ Hai Mươi Ba

Nễ Danh Sĩ Lõa Thân Mắng Quốc Tặc
Cát Thái Y Đầu Độc Chịu Thảm Hình

Nhắc lại Tào Tháo nổi giận thét chém Lưu Ðại, Vương Trung, thì Khổng Dung can:

– Hai tướng ấy đâu phải là đối thủ của Lưu Bị, nếu chém đi e mất lòng tướng sĩ.

Tào Tháo nghe lời, tha hai người ấy, nhưng cách hết chức tước, rồi muốn tự khởi binh đi đánh Huyền Ðức.

Khổng Dung lại can:

– Hiện nay tiết đông thiên, khí trời đang lạnh, hãy đợi sang xuân cũng chẳng muộn. Nay phải sai người chiêu an bọn Trương Tú và Lưu Biểu, rồi sẽ liệu việc sang đánh Từ châu.

Tào Tháo y lời, liền sai Lưu Hoa tới thuyết Trương Tú. Lưu Hoa đến Tương thành ra mắt Giả Hủ trước, kể rõ thịnh đức của Tào Tháo.

Hủ bèn lưu Hoa ở trong nhà.

Hôm sau vào ra mắt Trương Tú, Giả Hủ kể lại việc Tào Tháo sai Lưu Hoa đến chiêu hàng.

Hai người còn đang bàn bạc bỗng lại có tin báo:

– Có sứ của Viên Thiệu đến.

Trương Tú cho mời vào.

Sứ giả trình thư lên.

Tú xem qua, thấy cũng có ý chiêu dụ.

Giả Hủ lại hỏi sứ giả:

– Viên công xuất binh đánh Tào Tháo, thắng bại ra sao?

Sứ giả đáp:

– Gặp tiết đông lạnh lẽo phải tạm bãi binh. Nay chúa tôi thấy Tướng quân cùng Kinh châu Lưu Cảnh Thăng đều là quốc sĩ, nên mới sai tôi đến đây ra mắt.

Giả Hủ bỗng cười rộ, bảo sứ giả:

– Ngươi nên trở về gặp Viên Bản Sơ và nói giùm rằng: “Ðến anh em máu mủ còn chẳng dung được nhau, nói chi chuyện bao dung quốc sĩ thiên hạ?”

Rồi xé nát lá thư ngay trước mặt, và thét đuổi sứ giả.

Trương Tú áy náy hỏi:

– Hiện Viên Thiệu đang mạnh, Tào Tháo đang yếu. Nay xé thư đuổi sứ, nếu Thiệu đem quân đến thì làm thế nào?

Giả Hủ nói:

– Viên Thiệu đanh mạnh song binh sĩ bất hòa, ắt bại trận, chi bằng ta theo Tào Tháo là hơn!

Trương Tú hỏi:

– Tào Tháo có mối thù với ta, dung nhau sao được?

Giả Hủ đáp:

– Theo Tào Tháo thì được ba điều lợi: Tháo vâng chiếu Thiên Tử chinh phạt bốn phương, danh chính ngôn thuận, đó là một điều lợi. Thiệu đang mạnh, ta đem sức yếu tới theo, ắt không coi trọng ta. Tháo đang yếu thế, được ta theo ắt mừng, đó là hai điều lợi. Tào công có chí lớn như Ngũ Bá, ắt quên thù riêng để nêu cao đức độ với bốn bể, đó là ba điều lợi. Mong Tướng quân đừng nghi ngại gì nữa.

Trương Tú nghe lời, sai mời Lưu Hoa đến thết đãi ân cần.

Lưu Hoa hết lời ca tụng đức hiền của Tào Tháo, lại nói:

– Nếu Thừa Tướng còn nghĩ đến thù xưa, thì đâu có sai tôi đến đây thỉnh Tướng quân?

Trương Tú mừng rỡ, liền hiệp với bọn Giả Hủ theo Lưu Hoa về Hứa Ðô ra mắt Tào Tháo.

Tào Tháo hay được tin, lập tức truyền quân sĩ mời vào.

Trương Tú lạy dưới thềm. Tháo vội đỡ dậy, cầm tay an ủi:

– Thôi, ta có chút lỗi nhỏ, đừng để bụng nhé!

Rồi phong Tú làm Dương Vũ tướng quân, phong Giả Hủ làm Chấp Kim Ngô Sứ.

Tháo lại bảo Trương Tú viết thư dụ hàng Lưu Biểu.

Giả Hủ tiến ra nói rằng:

– Lưu Kiển Thăng tánh hay kết nạp những người danh tiếng, vậy phải chọn một người danh sĩ nổi tiếng đến thuyết phục, mới có thể chiêu hàng được.

Tào Tháo hỏi Tuân Du:

– Cử ai đi cho được?

Tuân Du nói:

– Khổng Văn Cử có thể đảm đang được việc này.

Tào Tháo cho là phải.

Tuân Du ra về, đi tìm gặp Khổng Dung và nói:

– Thừa tướng hiện cần một danh sĩ có văn tài để đi thuyết hàng. Ông có thể đảm đang được chứ?

Khổng Dung nói:

– Hiện ở đây có một danh sĩ anh tuấn là Nễ Hành, tự là Chính Bình, tài giỏi gấp mười tôi. Người này đáng mặt cận thần, không những chỉ làm sứ giả mà thôi, thật xứng đáng kề bên ngai rồng. Ðể tôi tiến cử lên Thiên tử mới được.

Liền viết biểu dâng lên Hiến Ðế.

Tờ biểu như sau:

Thần trộm nghe: Ơn cửu ngũ như nước hồng thủy tràn lan bốn phương, khiến thiên hạ yên bình, cầu khắp bốn phương để chiêu mộ hiền tài. Xưa đức Thế Tông 1 kế thống, mở mang cơ nghiệp, nhìn rộng thấy xa, khắp nơi kẻ sĩ nức lòng tìm đến.

Nay, Bệ hạ là đấng Duệ thánh, lên nối cư tự, gặp vận long đong, nhân tài đã ít, những nhân tài mỗi lúc già nua. May thay! Khí thiêng sông núi đúc kết, non Nhạc giáng thần, dị nhân xuất hiện.

Thần trộm thấy đất Bình nguyên có người xử sĩ họ Nễ tên Hành, tự là Chính Bình, hai mươi bốn tuổi, tư chất nhân hòa, tâm linh rạng rỡ, anh tài trác lạc, học rộng tài cao. Thăng đường xem việc, hiểu được sâu xa, liếc mắt nhìn qua, miệng đã lầu thuộc, tai nghe vừa lọt, đã nhớ nhập tâm. Tính tình hợp đạo, thiên tư có thần. Kỳ tài Hoằng Dương 2, thần trí An Thế 3, nếu so với Hành, chẳng có gì lạ. Lòng trung quả cảm, ham điều thuận như soi gương, ghét điều ác như thù địch. Nết cao thượng Nhâm Tòa 4, tiết tháo sắc son Sử Ngư cũng không bì kịp.

Thần trộm nghĩ: “Ðàn diều quạ trăm con, không bằng một con chim ngạc 5” Nếu có Hành đứng trong triều, thì việc sáng như gương. Tài hùng biện thao thao, chính khí vun vút. Giải điều nghi, gỡ mối rối, dư tài chế biến phò nguy.

Xưa, Giả Nghị đi tuần thuộc quốc, quở trách Thiền Vu, Chung Quân 6 trẻ măng mà khiên chế nước Việt mạnh, tuổi nhỏ mà khẳng khái, đời trước ngợi khen.

Gần đây, Lô Túy, Nghiêm Tượng cũng nhờ kỳ tài được tiến cử tới tòa Thượng thư. Nễ Hành đáng sánh với kỳ tài ấy. Nếu rồng được vươn tới cửa trời, giương cánh trên sông Ngân, lên tiếng ở tòa Tử vi, tỏa ánh sáng rực rỡ cầu vòng… thì đủ hấp dẫn khắp kẻ sĩ ở gần đại thự, làm rạng uy nghiêm bốn cửa, khiến khắp trời hòa vui, ắt được vẻ đẹp huy hoàng. Nơi Ðế thất, Hoàng cư sẽ súc tích được của báu phi thường vậy. Những người như Nễ Hành không thể có nhiều.

Thần trộm nghĩ: “Nghe bản đàn hay như khúc Dương A, thấy lời ca đẹp như thiên Khích Sở, thì người mộ tài phải ham. Thấy ngựa thần Phi thố, Yểu niểu 7 tung gió phi nhanh thì Lương, Nhạc 8 phải thích”.

Lũ thần chăm chú lo việc, đâu dám quên rằng bệ hạ để tâm lo tìm kẻ sĩ, ắt phải thử tài. Vậy xin lượng thánh cho Nễ Hành áo vải vào chầu. Nếu mà chẳng ra gì, lũ thần cam chịu tội khi quân trước bệ.

Vua xem tờ biểu xong, giao cho Tào Tháo.

Tháo sai người triệu Nễ Hành tới. Nễ Hành vào lễ xong, Tào Tháo lờ đi không mời ngồi, Nễ Hành ngước mặt lên than:

– Than ôi! Trời đất rộng thế này sao không có lấy một người?

Tào Tháo nói:

– Thủ hạ ta có cả mấy mươi người đều là anh hùng đời nay, sao ngươi nói không có người?

Nễ Hành hỏi:

– Những người ấy là ai? Xin nói cho nghe?

Tào Tháo nói:

– Này là Tuân Húc, Tuân Du, Quách Gia, Trình Dục… cơ thâm trí viễn, dẫu Tiêu Hà, Trần Bình cũng chưa kịp. Trương Liêu, Hứa Chữ, L ý Ðiển, Nhạc Tiến… sức khoẻ vô địch, dẫu Sầm Bành, Mã Vũ cũng không bằng. Chức Tùng sự như Lữ Kiền, Mãng Sủng; tướng Tiên phong như Vu Cấm, Từ Hoảng đều lỗi lạc hơn người. Hạ Hầu Ðôn lừng danh là phúc tướng thế gian, Tào Nhân nổi tiếng là kỳ tài trong thiên hạ. Sao dám nói là không người?

Nễ Hành cười lớn nói:

– Ông nói sai rồi. Mấy nhân vật này, tôi biết rõ lắm: như Tuân Húc thì có thể sai đi điếu tang thăm bệnh, Tuân Du có thể dùng giử mả canh mồ, Trình Dục có thể coi nhà giữ cửa, Quách Gia có thể sai đọc văn ngâm thơ, Trương Liêu thì đánh chuông đánh trống, Hứa Chử có thể giữ ngựa chăn trâu, Nhạc Tiến thì nên sai đọc chiếu đọc trớng, Lý Ðiển có thể sai đi truyền hịch tống thư, Lã Kiền biết mài dao đúc kiếm, Mãn Sủng có tài uống rượu ăn tấm, Vu Cấm có thể sai vác gạch xây tường, Từ Hoảng nên sai mổ lợn giết chó! Hạ Hầu Ðôn có thể gọi là “Tướng quân hoàn thể” và đến như Tào Nhân đật đáng mặt “Thái thú vòi tiền”. Ngoài ra đều là hạng giá áo túi cơm, lọ rượu bị thịt hết mà thôi!

Tào Tháo vặn hỏi:

– Còn ngươi có tài gì?

Hành nói ngay:

– Thiên văn, địa lý, không gì không biết. Tam giáo, cửu lưu, không gì không tường. Trên có thể giúp vua được như Nghiêu, Thuấn, dưới có thể sánh với đức Khổng, thầy Nhan, há thèm nghị luận với bầy tục tử sao?

Trương Liêu nghe nói, nổi giận toan rút gươm chém Hành.

Tháo đưa mắt ngăn lại, rồi nói:

– Ta đang thiếu một chức Cổ Lại để sớm tối đánh trống hầu những buổi Triều hạ, yến hưởng. Vậy ngươi hãy giữ chức này.

Hành không từ chối, nhận lời ngay rồi bước ra ngoài.

Trương Liêu hỏi Tháo:

– Tên ấy ăn nói ngạo mạn, sao Thừa Tướng không giết đi?

Tháo nói:

– Vì nó vốn có cái hư danh xa gần đồn đại. Nếu giết nó, thiên hạ sẽ bảo ta hẹp lượng không dung được người. Nó đã cậy mình tài giỏi, thì ta sai làm tên đánh trống cho mà nhục!

Hôm sau, Tào Tháo mở yến tiệc để thết tân khách, rồi sai Nễ Hành ra đánh trống.

Nễ Hành bước ra, tên đánh trống cũ bảo Hành rằng:

– Ðánh trống thì phải mặc áo mới vào!

Hành không thèm nghe, cứ mặc áo cũ mà vào, xắn tay đánh ba hồi trống nhịp Ngư dương, âm tiết tuyệt diệu, nghe văng vẳng như có tiếng đá, tiếng vàng ngân theo ai oán. Khách trên tiệc nghe qua, không khỏi bùi ngùi rơi lệ.

Bỗng tả hữu quát nạt Hành:

– Sao không thay áo?

Hành bèn cởi áo, tụt quần trước bàn tiệc, đứng lõa thể trơ trơ như con nhộng, chẳng che đậy gì hết. Trên tiệc, kẻ lấy tay che mặt, người vội vã quay đi. Bấy giờ Hành mới từ từ cúi xuống kéo quần lên, sắc mặt thản nhiên, không hề thay đổi.

Tháo quát mắng:

– Trên chỗ miếu đường, sao mi quá vô lễ?

Hành mắng lại:

– Dối trên lừa dưới mới là vô lễ! Chớ ta để lộ cả thân hình thanh bạch của cha mẹ sinh ra, sao gọi là vô lễ được?

Tháo vặn hỏi:

– Ngươi xưng là thanh bạch, thế ai là nhơ bẩn?

Hành đáp:

– Mày nhơ bẩn chứ ai! Mày không thấy rõ kẻ hiền người ngu là mắt bẩn; không đọc Thi, Thư là miệng bẩn; không nghe lời phải là tai bẩn, không thông chuyện cổ kim là thân bẩn; không dung chư hầu là bụng bẩn; thường nghĩ mưu soán nghịch là tim bẩn! Như ta là danh sĩ thiên hạ mà mày lại dùng làm tên đánh trống, thì cũng giống như Dương Hóa khinh đức Trọng Ni 9, Tang Thương dèm thầy Mạnh Tử. Mày muốn gây nghiệp vương bá mà lại khinh người thế này à?

Bây giờ Khổng Dung ngồi trên tiệc, sợ Tháo giết mất Nễ Hành bèn khoan thai nói:

– Nễ Hành tội đáng làm thằng tù không đủ để Minh công trông đến.

Tháo trỏ mặt Hành mà bảo:

– Nay ta sai ngươi đi sứ qua Kinh châu, nếu thuyết được Lưu Biểu về hàng, sẽ được chức Công khanh.

Hành không chịu đi.

Tháo bắt đóng yên ba con ngựa, sai hai người áp hai bên, bế xốc Hành lên lôi đi.

Lại bảo bọn văn võ tay sai đem rượu ra cửa Ðông môn tống tiễn.

Khi ra chờ ngoài thành, Tuân Húc dặn đồng bọn rằng:

– Khi Nễ Hành t ới, cứ ngồi im, đừng ai đứng dậy nhé!

Hành đến nơi, xuống ngựa bước vào.

Bọn Tuân Húc ngồi lặng thinh, Hành bèn ngả người khóc rống lên.

Tuân Húc hỏi:

– Vì sao mà khóc?

Hành nói:

– Ôi chao! Vào chỗ cái quan tài người chết, không khóc sao được?

Cả bọn cùng nói:

– Bọn ta là thây ma, thì mày là thằng cuồng quỷ không đầu!

Hành ngạo nghễ:

– Tao là bề tôi nhà Hán, không thuộc đảng thằng Tào Man, sao lại không có đầu.

Bọn chúng muốn giết đi, Tuân Húc vội ngăn lại:

– Ðồ chim sẻ chuột đồng ấy, giết làm gì cho bẩn đao?

Hành mắng lại:

– Tao là chim chuột, còn có tính chất người. Chứ tụi chúng bay chỉ là giun dế, sâu bọ hết!

Bọn chúng tức giận, liền đứng lên giải tán.

Nễ Hành đến Kinh châu ra mắt Lưu Biểu, miệng tuy ca tụng tài đức mà lời vẫn ngụ ý chê bai, châm biếm.

Lưu Biểu mất lòng nhưng không nói ra, chỉ sai Hành đến Giang hạ để ra mắt Hoàng Tổ.

Có người hỏi Biểu:

– Nễ Hành xấc láo với cả Chúa công, sao không giết đi?

Lưu Biểu nói:

– Nễ Hành lăng nhục Tào Tháo biết bao nhiêu, Tháo không giết là sợ mất lòng người. Nay sai đến đây, ý muốn mượn tay ta giết giùm, để ta mang tiếng hại người hiền ấy. Vậy ta sai Hành sang gặp Hoàng Tổ, để Tháo biết rằng ta không phải là kẻ khờ!

Mọi người đều phục là cao kiến.

Lúc ấy lại có sứ của Viên Thiệu sai đến chiêu an Lưu Biểu.

Lưu Biểu liền hỏi Hàn Tung:

– Hai bên đang đối địch, lại đều sai sứ đến đây chiêu an. Vậy ta nên theo bên nào?

Hàn Tung thưa:

– Nay hai bên đang xích mích với nhau. Nếu Tướng quân muốn nên việc lớn thì phải cử quân đi đánh mới mong thành công được. Nay Tào Tháo giỏi dùng binh, người hiền tuấn về theo rất nhiều. Thế tất phải diệt Viên Thiệu trước, rồi kéo quân xuống Giang Ðông. Lúc bấy giờ e Tướng quân không ngăn nổi. Chi bằng đem Kinh châu này về đầu Tháo. Tháo ắt trọng đãi Tướng quân.

Lưu Biểu nói:

– Ngươi hãy đến Hứa Ðô xem động tĩnh thế nào rồi về đây sẽ bàn lại.

Tung nói:

– Chúa, tôi, ai có phận nấy. Nay Tung thờ Tướng quân, dù bắt vào chỗ nước sôi, lửa bỏng cũng xin vâng mệnh. Nhưng Tướng quân hãy xét mình, nếu có thể trên thờ Thiên tử, dưới thuận Tào công thì hãy sai tôi đi. Nếu còn trì nghi chưa quyết, một khi đến kinh sư, Vua phong cho một chức quan thì Tung sẽ thành bề tôi Thiên tử, không còn được tận tụy sống chết vì Tướng quân nữa!

Nhưng Biểu vẫn nói:

– Ngươi hãy cứ đi một chuyến xem thế nào? Ta đã có chủ ỳ.

Tung bèn từ biệt Biểu, đến Hứa đô, vào ra mắt Tháo.

Tháo phong ngay Tung làm Thị Trung kiêm lĩnh Linh Lăng Thái Thú.

Tuân Húc hỏi nhỏ Tháo:

– Hàn Tung tới đây chỉ có ý dò động tĩnh, chưa chút công lao, sao Thừa tướng lại phong cho chức trọng? Nễ Hành ra đi cũng chưa có tin gì về. Sao Thừa Tướng không hỏi xem đã?

Tháo nói:

– Nễ Hành làm nhục ta thái quá, nên ta mượn tay Lưu Biểu giết đi. Còn hỏi đến nó làm gì?

Bèn sai Hàn Tung trở về thuyết Lưu Biểu.

Tung về đến Kinh châu, ra mắt Biểu, xưng tụng thịnh đức triều đình và khuyên Biểu vào chầu.

Biểu nổi giận mắng:

– Ạ! Mày dám hai lòng như thế sao?

Rồi toan chém.

Tung kêu lớn lên rằng:

– Tự Tướng quân phụ tôi, chứ tôi đâu dám phụ Tướng quân!

Khoái Lương khuyên giải:

– Lúc chưa ra đi, Tung đã nói trước như thế rồi.

Biểu mới tha cho Tung.

Bỗng có người vào báo:

– Hoàng Tổ đã chém Nễ Hành rồi.

Lưu Biểu hỏi:

– Vì cớ gì?

Người ấy đáp:

– Hôm ấy Hoàng Tổ uống rượu với Nễ Hành, cả hai cùng say.

Tổ hỏi Hành: “Ông ở Hứa Ðô, có thấy nhân vật nào đáng kể không?”.

Hành đáp: “Có thằng Cu lớn Khổng Văn Cử với thằng Cu nhỏ Dương Ðức Tổ là tạm được. Ngoài hai tên ấy, chẳng có nhân vật nào nữa!”

Tổ lại hỏi: “Như ta đây thế nào?”

Hành đáp: “Ông như vị thần trong miếu, tuy hưởng đồ cúng tế, mà chẳng linh thiêng chút nào!”

Tổ đùng đùng nổi giận: “Ạ! Mày dám bảo tao là hạng người gỗ, tượng đất à!”

Rồi sai chém đầu. Hành đến chết vẫn chửi Hoàng Tổ không ngớt miệng.

Lưu Biểu nghe nói than tiếc vô cùng, sai người đem chôn Nễ Hành nơi sông Anh vũ 10.

Người sau có thơ rằng:

Hoàng Tổ vô tài, mắt thiếu ngươi,

Nễ Hành vong mạng, hận muôn đời.

Ðến nay qua bãi sông Anh Vũ,

Chỉ thấy vô tình ngọn nước trôi.

Nói về Tào Tháo ở Hứa Ðô, nghe tin Nễ Hành bị hại, thì cười rằng:

– Ðồ hủ nho múa gươm lưỡi! Nay lưỡi mình lại giết mình nhé!

Nhân Tháo chờ mãi không thấy Lưu Biểu về hàng, nên muốn hưng binh vấn tội.

Tuân Húc can rằng:

– Viên Thiệu còn chưa trừ được, Lưu Bị chưa dẹp được mà muốn phát binh ra đánh Giang Hán thì cũng như bỏ cái lớn, lo cái nhỏ. Nay phải trừ cho được Viên Thiệu, sau dẹp Lưu Bị đã, miệt Giang Hán lo chi không trừ được.

Tào Tháo gật đầu khen phải, gác việc đánh Lưu Biểu lại.

Còn Ðổng Thừa từ ngày Huyền Ðức đi rồi, ngày đêm cùng Vương Tử Phục lo liệu và nghị kế. Nhưng lo mãi mà chẳng được kế gì cả.

Năm Kiến an thứ năm, gặp tiết Nguyên đán 11, các quan vào chầu mừng vua, Ðổng Thừa thấy Tháo càng kiêu hãnh, hoành hành hơn trước, thì tức giận đến cảm thành bệnh.

Vua hay tin quốc cựu lâm bệnh, liền sai ngay quan Thái y là Cát Bình đến phủ Ðổng Thừa chữa thuốc.

Quan Thái y này vốn là người Lạc Dương, họ Cát tên Thái, tự là Xứng Bình, người đời vẫn gọi ông là Cát Bình, chính là một thầy thuốc nổi tiếng thời ấy.

Cát Bình đến phủ Ðổng Thừa đem thuốc điều trị, sớm tối không rời bên giường bệnh, thường thấy Thừa thở ngắn than dài mà không dám hỏi.

Một hôm, nhằm tiết Nguyên tiêu 12, Bình cáo từ xin về, nhưng Thừa giữ lại cùng uống rượu.

Hai bên đối ẩm tới canh khuya, Thừa mệt mỏi quá, mặc cả áo dài mà ngủ.

Bỗng có tin báo Tử Phục bốn người đến.

Thừa vội ra đón vào, Phục hớn hở nói:

– Việc lớn phải xong.

Thừa hỏi:

– Xin nói cho tôi nghe thử.

Tử Phục nói:

– Lưu Biểu đã kết liên với Viên Thiệu, hai nhà hưng binh hơn năm mươi vạn, chia thành mười đường đánh tới.

Mã Ðằng thì hợp cùng Hàn Toại, kéo bảy mươi hai vạn quân Tây Lương từ phía Bắc đánh xuống.

Tào Tháo đã khởi hết binh mã Hứa Xương, chia đi hai đầu nghênh địch.

Hiện trong thành bỏ trống.

Nếu chúng ta nhóm hết tôi tớ, gia đinh trong nhà cũng hơn ngàn người, nội đêm nay thừa lúc trong phủ Tháo có đại yến mừng Nguyên tiêu, ta hãy bổ vây bốn mặt, rồi xông vào giết nó đi là xong! Không nên bỏ lỡ cơ hội này!

Ðổng Thừa nghe nói mừng rỡ, liền hội hết người nhà sửa soạn binh khí, rồi mặc giáp, cầm thương, lên ngựa, hẹn hội quân ở Nội môn, để cùng tiến vào Tướng phủ.

Ðêm ấy, vào canh một, quân năm nhà cùng kéo vào, Ðổng Thừa tay cầm bảo kiếm, đi bộ thẳng vào, thấy Tháo đang ăn yến ở hậu đường, liền thét lớn:

– Tào tặc! Mi đến ngày phải đền tội!

Nói rồi liền xông tới chém Tào Tháo đứt làm hai đoạn.

Thừa sướng quá, bỗng… mở choàng mắt dậy. Thì ra đó chỉ là giấc mộng. Miệng còn lào thào mắng: “Tào tặc! Tào tặc!” chưa dứt.

Bấy giờ Cát Bình mới lay dậy, hỏi rằng:

– Quốc cựu muốn giết Tào công phải không?

Thừa sợ hãi, không biết nói sao?

Cát Bình lại nói:

– Quốc cựu đừng sợ. Tôi tuy chỉ là một thầy lang, nhưng vẫn không hề quên nhà Hán. Ðã mấy lần thấy Quốc cựu thở dài não ruột, tôi chưa dám hỏi. Vừa đây nghe lời nói trong giấc mơ, mới biết rõ chân tình. Vậy xin chớ dấu nhau. Nếu Quốc cựu dùng được tôi vào việc gì, thì dẫu chết cả chín họ, tôi cũng không oán hận.

Thừa che mặt, khóc rằng:

– Chỉ sợ ông không thực lòng thôi!

Cát Bình đưa tay lên miệng, cắn đứt một ngón tay mà thề.

Bấy giờ, Thừa mới đem tờ “Y đái chiếu” ra cho Bình xem rồi nói:

– Nay mưu việc chưa xong, là vì Lưu Huyền Ðức cùng Mã Thọ Thành đều đi khỏi. Tôi vô kế khả thi, lo nghĩ mà thành bệnh vậy.

Cát Bình nói:

– Các ông khỏi cần lao tâm mệt sức. Tánh mạng của Tào tặc ở trong tay tôi rồị

Thừa hỏi mưu kế thế nào, Bình cho biết:

– Tào tặc vốn có chứng nhức đầu, đau vào tại cốt tủy. Mỗi lần đau là mỗi lần triệu tôi vào bốc thuốc uống. Vậy nếu nay mai nó triệu nữa, tôi chỉ việc cho một liều độc dược là nó chết ngay. Hà tất phải dùng đến binh đao?

Ðổng Thừa cả mừng:

– Nếu được như vậy thì xã tắc của nhà Hán thật là nhờ tay ông vậy.

Cát Bình cáo từ ra về.

Ðêm ấy Thừa lòng mừng rỡ khôn cùng, liền ra vườn thưởng nguyệt.

Bỗng gặp đứa gia nô là Tần Khánh Ðồng đang tư tình với con thị nữ Vân Anh, cười rúc rích trong bóng tối, Thừa nổi giận, thét tả hữu bắt hai đứa đem chém.

Nhưng Ðổng phu nhân động lòng thương hại xin tha cho chúng.

Thừa nể lời vợ mới sai đánh mỗi đứa bốn chục roi rồi đem Tần Khánh Ðồng giam vào lãnh phòng.

Ðêm ấy, Tần Khánh Ðồng căm tức, nửa đêm bẻ gẫy khóa sắt, trèo tường trốn ra, rồi chạy thẳng tới phủ Tào Tháo, xin báo việc cơ mật.

Tháo sai gọi vào nhà kín hỏi. Khánh Ðồng thưa:

– Bẩm Thừa tướng, bọn Vương Tử Phục, Ngô Tử Lan, Sùng Tập, Ngô Thạc và Mã Ðằng, năm người thường vào phủ của chủ con bàn kín với nhau, chắc là mưu hại Thừa tướng.

Con thấy chủ con đem ra một bức lụa trắng, không biết có những chữ gì?

Ngày hôm qua, Cát Bình lại cắn ngón tay ăn thề. Chính mắt con thấy rõ như thế.

Tào Tháo nghe qua, liền giấu Khánh Ðồng vào trong phủ.

Còn Ðổng Thừa thấy Khánh Ðồng bỏ trốn tưởng đã đi mất rồi, cũng không truy tầm nữa.

Hôm sau, Tào Tháo lại giả đau đầu, triệu Cát Bình vào để bốc thuốc.

Cát Bình nghĩ thầm:

– Thằng phản tặc này tận số rồi.

Bèn ngầm giắt thuốc độc bên mình, vào phủ thăm bệnh Tháo.

Bấy giờ Tháo nằm trên giường, bảo Bình kê đơn.

Bình xem qua mạc, rồi nói:

– Bệnh này uống chừng một thang thì khỏi.

Rồi bảo đem siêu thuốc ra, sắc ngay trước mặt Tháo.

Khi thuốc đã cạn, còn một nửa, Bình mới lén bỏ thuốc độc vào siêu.

Ðoạn rót ra bát, tự tay nâhng lên dâng Tháo.

Tháo đoánbiết trong thuốc có độc, cố ý chậm chớp không uống vội.

Bình giục:

– Xin Thừa Tướng uống nóng, cho mồ hôi rỉ ra thì khỏi ngay.

Bỗng Tháo ngồi dậy, nói:

– Ngươi đã đọc Nho thư, ắt hiểu lễ nghĩa: phàm Vua có bệnh uống thuốc, thì bề tôi phải uống trước. Cha có bệnh uống thuốc, thì con phải nếm trước. Ngươi đã là tâm phúc của ta, sao không uống thử rồi hãy đưa?

Cát Bình biết việc đã bại lộ, liền cười nói:

– Ai có bệnh thì uống thuốc, hà tất phải nếm trước làm gì.

Nói rồi liền bưng chén thuốc sấn đến, nắm lấy tai Tháo dằn ngửa ra mà đổ vào.

Tào Tháo vung tay gạt chén thuốc rơi xuống.

Thuốc đổ đến đâu, gạch sủi bọt nứt nẻ tới đó.

Tháo chưa kịp ra lệnh, tả hữu đã sấn vào bắt giữ lấy Bình.

Tháo nói:

– Ta có bệnh gì đâu! Thử mày đấy thôi! Mày quả có bụng hại ta rồi!

Bèn gọi hai mươi tên ngục tốt khỏe mạnh, lôi Bình ra vườn sau tra khảo.

Tháo ngồi trên đình, sai trói Bình nằm dưới đất.

Sắc mặt Bình vẫn thản nhiên, không hề sợ hãi.

Tháo cười nói:

– Cái ngữ một tên làm thuốc như mày, đâu dám hạ độc ta! Ắc có đứa xúi giục. Vậy hãy khai đứa ấy ra, ta sẽ tha cho mày.

Bình mắng rằng:

– Mày là thằng giặc dối Vua lừa trên! Cả thiên hạ đều muốn giết, riêng gì một mình tao?

Tháo gặng hỏi ba, bốn lần nữa.

Bình càng giận:

– Chính ta tự ý giết mày, còn ai xúi ta nữa! Nay việc chẳng thành, chỉ còn một chết mà thôi.

Tháo căm giận, sai lính ngục đánh thật đau. Nhưng đánh đập suốt hai giờ đến nát da, xé thịt, máu chảy đầu đất mà Bình vẫn không khai.

Tháo sợ đánh quá tay chết Bình thì không còn người đối chứng, bèn sai ngục tốt khiên vào chỗ vắng, tạm để cho nghỉ.

Hôm sau, Tào Tháo lại truyền bày yến tiệc, rồi thỉnh hết các đại thần đến uống rượu. Các quan đều đến, duy có Ðổng Thừa cáo bệnh không đi.

Bọn Vương Tử Phục thì vẫn sợ Tháo sinh nghi, nên đều phải tới dự.

Ăn yến ở hậu đường, rượu được vài tuần, Tháo lên tiếng nói:

– Trong tiệc không có gì vui. Vậy ta có một người có thể giúp vui cho các quan, để ta bày cuộc này cho các quan thưởng thức.

Rồi gọi bọn ngục tốt:

– Ðiệu ra đây cho ta!

Chốt lát đã thấy Cát Bình cổ đeo cái gông thật lớn, bị lính điệu tới dưới thềm.

Tháo nói:

– Các quan chưa biết: tên này kết liên ác đảng, toan phản triều đình, mưu hại Tào mỗ. Nay thiết yến mời các quan đến, cùng nghe lời khai vậy.

Dứt lời liền sai quân đánh một trận, Bình đau quá ngất lăn ra đất.

Quân lính lấy nước phun vào mặt.

Bình dần dần tỉnh lại, trợn mắt nghiến răng mắng rằng:

– Tào tặc! Không giết ta đi, còn đợi tới bao giờ?

Tháo hỏi:

– Trước đã có sáu đứa đồng mưu. Ðến mày nữa là bảy, phải không?

Bình chỉ một mực mắng lớn.

Bọn Vương Tử Phục ngồi chết điếng, như ngồi trên bàn chông vậy. Tháo lại sai đánh, rồi lại phun nước, Bình ngất đi tỉnh lại mấy lần, mà không hề có ý xin khoan.

Tháo thấy Bình không chịu xưng, sai dẫn đi giam lại.

Mãn tiệc, các quan đều xin lui về hết.

Tào Tháo lại mời riêng bọn Tử Phục bốn người ở lại, nói rằng để dự… dạ yến.

Bọn Vương Tử Phục, hồn bay phách lạc, đành phải ở lại.

Tháo bảo bốn người:

– Vốn cũng không muốn giữ lại làm gì, ngặt vì có chuyện muốn hỏi: Chẳng hay bốn ông đã cùng Ðổng Thừa bàn tính việc gì?

Vương Tử Phục chối:

– Tịnh không bàn tính việc gì cả.

Tháo lại hỏi:

– Thế thì những chữ trong bức lụa trắng nói về việc gì?

Bọn Tử Phục đều giữ kín, cố chối.

Tháo bèn sai gọi Tần Khánh Ðồng ra đối chứng.

Tử Phục hỏi Ðồng:

– Mày ở đâu mà nhìn thấy?

Khánh Ðồng nói:

– Các ông giữ kín, không cho ai vào. Rồi sáu người ngồi trong nhà xúm lại viết ngầm với nhau. Còn chối sao được?

Tử Phục bảo Tháo:

– Thằng giặc này thông gian với thị nữ của Ðổng Quốc cựu, bị phạt tột nên thù mà vu cho chủ như thế, thật không nên nghe nó.

Tháo nói:

– Cát Bình hạ độc ta, không phải Ðổng Thừa sai nó thì ai xúi?

Bọn Tử Phục đều chối không biết, Tháo nói:

– Nội trong đêm nay hãy thú đi, còn có thể tha thứ. Nếu để sự thực phát ra, thì không thể dung được nữa!

Bọn Vương Tử Phục đều vẫn một hai chối rằng không có âm mưu ấy.

Tháo thét tả hữu đem bốn người giam lại.

Hôm sau, Tháo thân đem mọi người đến thẳng nhà Ðổng Thừa thăm bệnh.

Thừa phải ra nghinh tiếp.

Tháo hỏi:

– Chiều hôm qua sao Quốc cựu không đến dự yến?

Thừa nói:

– Tôi vì còn bệnh, không dám khinh xuất. Xin Thừa tướng lượng thứ cho.

Tháo cười mai mỉa:

– Ta biết đó là bệnh quốc gia phải không?

Thừa tỏ vẻ ngạc nhiên không hiểu.

Tháo hỏi:

– Quốc cựu đã biết việc Cát Bình chưa?

Ðổng Thừa đáp rằng không, Tháo cười nói:

– Lẽ nào Quốc cựu lại không biết!

Nói rồi, thét tả hữu:

– Ðiệu nó vào đây để Quốc cựu xem cho đỡ bệnh!

Thừa chết điếng người, chẳng còn biết làm sao.

Phút chốc, tên ngục tốt điệu Cát Bình tại dưới thềm.

Cát Bình lại gào thét lên, mắng Tháo là thằng nghịch tặc.

Tháo trỏ Bình bảo Thừa:

– Tên này khai ra bọn Vương Tử Phục bốn người. Ta đã sai bắt giao cho quan Ðình úy rồi. Chỉ còn một người chưa bắt được!

Rồi quay xuống hỏi Cát Bình:

– Ai sai mày bỏ thuốc độc hại ta? Mau khai ra lập tức!

Bình mắng lớn:

– Trời sai ta giết đứa nghịch thần đó!

Tháo nổi giận, lại sai đánh, khắp mình Bình không còn chỗ da thịt nào lành nữa. Thừa ngồi trên trông xuống, lòng đau như cắt.

Tháo lại hỏi Bình:

– Trước kia mày có đủ mười ngón tay, sao giờ chỉ còn chín?

Cát Bình đáp:

– Ta đã cắn đi để thề với trời đất quyết giết thằng quốc tặc là mày đó.

Tháo sai lấy dao, ghè tay Bình xuống thềm, chặt hết luôn chín ngón còn lại, rồi bảo:

– Chặt hết chín ngón tay này để mày có sức mà thề.

Bình chửi:

– Ta còn miệng để nuốt sống được tên phản tặc, còn lưỡi đây để chửi vào mặt tên phản tặc.

Tháo lại truyền xẻo lưỡi! Nhưng Bình kêu lên rằng:

– Chớ vội ra tay! Giờ ta đau quá rồi, không chịu hình được nữa. Ðể ta cung khai. Hãy cởi trói cho ta!

Tháo bèn sai mở trói. Bình đứng dậy, hướng về Cung khuyết, bái lạy mà tâu vọng vua rằng:

– Hạ thần không trừ được giặc cho nước, thật là tại số trời. Mong Thánh Hoàng hiểu thấu cho lòng này.

Tháo còn căm hận, sai phân thây Cát Bình làm lệnh. Bấy giờ là năm Kiến An thứ năm, tháng giêng.

Sử quan có thơ rằng:

Nhà Hán suy vi, khí sắc tàn,
Cát Bình làm thuốc cứu giang san.

Quyết thề một dạ phò vua yếu,

Hạ độc, liều thân giết tướng gian.

Dẫu chịu cực hình, luôn mắng giặc,

Cam đành thảm tử chẳng kêu than.

Hãi hùng mười ngón tay tuôn máu,

Rạng rỡ ngàn thu một lá gan…

Cát Bình đã chết.

Tháo lại gọi tả hữu dẫn Tần Khánh Ðồng đến trước mặt, rồi hỏi Ðổng Thừa:

– Quốc cựu có biết tên này không?

Thừa nổi giận nói:

– Thằng ở phản chủ bỏ trốn? Hãy giết ngay nó đi!

Tháo nói:

– Nó có công cáo giác bọn mưu phản, nay tới đây đối chứng. Ai dám giết nó?

Thừa nói:

– Khánh Ðồng là đứa tớ phản phúc, sao Thừa Tướng lới nghe lời vu cáo của nó?

Tháo hăm dọa:

– Ta đã tra hỏi bọn Tử Phục rồi. Ngươi còn chối cãi gì nữa?

Liền thét tả hữu bắt Ðổng Thừa, rồi sai vào thẳng phòng trong khám xét.

Chốc lát, bắt được tờ huyết chiếu và tờ nghĩa trạng.

Tháo xem xong, cười nói:

– Bọn chuột nhắt này lớn gan thật.

Lập tức sai bắt cả nhà Ðổng Thừa già trẻ trai gái giam lại, không để một người nào chạy thoát.

Tháo hầm hầm về phủ hội các mưu sĩ, đưa tờ huyết chiếu cho xem, tỏ ý muốn truất phế Hiến Ðế, lập vua khác.

Ðó chính là:

Mấy hàng chiếu máu thành hư vọng!
Một bức tiên thề rước khốn nguy… chư tướng, trù tính việc phế vua.

——————————–

1 Tức là Hán Vũ Ðế
2 Tang Hoằng Dương, người thời Hán Vũ Ðế
3 Trương An Thế, người thời Tuyên Ðế
4 Nhâm Tòa ở thời Ngụy Văn Hầu
5 Xưa gọi là chim “Thư cưu”
6 Chung Quân, người đời Hán Vũ Ðế, ở đất Tế Nam, làm quan Bác Sĩ rồi Gián Nghị Đại Phu, khiên chế được nước Việt. Khi chết mới hơn hai mươi tuổi. Người đời gọi là Chung Ðồng (kỳ đồng)
7 Sách “Lã thị Xuân Thu” chép rằng ngựa thần Phi thố mỗi ngày đi vạn dặm. Ngựa Yểu niểu mỗi ngày chạy một vạn tám ngàn dặm
8 Tức là Vương Lương và Bá Nhạc
9 Trọng Ni tức là Khổng Tử
10 Bãi này được mang tên “Anh vũ” là nguyên do trong một buổi tiệc uống rượu trên bãi này, Nễ Hành làm ra bài phú “Anh vũ”
11 Ngày một tháng giêng
12 Ngày rằm tháng giêng

Hồi Thứ Hai Mươi Bốn

Quốc Tặc Hành Hung Giết Quý Phi
Hoàng Thúc Thua Chạy Ðầu Viên Thiệu

Tào Tháo lấy được tờ huyết chiếu, liền thương nghị với bọn mưu sĩ muốn phế Hiến Ðế, chọn người có đức lập làm vua. Trình Dục can rằng:

– Minh công được oai lừng bốn bể ấy cũng nhờ lấy danh nghĩa của nhà Hán, nay nếu phế vua trong lúc bốn bể chưa bình ắt sanh họa lớn.

Tào Tháo lại thôi. Chỉ sai áp giải bọn Ðổng Thừa năm người cùng năm nhà già trẻ, trai gái ra các cửa xử trảm hết. Cộng tất cả hơn bảy trăm người phải rơi đầu. Quan, dân trong thành ai ai trông thấy đều sa nước mắt.

Người sau có thơ than Ðổng Thừa:

Chiếu lồng đai áo, gắng lo toan,
Gác vắng, vua, tôi lệ ứa tràn…
Nghĩ lại năm xưa từng cứu giá,
Cảm lòng ngày ấy được ban ân.
Say mê cứu nước, mang tâm bệnh,
Khao khát trừ gian, kết mộng hồn…
Thiên cổ treo cao gương nghĩa liệt,
Ngoài ra thành, bại… sá chi bàn?

Lại có thơ than bọn Vương Tử Phục rằng:

Một tờ lụa máu đã ghi tên,
Quân phụ tình thâm, phải báo đền.
Gan sắt dẫu tan trong chốc lát,
Lòng son rạng rỡ đến thiên niên

Giết hết gia quyến bọn Ðổng Thừa, Tào Tháo vẫn chưa hả giận.

Lại đeo gươm vào cung để giết Ðổng Quý phi. Quý phi là em gái Ðổng Thừa, được vua Hiến Ðế thương mến, hiện đang mang thai năm tháng.

Hôm ấy, vua đang ngồi trong hậu cung, cùng Phục Hoàng hậu bàn kín về việc Ðổng Thừa, lòng áy náy vì chưa được tin tức gì.

Bỗng thấy Tháo đeo gươm đột ngột bước vào, vẻ mặt hầm hầm.

Vua kinh hãi thất sắc.

Tháo hỏi:

– Ðổng Thừa mưu phản, Bệ hạ đã biết chưa?

Vua giả vờ hỏi lại:

– Ðổng Trác đã bị tru diệt rồi mà?

Tháo thét lạn:

– Không phải Ðổng Trác! Ðổng Thừa kia mà!

Vua run sợ nói:

– Quả thật Trẫm không biết.

Tháo hỏi mỉa:

– Mới cắn ngón tay ra viết chiếu, đã quên rồi ư?

Vua không biết trả lời ra sao nữa? Tháo thét võ sĩ bắt Ðổng Quý phi đem ra.

Hiến Ðế vội vàng kêu lên:

– Ðổng phi đã có thai năm tháng. Xin Thừa tướng thương tình…

Tháo trợn mắt nói:

– Không nhờ số trời, ắt tôi đã bị hại rồi! Há còn để người con gái này lại mà chuốc hậu hoạn sao?

Phục Hoàng hậu cũng kêu rằng:

– Xin giam vào lãnh cung, đợi cho sinh nở rồi hãy giết cũng chưa muộn!

Tháo không nghe, sẵng tiếng gắt:

– Còn muốn giở cái nòi phản nghịch ấy, để báo thù cho mẹ nó sao?

Bấy giờ, biết số mạng đã định, Ðổng phi sụt sùi khóc rằng:

– Xin cho được toàn thi thể mà chết. Ðừng bắt phơi thân lộ thể…

Tháo mới sai người đem lụa bạch tới.

Hiến Ðế vừa khóc vừa nói với Ðổng phi:

– Khanh xuống Tuyền đài, đừng oán Trẫm nhé!

Dứt lời, lệ tuôn như mưa. Phục hậu cũng oà lên khóc lớn.

Tháo nổi giận nói:

– Lại còn giở trò đàn bà trẻ con thế nữa à!

Rồi thét võ sĩ lôi Ðổng phi ra thắt cổ ở bên ngoài cung môn.

Người sau có thơ than Ðổng phi rằng:

Ðầu xuân mưa móc cũng bằng không,

Liễu nát, hoa rơi trước bệ rồng.

Thiên tử cũng đành tuôn suốt lệ,

Trông theo từng bước quặn ôm lòng.

Giết Ðổng phi rồi, Tháo truyền bảo quan Giám cung:

– Từ nay trở đi, bất cứ người ngoại thích, tôn thân nào, nếu không được phép ta mà tự tiện vào cung, đều phải chém đầu! Canh giữ không nghiêm cũng chịu đồng tội!

Sau đó, Tháo nói với Trình Dục:

– Tuy nay đã giết bọn Ðổng Thừa rồi, song còn Mã Ðằng và Lưu Bị cũng trong số ấy, không thể không diệt trừ.

Trình Dục nói:

– Mã Ðằng hiện nay đóng binh ở Tây Lương, binh thế cũng mạnh chưa nên đánh vội. Phải vỗ về hắn rồi gởi chiếu triệu về kinh mà giết đi mới được. Còn Lưu Bị hiện nay đang chiếm giữ Từ Châu làm kế ỷ dốc thì cũng không nên đánh. Huống chi nay Viên Thiệu còn đang đồn quân ở Quan độ, có ý dòm ngó Hứa Ðô. Phỏng như kéo quân sang Ðông để đánh Lưu Bị, thế tất Bị cầu cứu Thiệu. Viên Thiệu thừa lúc tới xâm phạm Hứa Ðô, ta làm sao đương nổi?

Tào Tháo áy náy nói:

– Chẳng phải vậy đâu, Lưu Bị là tay nhân kiệt trong thiên hạ. Nếu không trừ trước, để cho hắn có đủ lông, đủ cánh thì khó mà trừ được. Còn như Viên Thiệu tuy có nhiều binh lực song cứ hay hoài nghi bất quyết, hay làm hỏng việc, chẳng có đáng sợ gì?

Ðang lúc thương nghị bỗng có Quách Gia đến, Tháo liền hỏi Quách Gia:

– Ta muốn hưng binh đi dánh Lưu Bị, ngặt còn sợ Viên Thiệu xâm phạm Hứa Ðô, ông nghĩ thế nào?

Quách Gia nói:

– Viên Thiệu tính chậm chạp mà hay đa nghi. Các mưu sĩ lại ghen ghét lẫn nhau, nội bộ tranh giành nghi kỵ nhau, không cần phải sợ. Lưu Bị hiện đang chỉnh đốn binh mã, tích thảo đồn lương, quân binh chưa thuần thục, nếu kéo binh đến đó đánh một trận có thể dẹp yên.

Tào Tháo cả mừng liền nói:

– Chính hợp ý ta!

Bèn khởi đại binh hai mươi vạn chia làm năm đạo đi đánh Từ Châu.

Quân tế tác dò thám được, báo về Từ Châu.

Tôn Càn ở Từ Châu lập tức qua nơi Hạ Bì báo cho Quan Vân Trường rõ rồi lại qua Tiểu Bái cho Huyền Ðức hay.

Huyền Ðức bàn tính với Tôn Càn:

– Việc này phải đến cầu cứu Viên Bản Sơ mới giải được mối nguy này!

Bèn viết một phong thư, sai Tôn Càn mang đi.

Càn đến Hà Bắc vào ra mắt Ðiền Phong trước, nói rõ tình hình và nhờ dẫn tiến.

Phong lập tức dẫn Càn vào ra mắt Viên Thiệu và trình thư lên.

Nhưng thấy Viên Thiệu hình dung tiều tụy, áo mão xốc xếch, Phong ngạc nhiên hỏi:

– Hôm nay Chúa công làm sao vậy?

Viên Thiệu đáp:

– Ô hay! Ta sắp chết rồi!

Ðiền Phong thất kinh nói:

– Chúa công nói chi lời gở thế!

Viên Thiệu nói:

– Ta có năm đứa con, chỉ có thằng con út là ta cưng nó lắm. Nay nó lại đau ghẻ nặng, bệnh nguy đến nơi. Nếu nó có bề nào thì ta chết mất.

Ðiền Phong nói:

– Hiện Tào Tháo đã hưng binh đi đánh Huyền Ðức, Hứa Ðô bỏ trống, chúng ta nên thừa cơ hội ấy đem nghĩa binh đánh vào, trên cứu được Thiên tử, dưới cứu được muôn dân. Thật là dịp may hiếm có vậy. Chỉ chờ Minh công định đoạt.

Viên Thiệu nói:

– Ta cũng biết cơ hội này rất tốt. Ngặt vì con ta đau bệnh, lòng ta hoảng hốt, e việc không lợi.

Ðiền Phong hỏi:

– Việc gì mà Chúa công phải hoảng hốt?

Viên Thiệu đáp:

– Trong năm đứa con, chỉ có đứa nhỏ đĩnh ngộ khác thường. Nếu không may nó có bề nào ắt ta cũng không sống nổi nữa!

Viện Thiệu quay lại nói với Tôn Càn:

– Ngươi hãy về nói lại với Huyền Ðức, ta vì cớ ấy không thể ra binh được. Nếu Huyền Ðức có bề nào đến đây tá túc, ta lo liệu phương tiện giúp đỡ cho.

Ðiền Phong nghe nói, uất ức đập cây gậy xuống đất kêu rằng:

– Ðược thời cơ hiếm có như thế này, mà vì mấy mụn lở của một đứa con mà bỏ lỡ cơ hội thật là đáng tiếc! Ðáng tiếc!

Nói rồi giậm chân than dài mà lui ra.

Tôn Càn thấy Viên Thiệu không chịu phát binh, liền chạy suốt đêm về Tiểu Bái ra mắt Huyền Ðức, kể rõ đầu đuôi. Huyền Ðức thất kinh họp hết chư tướng thương nghị.

Trương Phi hăng hái hiến kế:

– Ðại ca đừng lo gì. Quân Tào Tháo ở xa mới đến, binh tướng còn mỏi mệt. Ta nhân lúc chúng vừa chân ướt, chân ráo đến đây, hơi thở chưa đều, cứ xông ngay sang cưới trại, ắt phá được chúng.

Huyền Ðức nói:

– Vẫn tưởng tam đệ chỉ là kẻ dũng phu, ai ngờ trước đã biết dùng mưu bắt Lưu Ðại, nay lại bày kế này, thì cũng biết phép dùng binh lắm!

Bèn nghe lời Trương Phi, chia binh sẵn sàng, đợi đến đêm sang cướp trại Tào Tháo.

Bấy giờ Tào Tháo kéo binh qua Tiểu Bái.

Lúc đang tiến binh, bỗng có trận gió thổi tới, rồi nghe tiếng nổ vỡ đánh “rắc”! Thì ra cây đại kỳ bị gẫy cán.

Tháo vội ra lệnh cho quân sĩ tạm dừng bước, rồi họp các mưu sĩ hỏi xem lành dữ thế nào.

Tuân Húc hỏi:

– Gió từ phương nào tới? Thổi gẫy cờ sắc gì?

Tháo nói:

– Cuồng phong thừ phía Ðông Nam thổi tới, đánh gẫy cây giác nha kỳ 1. Cờ này gồm xanh, đỏ hai màu.

Húc nhẩm tính, rồi đoán:

– Chẳng phải điều gì khác! Hẳn đêm nay ắt có Lưu Bị đến cướp trại.

Tháo gật đầu.

Bỗng Mao Giới bước vào cũng hỏi:

– Vừa rồi, gió Ðông Nam thổi gẫy lá giác nha kỳ hai đầu xanh, đỏ. Chúa công cho rằng lành hay dữ?

Tháo hỏi lại:

– Theo ý ông thế nào?

Mao Giới nói:

– Theo ngu ý, ắt là điềm có người tới cướp trại!

Người sau có thơ than Huyền Ðức rằng:

Thương thay Hoàng thúc thế cô cùng,

Muốn cướp dinh Tào, khởi thế công.

Cờ địch gẫy lìa, cơn gió bão,

Trời già chi tựa kẻ gian hùng?

Bấy giờ, Tháo bảo các tướng:

– Trời đã báo điềm cho ta, vậy đêm nay ta phải đề phòng cẩn mật.

Bèn chia binh ra làm chín đạo, cho một đạo tới trước để lập dinh trại, còn bao nhiêu chia ra làm mai phục khắp tám mặt.

Ðêm ấy, trăng khi mờ khi tỏ, Huyền Ðức đi bên tả, Trương Phi đi bên hữu chia quân ra làm hai đường tiến phát.

Chỉ để mình Tôn Càn ở lại giữ Tiểu Bái.

Riêng Trương Phi bấy giờ lấy làm đắc kế, dẫn toàn quân khinh kỵ thẳng tiến.

Khi đến trước trại Tào, Phi liền giục ngựa xông vào.

Nhưng chỉ thấy đèn đuốc leo lét, quân Tào lơ thơ thưa thớt…

Còn đang hoài nghi thì bỗng một tiếng pháo lệnh nổ vang, bốn bề lửa cháy bùng lên sáng rực!

Tiếng reo hò tám mặt nổi lên như trời long đất lở…

Phi biết mình đã trúng kế, liền quày ngựa toan thoát lui ra khỏi trại Tào, nhưng mặt Ðông đã có Trương Liêu, phía Tây có Hứa Chử, chính Nam có Vu Cấm, chính Bắc có Lý Ðiển, phía Ðông Nam thì có Từ Hoảng, Tây Nam có Nhạc Tiến, Ðông Bắc có Hạ Hầu Ðôn, Tây Bắc thì Hạ Hầu Uyên tám tướng dẫn quân mã đánh ập vào.

Một mình Trương Phi tả xông, hữu đột, đỡ trước, gạt sau…

Nhưng nguy hơn nưa là số quân của Phi lại là quân thủ hạ cũ của Tháo.

Bấy giờ chúng thấy sự thế nguy cấp, đều hạ khí giới đầu hàng hết.

Phi hăng máu, lồng lên như con hổ dữ, đang đâm chém túi bụi thì Từ Hoảng tới đánh cho một trận.

Mặt sau, Nhạc Tiến lại đuổi tới.

Phi mở một đường máu ra thoát vòng vây mà chạy. Ngoảnh mặt lại thấy chỉ còn hơn mươi quân kỵ chạy theo.

Trương Phi muốn trở về Tiểu Bái, nhưng đường đã bị chẹn mất.

Muốn sang Từ Châu, Hạ Bì lại sợ quân Tào mai phục đón đường.

Nghĩ không ra lối, Phi đành trông về núi Mang Ðường mà chạy.

Còn Huyền Ðức khi dẫn quân vừa đến trại, toan xông qua cửa đã nghe tiếng reo hò vang trời.

Một cánh quân Tào nổi dậy sau lưng, đánh cắt ngang mất một nửa quân mã, và chặn lối về.

Rồi Hạ Hầu Ðôn xông ra đón đường.

Huyền Ðức vội phá vòng vây mà chạy.

Hạ Hầu Uyên lại đuổi theo sau, đánh cho một trận nữa.

Ngoảnh lại thấy chỉ còn hơn ba mươi quân kỵ chạy theo, toan chạy về Tiểu Bái, nhưng nhìn về phía thành trì đã thấy lửa cháy rực trời.

Huyền Ðức vội rẽ cương, định chạy về Từ Châu hoặc Hạ Bì, nhưng đã thấy quân Tào đổ ra đầy đồng khắp núi đón chặn.

Huyền Ðức thấy hết cả lối về, lại nhớ tới lời Viên Thiệu dặn:

– Nếu có bề gì thì cứ đến tá túc…

Bèn nghĩ bụng:

– Nay ta đã binh tan thế cùng, chi bằng ta hãy tạm qua Hà Bắc nương thân, rồi sau này sẽ tính kế khác.

Nghĩ rồi, Huyền Ðức trông thẳng hướng Thanh châu mà chạy.

Chạy được một quãng lại gặp Lý Ðiển chặn đường.

Huyền Ðức vùng lên thoát thân, rồi cứ trông về phía Bắc mà chạy tiếp.

Ba mươi quân kỵ bị Lý Ðiển bắt nốt.

Thế là chỉ còn trơ một mình một ngựa chạy nạn, mỗi ngày phải đi hơn ba trăm dặm.

Khi đến dưới thành Thanh châu, Huyền Ðức bèn kêu mở cửa.

Quân canh hỏi tên họ, rồi chạy vào báo với quan Thứ Sử hay.

Nguyên quan Thứ Sử này là con trưởng của Viên Thiệu, tên là Viên Ðàm.

Ðàm vốn có lòng hâm mộ Huyền Ðức lắm, bấy giờ nghe tin:

– Lưu Dự Châu một người một ngựa chạy đến ngoài thành.

Viên Ðàm vội sai mở cửa, thân ra đón tiếp, rước vào công đường, hỏi tường tận sự thể.

Huyền Ðức thuật rõ việc bại binh và ngỏ lời xin nương tựa.

Ðàm liền mời tới nhà quán dịch nghỉ ngơi, rồi viết thư báo cho cha hay.

Một mặt sai quân hộ tống Huyền Ðức đến biên giới Bình Nguyên.

Viên Thiệu nghe tin, dẫn văn võ bộ hạ ra ngoài Nghiệp Ðô ba mươi dặm nghinh tiếp.

Huyền Ðức xuống ngựa bái tạ.

Thiệu vội vàng đáp lễ, nói:

– Vừa qua, vì trẻ thơ mắc bệnh, không tiếp viện được Sứ quân, lòng vẫn áy náy không yên. Nay hân hạnh được gặp, thật đã thỏa lòng mong ước.

Huyền Ðức nói:

– Bị này là kẻ cô cùng, đã muốn tới nương nhờ dưới cửa ngài từ lâu, nhưng chưa có dịp. Nay bị Tào Tháo đánh phá, vợ con bị hãm, gia đình thất tán cả rồi. Lòng nghĩ Tướng quân rộng lượng dung nạp kẻ sĩ bốn phương, nên không ngại thẹn mà tới theo. Mong Tướng quân thu nạp, thề sẽ có ngày báo đáp.

Viên Thiệu mừng rỡ, liền thết đãi rất hậu rồi để Huyền Ðức ở lại Ký châu.

Nói về Tào Tháo đêm ấy lấy Tiểu Bái xong rồi, lập tức đến lấy Từ Châu.

My Trúc và Giản Ung ngăn cản không nổi phải bỏ thành chạy.

Trần Ðăng bèn dâng thành cho Tào Tháo.

Tháo kéo đại quân vào.

Vỗ an dân chúng xong, Tào Tháo lại nhóm hết chư tướng để bàn kế đi đánh Hạ Bì.

Tuân Húc nói:

– Quan Vũ bảo vệ vợ con của Lưu Bị, ắt liều thân quyết giữ thành ấy, nếu chẳng đánh cho mau e Viên Thiệu sang cướp mất.

Tào Tháo nói:

– Ta vốn rất yêu Quan Vũ là nhân tài lỗi lạc, võ nghệ siêu quần, muốn thu phục để dùng. Chi bằng nay cử người tới thuyết, nếu y chịu hàng thì hay lắm.

Quách Gia nói:

– Quan Vũ là người nghĩa khí cao sâu, ắt không chịu hàng đâu. Cử người đến thuyết, sợ bị hại mất.

Nhưng một người bước ra nói:

– Tôi với Quan Vũ vốn có quen nhau. Nay tôi xin đi dụ hàng.

Mọi người nhìn lại, thì ra Trương Liêu. Trình Dục nói:

– Văn Viễn tuy quen biết Quan Vũ, nhưng tôi xem người ấy không thể lấy lời lẽ suông mà dụ được. Tôi có một kế này, trước làm cho Quan Vũ hết đường tiến thoái, rồi sẽ cho Văn Viễn đến dụ hàng. Bấy giờ là y phải về hàng Thừa Tướng.

Ðó chính là:

Rắp đem cung mạnh bắm hùm dữ,
Soạn sẵn mồi thơm dử cá ngao.

——————————–

1 Cờ một ngọn gọi là “giác kỳ”. Cờ đôi gọi là “môn kỳ”

Hồi Thứ Hai Mươi Lăm

Núi Thổ San, Quan Công Giao Ba Việc
Thành Bạch Mã, Tào Tháo Mở Trùng Vây

Lúc ấy Trình Dục dâng kế:

– Vân Trường sức đánh muôn người, không dùng kế khó thắng. Nay phải sai quân của Lưu Bị mới đầu hàng vào Hạ Bì ra mắt Quan Công, và nói dối là: “Trốn được mà về”, rồi dùng chúng làm nội ứng. Lại sai người khiêu chiến dụ hắn đến một chỗ xa, chận đường về mới mong dụ hắn được.

Tào Tháo nghe theo kế ấy liền sai mấy mươi binh Từ Châu trở về Hạ Bì đầu Quan Công.

Quan Công thấy binh của mình, lưu dùng ngay không nghi ngờ gì cả.

Hôm sau, Hạ Hầu Ðôn dẫn năm ngàn binh đến khiêu chiến, Quan Công không thèm ra.

Hạ Hầu Ðôn truyền quân sĩ đứng ngoài thành kêu Quan Công nhiếc mắng cả ngày.

Quan Công tức giận dẫn ba ngàn quân ra thành đánh.

Ðánh được chừng vài mươi hiệp, Hạ Hầu Ðôn quày ngựa bỏ chạy.

Quan Công rượt theo được chừng hai mươi dặm, sợ Hạ Bì sơ thất nên quày ngựa trở lại không theo nữa. Nhưng đã muộn!

Một tiếng pháo lệnh nổ vang.

Bên tả có Từ Hoảng đổ ra, bên hữụ có Hứa Chữ đánh chận. Hai cánh quân bít hẳn đường về.

Quan Công mở đường máu thoát thân, nhưng hai bên cung nỏ đã chực sẵn, bắn như mưa, không sao qua thoát.

Quay binh lại thì Từ Hoảng, Hứa Chữ lại tiếp chiến kịch liệt.

Quan Công ráng sức đánh vùi, hai tướng phải lui, rồi toan dẫn quân về Hạ Bì.

Nhưng Hạ Hầu Ðôn lại chận đường tiếp đánh Quan Công đánh từ sáng đến tối, không tìm ra đường về, đành lên chót núi Thổ San đóng binh lại đó tạm nghỉ.

Binh của Tào Tháo trùng trùng điệp điệp kéo đến vây chặt Thổ San.

Quan Công đứng trên núi, trông về Hạ Bì thấy trong thành ánh lửa rực trời.

Thì ra, lúc ấy quân trá hàng đã mở trộm cửa.

Tào Tháo thân hành đem đại quân tiến vào thành, sai đốt lửa, cốt làm cho Quan Công nao lòng rối ruột.

Quả nhiên, Quan Công thấy lửa cháy ở Hạ Bì rất sợ hãi, một đêm xung sát mấy lần xuống núi, nhưng đều bị loạn tên từ dưới bắn lên không sao thoát khỏi vòng vây.

Ðến lúc mờ sáng, lới toan xông xuống phá vây nữa, bỗng thấy một người cỡi ngựa chạy lên.

Nhìn ra mới biết là Trương Liêu, Quan Công đón hỏi:

– Ngươi là tướng của Tào Tháo, đến đây đánh với ta chăng?

Trương Liêu liền bỏ thương xuống đất, bước xuống ngựa thi lễ, trả lời:

– Không phải.

Quan Công lại hỏi:

– Như vậy thì ngươi đến đây để giúp ta chăng?

Trương Liêu trả lời:

– Không phải.

Quan Công lại hỏi:

– Như vậy ngươi đến đây để dụ ta chăng?

Trương Liêu nói:

– Cũng không phải nữa.

Quan Công đang ngạc nhiên chưa biết ý định của Trương Liêu như thế nào, Trương Liêu đã nói:

– Vì cảm nghĩ ngày trước anh cứu tôi nên tôi đến đây đem tin cho anh rõ.

Quan Công hỏi:

– Tin gì vậy?

Trương Liêu nói:

– Hoàng thúc hiện nay lưu lạc nơi đâu chưa rõ, còn Trương Phi chẳng biết mất còn. Hôm qua Tào Tháo lại lấy được thành Hạ Bì rồi, binh dân đều không bị hại. Gia quyến của Hoàng thúc lại được Tào Tháo bảo vệ tử tế, nên em đến đây đưa tin.

Quan Công nổi giận hét lớn:

– Người lại dám đến đây dụ ta sao? Ta thà chết chớ nhất định không đầu hàng ai cả. Ngươi hãy lập tức về đi, nếu nói một lời nào nữa, ta chém đầu ngay đấy.

Trương Liêu cười, nói:

– Anh nói như vậy anh không sợ người ta cười hay sao? Tôi vì thiên hạ cười anh, đến đây nói cho anh rõ chứ đâu dám dụ anh hàng.

Quan Công hỏi:

– Ngươi nói thiên hạ cười ta việc gì?

Trương Liêu nói:

– Tôi biết anh dõng lực có thừa, song hiện nay thế binh của anh đã tan vỡ, nếu liều chết thật là có tội.

Quan Công hỏi:

– Ta bình sanh không chịu nhục, nay ta ra trận quyết ăn thua với địch, nếu chẳng may thất cơ, ta liều chết để đền nợ nước, sao lại có tội?

Trương Liêu nói:

– Nếu anh liều chết, anh sẽ phạm ba tội.

– Là tội gì, nói thử ta nghe?

Trương Liêu bắt đầu thuyết:

– Anh thử nghĩ xem, Hoàng thúc hiện nay thất lạc, nhưng chí cả chưa đoạt, thế nào cũng cần người nghĩa dũng, nếu sau này Hoàng thúc cần đến mà không có anh tức là anh có tội thứ nhất. Hoàng thúc đã phó thác gia quyến cho anh, nay anh liều chết để mất chỗ nương tựa, không có ai bảo vệ, ấy là tội thứ hai. Anh là một kẻ võ nghệ siêu quần há lại không khuôn phò nhà Hán để danh muôn thuở lại liều thác như thế phỏng có ích gì, đó là tội thứ ba vậy.

Quan Công nghe Trương Liêu nói, thở dài, suy nghĩ giây lát rồi hỏi:

– Ngươi nói ta có ba tội, vậy anh bảo bây giờ ta phải làm thế nào?

Trương Liêu nói:

– Nay bốn phía đều có binh của Tào Công, nếu chống cự e sơ thất, chi bằng hãy tạm đầu hàng Tào Công để nghe ngóng tin tức của Hoàng thúc. Nếu người còn ở nơi nào, anh sẽ đến đó tìm người. Như vậy, một là bảo vệ được hai vị phu nhân, hai là chẳng phụ lời ước thệ ngày xưa, ba là để dành được cái thân hữu dụng này ngày sau giúp nhà Hán. Ba điều ấy xin anh xét lại.

Quan Công nói:

– Ngươi nói ba điều tiện, ta lại có ba điều ước. Nếu Thừa Tướng bằng lòng khứng chịu, ta sẽ cởi giáp hàng, bằng thiếu một điều, ta quyết liều chết mà thôi.

Trương Liêu nói:

– Thừa Tướng độ lượng lắm, có điều chi mà người chẳng chịu.

Quan Công nói:

– Một là, ta với Hoàng thúc có thề với nhau một lòng giúp nhà Hán, nay ta có đầu là đầu Hán đế chớ chẳng phải đầu Tào Tháo. Hai là, xin lấy bổng lộc của Hoàng thúc cấp cho nhị tẩu của ta, lại không một ai được bén mảng đến chỗ ở của nhị tẩu ta. Ba là, khi nào hay được tin anh ta ở đâu, ta lập tức đến đó, dù đường xa ngàn dặm.

Trương Liêu ưng chịu, liền trở về ra mắt Tào Tháo và nói:

– Quan Công chịu đầu song bắt buộc Thừa Tướng nhận chịu ba điều: Thứ nhất là “Ðầu Hán chứ chẳng đầu Tào”.

Tào Tháo cười:

– Ta làm Thừa Tướng cho nhà Hán, đầu Hán tức là đầu ta, việc ấy không can hệ gì.

Trương Liêu lại nói:

– Thứ nhì là xin bổng lộc của Hoàng thúc cấp dưỡng cho nhị tẩu của hắn, lại cấm không cho một kẻ nào được bén mảng đến chỗ ở của nhị tẩu hắn.

Tào Tháo cũng cười, nói:

– Ta sẽ cấp cho gấp hai lần bổng lộc của Hoàng thúc! Còn như việc nghiêm cấm trong ngoài, thì gia pháp xưa nay vẫn thế. Còn phải nghi ngại gì nữa?

Trương Liêu kể tiếp:

– Ðiều thứ ba là lúc nào hắn nghe được Lưu Bị ở đâu, hắn đi ngay dù cho đường xa muôn dặm.

Tào Tháo ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

– Ðiều ấy thực là khó! Nếu hay được tin Huyền Ðức ở đâu, hắn ra đi, như thế ta nuôi hắn có ích gì?

Trương Liêu lại nói:

– Quan Công sở dĩ trung thành với Huyền Ðức là vì hắn cảm cái tình đối xử của Huyền Ðức mà thôi! Nay nếu Thừa Tướng đối đãi với hắn cũng như Huyền Ðức thì hắn ắt mến phục Thừa Tướng như đã mến Huyền Ðức vậy.

Tào Tháo suy nghĩ một hồi rồi nói:

– Lời Văn Viễn nói rất hay! Ta ưng thuận ba điều ấy.

Tào Tháo liền sai Trương Liêu đến thỉnh Quan Công về.

Trương Liêu liền đến thuật hết các việc cho Quan Công nghe, Quan Công liền nói:

– Tuy vậy, xin Thừa Tướng hãy lui binh, để ta trở về thành hỏi ý kiến của nhị tẩu ta đã rồi sẽ đầu hàng.

Trương Liêu về nói lại. Tào Tháo truyền lui binh hơn hai mươi dặm.

Tuân Húc thất kinh, vào nói với Tào Tháo:

– Không nên, tôi e nó trá hàng chăng?

Tào Tháo nói:

– Vân Trường là người nghĩa khí, hắn chẳng dối gạt đâu.

Quan Công dẫn binh về Hạ Bì thấy nhân dân đâu đó bình yên liền đi thẳng vào phủ ra mắt nhị tẩu.

Cam phu nhân và My phu nhan hỏi:

– Chẳng hay Hoàng thúc nay ở chỗ nào?

Quan Công nói:

– Chưa biết anh ấy chạy về đâu.

Rồi Quan Công đem hết đầu đuôi việc Tào Tháo dụ hàng kể cho nhị tẩu rõ, và lại kể ba điều ước hẹn cho nhị tẩu nghe. Rồi hỏi ý kiến.

Cam phu nhân nói:

– Hôm qua, quân Tào vào thành, chúng tôi tưởng đã không toàn thân. Không ngờ chúng không phạm đến cái tơ cái tóc. Không một tên quân nào dám tại cửa. Nay thúc thúc đã hứa với họ, cứ việc mà làm. Hà tất phải hỏi chúng tôi là bọn đàn bà đâu biết việc lợi hại trong quân binh. Song chúng tôi e ngày sau biết được tin của Hoàng thúc rồi, Tào Tháo không cho đi thì làm sao?

Quan Công nói:

– Việc ấy em đã có cách.

Quan Công từ tạ lui ra, dẫn vài tên quân kỵ vào ra mắt Tào Tháo.

Tào Tháo bổn thân ra khỏi viên môn nghinh tiếp.

Quan Công xuống ngựa thi lễ rồi nói:

– Tôi là tướng bại binh, mong ơn ngài không giết.

Tháo nói:

– Tôi ái mộ Vân Trường đã lâu, nay được gặp nhau, thật phỉ tình hoài vọng.

Vân Trường nói:

– Tôi nhờ Văn Viễn xin Thừa Tướng ba điều, ngài đã khứng rồi chớ?

Tào Tháo nói:

– Tôi đã hứa thì có bao giờ nuốt lời?

Quan Công nói:

– Sau này, nếu tôi nghe tin đại ca tôi ở đâu, dù vùi thân trong chỗ nước lửa, tôi cũng phải theo, chừng ấy sợ từ tạ không kịp, cúi xin miễn chấp.

Tào Tháo nói:

– Nếu Huyền Ðức còn, chừng đó ông sẽ đi, nhưng tôi e Hoàng thúc bị loạn quân rồi, xin ông an lòng thủng thỉnh lo liệu.

Quan Công bái tạ.

Tào Tháo liền bày yến tiệc thết đãi.

Hôm sau, Tào Tháo liền truyền lệnh thâu quân về Hứa Xương.

Quan Công liền thỉnh nhị tẩu lên xe rồi tự mình đi theo hộ vệ.

Khi quân đi đến trạm dịch, Tào Tháo truyền quân đóng lại nghỉ ngơi, lại truyền Quan Công ở chung một nhà với nhị tẩu. Ý muốn để cho Quan Công loạn nghĩa quân thần.

Nhưng đêm ấy, Quan Công cầm đuốc đứng trước cửa suốt đêm canh chừng cho nhị tẩu.

Tào Tháo biết được kính phục vô cùng.

Về đến Hứa Xương, Tháo truyền dọn một tư dinh cho gia quyến Huyền Ðức ở.

Quan Công liền phân ra hai viện.

Phía cửa trong đặt mười tên quân canh giữ, còn Quan Công ở nơi nhà ngoài.

Tào Tháo lại dắt Quan Công vào triều yết kiến Hiến Ðế.

Hiến Ðế phong cho làm chức Thiên Tướng quân.

Quan Công tạ ơn rồi lui ra.

Hôm sau, Tào Tháo lại truyền bày tiệc lớn thết đãi.

Bá quan tề tựu đủ mặt.

Tháo liền mời Quan Công ngồi trên.

Tiệc tan; lại sai đem gấm vóc, vàng bạc và đồ trang hoàng ra tặng.

Quan Công đem về giao hết lại cho nhị tẩu.

Từ đó, cứ cách ba ngày Tào Tháo bày một tiệc nhỏ, bảy ngày một tiệc lớn khoản đãi Quan Công.

Lại đưa hai mươi người con gái đẹp đến hầu hạ.

Quan Công liền sai đem vào cho nhị tẩu.

Cứ ba ngày, Quan Công vào một lần đứng vòng tay nơi phía ngoài cửa hỏi:

– Nhị tẩu mạnh chăng?

Nhị tẩu hỏi thăm tin tức của Hoàng thúc xong, rồi nói:

– Thúc thúc cứ tự tiện.

Chừng ấy Quan Công mới lui ra. Tào Tháo hay được việc ấy khen phục Quan Công vô cùng.

Một hôm, Tào Tháo thấy Quan Công mặc chiếc áo màu lục đã bạc màu, liền sai thợ phỏng theo vóc của Quan Công, lựa gấm tới may một chiếc cẩm bào rồi đem cho Quan Công.

Quan Công lãnh lấy đem về rồi mặc vào trong, còn chiếc áo cũ mặc ở ngoài.

Tháo thấy vậy hỏi:

– Sao Vân Trường tiết kiệm thế?

Vân Trường nói:

– Chiếc áo cũ này là của anh tôi cho. Tôi mặc nó ra ngoài cũng như thấy mặt anh tôi vậy. Chẳng dám vì cái áo mới Thừa Tướng vừa ban, mà quên cái cũ của anh cho! Vì thế tôi mặc áo mới vào trong.

Tào Tháo nghe qua khen:

– Thật là nghĩa sĩ!

Tuy ngoài miệng nói thế chớ trong lòng chẳng vui.

Một hôm Quan Công đang ngồi ở Phủ, bỗng có tin báo:

– Hai vị phu nhân chẳng biết có chuyện chi mà khóc lóc nằm lăn dưới đất.

Quan Công vội chỉnh tề khăn áo, vào quỳ phía ngoài cửa hỏi:

– Bẩm nhị tẩu, chẳng hay có việc gì mà bi thương như vậy?

Cam phu nhân sụt sùi nói:

– Ðêm hôm qua, ta nằm chiêm bao thấy Hoàng thúc bị sa dưới hầm, e người đã chết rồi, nên ta buồn và khóc than đó thôi.

Quan Công tìm lời khuyên giải:

– Việc trong mộng mị không thể tin được. Chẳng qua là chị quá tưởng nhớ anh nên mộng mị như vậy. Xin hai chị chớ ưu sầu có hại cho sức khỏe.

Ðang lúc trò chuyện có quân Tào Tháo đến mời Quan Công đi dự yến.

Quan Công từ giã nhị tẩu rồi đến nơi yến đình.

Tào Tháo thấy Quan Công buồn bã liền hỏi:

– Vân Trường có việc chi chẳng được vui.

Quan Công nói:

– Lâu ngày xa cách nên hai chị tôi nhớ anh tôi mà khóc lóc, cho nên tôi cảm động trong lòng.

Tào Tháo nghe nói liền cười, rồi kiếm lời khuyên giải cho khuây lãng, và mời uống rượu.

Qua vài tuần rượu, Vân Trường ngồi nhìn trời, tay vuốt râu nói:

– Sống làm trai mà chẳng được phụng sự quốc gia, bội nghĩa cùng anh, thật uổng thay một đời người!

Tháo thấy Vân Trường buồn liền khéo léo tìm câu hỏi cho khuây:

– Vân Trường có đếm thử râu ước độ được bao nhiêu sợi chăng?

Vân Trường nói:

– Ước chừng vài trăm sợi. Qua tiết đông thiên thường hay rụng nên phải lấy cái túi the bọc ngoài cho nó khỏi rụng.

Tào Tháo liền lấy gấm bông may cho Vân Trường một cái đảy để bọc râu.

Ngày nọ trong buổi chầu, vua thấy trước ngực Vân Trường có đeo một cái đảy gấm, làm lạ hỏi:

– Thiên Tướng quân đeo cái đảy ấy chi vậy?

Vân Trường thưa:

– Râu thần dài lắm nên Thừa Tướng ban cho cái đãy để bọc lại.

Vua bảo mở ra cho xem, Vân Trường mở ra, thấy chòm râu dài khỏi bụng.

Vua khen:

– Ðúng là Mỹ nhiệm công!

Bởi thế Vân Trường có tên Mỹ nhiệm công (ông râu đẹp).

Một ngày kia, Tào Tháo mời Vân Trường đến dự yến, Tháo thấy ngựa Vân Trường ốm mới hỏi duyên cớ.

Vân Trường đáp:

– Vì người tôi hơi nặng, nên cỡi con nào cũng chóng gầy.

Tào Tháo lập tức sai quân dẫn đến một con ngựa sắc đỏ như than lửa, hình thù cực kỳ hùng vĩ, chỉ cho Vân Trường xem và nói:

– Vân Trường biết con ngựa này chăng?

Quan công xem rồi nói:

– Nó là con Xích Thố của Lữ Bố.

– Chính là nó đấy.

Nói rồi sai đem yên cương ra đóng, tặng cho Quan công, Quan công phục lạy tạ ơn.

Tháo tỏ vẻ không bằng lòng, hỏi:

– Ta đã bao phen trao tặng nào là mỹ nữ, nào là vàng bạc, nào là gấm vóc, sao chẳng thấy Vân Trường vui, nay cho con ngựa này mà Vân Trường lại tạ ơn hậu như vậy?

Quan công nói:

– Tôi biết con ngựa quý này ngày đi ngàn dặm. Nay được ơn ban, nếu biết anh tôi ở đâu, tôi có thể đi một này là gặp.

Tháo nghe qua sực tỉnh, bấy giờ mới thấy hối tiếc.

Quan công từ tạ lên ngựa ra về.

Người sau có thơ khen: ????

Sau khi cho ngựa, Tháo hối hận, buồn rầu hỏi Trương Liêu:

– Ta chẳng hề bạc đãi Vân Trường, sao hắn cứ nghĩ đến chuyện ra đi mãi là cớ chi?

Trương Liêu nói:

-Xin để tôi dọ hỏi thử lòng hắn coi.

Hôm sau, Liêu đến thăm Quan công, thi lễ xong, Liêu hỏi:

– Từ khi tôi tiến cử anh với Thừa Tướng, anh có điều gì bất như ý chăng?

Quan công đáp:

– Tôi rất cảm hậu ân của Thừa Tướng, chẳng còn thiếu gì. Chỉ hiềm thân tuy ở đây, mà lòng quá nhớ Hoàng thúc không phút nào quên được!

– Anh nghĩ thế là sai. Bậc trượng phu xử thế phải biết cân nhắc khinh trọng. Huyền Ðức đãi anh vị tất đã hậu bằng Thừa Tướng. Sao anh chỉ nghĩ đến việc ra đi?

Quan công nói:

– Tôi vẫn biết Tào công đãi tôi quá hậu, hiềm vì tôi đã chịu ơn Hoàng thúc từ xưa, thề cùng sống chết, không thể đổi lòng. Thế nào rồi tôi cũng không ở đây lâu, nhưng tôi phải lập chút công báo đáp Thừa Tướng đã, rồi mới ra đi.

Trương Liêu vội hỏi:

– Nếu Huyền Ðức đã qua đời thì anh về đâu?

– Ðành theo xuống tuyền đài!

Liêu biết không thể nào giừ nổi Vân Trường, liền cáo từ, trở về nói lại với Tào Tháo. Tháo tuy chẳng vui song lòng khâm phục. Tháo nói:

– Thờ chúa chẳng quên căn bổn, ấy thật là người nghĩa sĩ trong thiên hạ.

Tuân Húc nói:

– Vân Trường nói sẽ lập công rồi mới đi. Vậy ta đừng để hắn trả ơn thì hắn chưa đi được.

Tào Tháo khen phải. Sau đó bá quan ai về dinh nấy.

Nói về Huyền Ðức từ khi về ở với Viên Thiệu, ngày ngày buồn bực không an. Viên Thiệu thấy vậy hỏi:

– Huyền Ðức có gì buồn bực vậy?

Huyền Ðức đáp:

– Hai em tôi lâu nay chẳng biết tin tức, vợ con lại ở trong tay Tào tặc chẳng biết lành dữ ra sao. Trên chẳng được đền nợ nước, dưới giữ chẳng được cửa nhà lẽ nào lại không lo.

Viên Thiệu nói:

– Nay tiết xuân hòa hườn, tôi muốn cử binh đi đánh Tào Tháo ước có được chăng?

Ðiền Phong nghe nói liền bàn:

– Lúc trước Tào Tháo mắc đi đánh Từ châu, Hứa Ðô bỏ trống, sao không nhân cơ hội ấy mà đánh. Nay nó đã lấy được Từ châu rồi, tướng sĩ thêm mạnh, ta chớ nên khinh động.

Viên Thiệu nói:

– Ðể ta nghĩ lại xem thế nào!

Rồi hỏi Huyền Ðức:

– Ðiền Phong khuyên ta cố thủ, nên chăng?

Huyền Ðức nói:

– Tào Tháo là đứa khi quân, nếu Minh công không đánh để giành lấy đại nghĩa, tôi e mất cơ hội?

Viên Thiệu khen phải, liền muốn hưng binh.

Ðiền Phong lại cản nữa.

Thiệu tức giận mắng:

– Bọn ngươi cứ khoe việc văn không kể gì đến việc võ. Ngươi làm cho ta mất việc đại nghĩa.

Ðiền Phong cứ cản mãi, Viên Thiệu nổi giận toan đem chém.

Huyền Ðức can rằng:

– Xin Minh công chớ nóng giận, làm hại mưu sĩ không hay.

Viên Thiệu liền truyền đem hạ ngục.

Thư Thọ thấy Ðiền Phong bị hạ ngục, liền về hội họp cả nhà cùng anh em họ hàng, rồi đem gia sản chia hết cho mọi người, dặn dò như vĩnh biệt:

– Tôi theo đại quân đi phen này, nếu thắng uy danh lừng lẫy, còn như bại ắt không có đất chôn.

Cả họ đều ứa nước mắt tiễn đưa.

Bấy giờ Viên Thiệu sai đại tướng Nhan Lương làm tiên phong đến đánh thành Bạch Mã.

Thư Thọ lật đật cản ngăn:

– Nhan Lương tánh không được rộng rãi, tuy có sức mạnh song gánh vác việc lớn một mình không được.

Viên Thiệu đáp:

– Ta biết tài của tướng ta lắm, ngươi làm sao biết được?

Quan Thái thú Ðông quận là Lưu Giêng hay được tin ấy liền sau người về Hứa Xương cấp báo với Tào Tháo.

Tào Tháo liền thương nghị hưng binh cự địch.

Quan Công vào trướng phủ thưa cùng Tào Tháo:

– Nghe Thừa Tướng khởi binh nên xin đi tiền bộ.

Tào Tháo nói:

– Tôi chưa dám phiền đến Tướng quân. Vậy lúc nào cần thì sẽ nhờ đến.

Quan Công liền lui về.

Tháo liền dẫn binh mười lăm vạn, chia ra làm ba đội kéo đi. Ði dọc đường lại gặp thơ của Lưu Giêng cấp báo liền liền. Tháo vội đem năm vạn quân đi trước đến thành Bạch Mã.

Khi đến nơi thấy tướng của Viên Thiệu là Nhan Lương bày binh bố trận, binh giáp đâu đó chỉnh tề.

Tào Tháo khen thầm, rồi hỏi:

– Hàng tướng sĩ có ai dám ra đánh với Nhan Lương chăng?

Tống Hiến bước tới xin đi, Tào Tháo mừng rỡ nói:

– Ngươi là đại tướng của Lữ Bố, nếu ra trận ắt thành công.

Tống Hiến lãnh mạng đề thương lên ngựa xông ra trước trận gặp Nhan Lương đánh chưa đầy hai hiệp, Nhan Lương đã chém Tống Hiến một đao rơi đầu xuống đất.

Quân chạy về phi báo, Tào Tháo thất kinh nói:

– Nhan Lương quả là một tay dũng tướng, lời đồn chẳng sai.

Ngụy Tục bước ra nói:

– Nó đã giết bạn của tôi, vậy xin cho tôi ra báo thù.

Tháo liền cho đi. Ngụy Tục lên ngựa xông ra trước trận.

Ðánh chưa đầy hai hiệp, Nhan Lương cầm đao nhắm ngay đầu Ngụy Tục xáng xuống.

Ngụy Tục đỡ không nổi nhào xuống ngựa chết.

Tào Tháo kinh hãi nói:

– Thật là dũng tướng đó.

Rồi quay lại hỏi các tướng:

– Còn ai dám ra trận nữa không?

Từ Hoảng bước tới xin đi. Tào Tháo nhận lời.

Từ Hoảng liền cầm thương lên ngựa xông ra.

Nhan Lương cũng chẳng thèm hỏi tên họ cứ việc cầm đao xông tới đánh.

Ðánh vừa được mười hiệp Từ Hoảng cũng không chịu nổi phải quày ngựa chạy tuốt vào thành.

Tào Tháo thấy thiệt luôn hai tướng trong lòng buồn bực, nói:

– Nếu có Nhan Lương cầm binh, e binh ta khó thắng được.

Trình Dục nói:

– Tôi xin tiến cử một người ắt trừ Nhan Lương được:

Tào Tháo hỏi ai, Trình Dục liền nói:

– Nếu không sai Quan Công đi thì chẳng ai dám đánh.

Tào Tháo nói:

– Người ấy có hứa là khi lập được công rồi sẽ đi, nay nếu sai người ấy ra trận mà thắng được, ắt người ấy không chịu ở.

Trình Dục lại nói:

– Huyền Ðức nếu còn ắt đầu Viên Thiệu. Ta sai Quan Công ra trận giết tướng của Viên Thiệu, thế nào Viên Thiệu cũng nghi mà giết Huyền Ðức.

Nếu Huyền Ðức không còn, sợ gì Quan Công đi nữa.

Tào Tháo khen phải vỗ tay cười, rồi liền cho người đi thỉnh Quan Công đến.

Quan Công tiếp được lệnh liền vào từ giã hai chị. Hai vị Phu nhân nói:

– Thúc thúc đi chuyến này, nhớ dò la tin tức Hoàng Thúc nhé!

Quan Công vâng dạ rồi lui ra, tay cầm Thanh Long đao, lên ngựa Xích Thố dẫn vài người tùy tùng thẳng đến thành Bạch Mã ra mắt Tào Tháo.

Tào Tháo nói:

– Nhan Lương giết luôn hai tướng, chẳng ai dám đánh nên phải mời Vân Trường đến đây bàn định.

Quan Công nói:

– Ðể tôi nhìn qua một chút xem sao.

Tháo truyền bày rượu thết đãi. Ðang uống, bỗng có tin báo Nhan Lương kéo quân ra thách đánh.

Tháo liền dẫn Quan Công lên núi để quan sát.

Tháo mời Quan Công cùng ngồi, các tướng đều đứng hai bên.

Tháo thấy Nhan Lương đã bày trận thế, cờ bay rợp trời, bào giáp rực rỡ, đao thương sáng loáng, người như rừng gươm, liền trỏ tay xuống bảo Quan Công:

– Tướng quân coi, binh mã Hà Bắc hùng tráng thế đấy!

Quan Công khẽ nghiêng mắt nói:

– Theo ý tôi thì đó cũng chỉ như loại thảo mộc có chi phải lo.

Tháo lại trỏ tay lần nữa nói:

– Người mặc áo vàng, cầm đao dừng ngựa dưới đám tàn lộng kia, chính là Nhan Lương đấy.

Quan Công đưa mắt nhìn qua một chút rồi bảo Tháo:

– Tôi xem Nhan Lương như đứa dựng nêu bán đầu vậy.

Tháo nói:

– Nó tài lắm đó, chớ có khinh thị.

Quan Công liền đứng dậy nói:

– Tôi tuy bất tài song cũng xin ra trận lấy đầu Nhan Lương đem về nạp cho Thừa Tướng.

Trương Liêu nói:

– Giữa chốn ba quân không nên nói đùa!

Quan Công hăng hái nhảy phóc lên ngựa chạy thẳng xuống núi, trợn đôi mắt phụng, dựng cặp mày tằm, vẹt dùa quân Hà Bắc dường như sóng ngã, gió tan.

Nhan Lương đang đứng dưới cây lọng, thấy Quan Công đến vừa muốn hỏi thì ngựa Xích Thố đã đến trước mặt rồi. Nhan Lương chưa kịp trở tay, Quan Công đưa lưỡi Thanh Long đao chém một đao, Nhan Lương ngã lăn xuống ngựa. Quan Công nhảy xuống đất, cắt lấy thủ cấp, treo dưới cổ ngựa, rồi lại phi thân lên yên, vung đao ra khỏi trận, dễ dàng như vào chỗ không người.

Binh tướng Hà Bắc sợ nhốn nháo cả lên, chưa đánh đã rối loạn.

Quân Tào thừa thế đánh tràn sang, chém giết tơi bời, cướp được lừa ngựa, khí giới vô số.

Quan Công phi ngựa lên núi, các tướng đều hết lời khen mừng.

Tào Tháo nói:

– Tướng quân thật là thần nhân đó.

Quan Công nói:

– Tôi đây đã thấm vào đâu. Em tôi là Trương Dực Ðức, nơi chốn trăm muôn binh sĩ, lấy đầu thượng tướng như thò tay vào túi lấy đồ.

Tào Tháo nghe nói thất kinh, liền day lại dặn các tướng sĩ:

– Nếu sau có gặp Trương Dức Ðức, chớ nên đánh với hắn.

Lại truyền mỗi người lấy viết biên nơi bâu áo cho nhớ.

Bấy giờ quân tàn bại của Nhan Lương bỏ chạy về giữa đường, gặp Viên Thiệu liền báo cáo:

– Bẩm Chúa công, có một dũng tướng mặt đỏ râu dài, cầm đạo đao cỡi ngựa xông vào trận, chém mất Nhan Tướng quân rồi!

Thiệu thất kinh hỏi:

– Kẻ nào thế?

Thư Thọ nói:

– Mặt đỏ râu dài, hẳn là Quan Vũ, em Huyền Ðức chứ ai? Thiệu đùng đùng nổi giận, trỏ mặt Huyền Ðức nói:

– Em người giết mất tướng yêu của ta, hẳn các ngươi đồng mưu với nhau rồi! Còn để ngươi làm gì nữa?

Mắng rồi thét đao phủ lôi Huyền Ðức ra chém!

Hồi Thứ Hai Mươi Sáu

Viên Bản Sơ hao binh tổn tướng
Quan Vân Trường treo ấn tìm anh

Viên Thiệu muốn chém thì Huyền Ðức ung dung nói :

– Em tôi thất lạc mải đâu, làm sao tôi biết ? Lại còn thiên hạ thiếu gì người mặt đỏ râu dài mà lại nhứt định buộc là em tôi ?

Viên Thiệu vốn tánh tình bất nhất nghe vậy lại trách Thơ Thọ :

– Nếu nghe ngươi, suýt nữa xử người vô tội rồi !

Bỗng có một tướng ra trước trướng mà rằng :

– Tôi là bạn thân Nhan Lương xin vì bạn mà báo thù .

Nhìn lại thì ra Văn Xú.

Viên Thiệu mừng rỡ, cấp cho mười ngàn binh sĩ ra thành. Ðồng thời, Viên Thiệu cũng cho binh sang qua sông Huỳnh Hà.

Huyền Ðức thưa :

– Tôi mang ơn Minh Công đã lâu, nay xin cho tôi đi nghe ngóng tin tức .

Viên Thiệu liền cho Huyền Ðức cùng Văn Xú tiến quân lên .

Huyền Ðức đi sau, Văn Xú mang đại đao lên ngựa đi trước khiêu chiến. Lúc đó Quan Công được Tào Tháo dâng biểu lên Vua phong chức Hớn Thọ Ðình Hầu, lại đúc ấn ban cho.

Quân vào báo Viên Thiệu lại sai đại tướng Văn Xú tới đánh nữa, binh mã đã vượt Huỳnh Hà rồi.

Tào Tháo liền truyền hậu quân thành tiền quân, tiền quân thành hậu quân mà đi tới phía Tây Hà.

Lữ Kiền lấy làm lạ sao Thừa Tướng lại cho lương thảo đi trước, trong lòng hồ nghi lắm. Hỏi thì Tào Tháo chỉ cười trừ.

Ði gần tới Giang Tân, nghe phía trên la hét ầm ầm. Hỏi thì quân bảo là đại quân của Văn Xú sắp tới nơi, và quân ở phía trước của Tào Tháo đang bị rối loạn.

Tháo truyền rút hết quân lên núi đất tạm lánh và hạ trại.

Khi Văn Xú tới , Tào Tháo lại bảo quân cứ cởi giáp tháo yên nghỉ ngơi !

Lữ Kiền dậm chân than trời, Tào Tháo bảo :

– Ngươi cứ yên, ta dùng mồi nhử giặc đó . Nói rồi nháy Tuân Du mà cười.

Quân Văn Xú tới, thấy xe lương thảo bỏ bừa bãi thì tan rã hàng ngũ mà thi nhau tranh cướp.

Lúc đó Tào Tháo mới nổi mật lệnh, bao nhiêu tinh binh mai phục đổ ra, chém giết quân Viên Thiệu không sao kể xiết !

Văn Xú đành phải chạy dài.

Tào Tháo nhìn thấy hỏi :

– Có ai ra bắt Văn Xú danh tướng Hà Bắc cho ta ?

Từ Quảng, Trương Liêu cùng xông ra, Văn Xú lấy cung bắn một mũi tên trúng vào chóp mũi Trương Liêu, lại bắn mũi nữa, con ngựa của Trương Liêu quỵ xuống. May có Từ Quảng chạy tới, Văn Xú đối địch luôn và đuổi Từ Quảng phải thua chạy, chợt một tướng mặt đỏ râu dài xuất hiện, chặn đường Văn Xú mà rằng . Tướng giặc chớ chạy !

Văn Xú quát mắng :

– Ngươi chờ xem ta trả thù cho Nhan Lương đây .

Nói rồi hai bên đánh vùi, hồi lâu Văn Xú không cự nổi Quan Công, toan chạy thì đã bị một nhát thanh long đao, đầu bay khỏi cổ .

Quân Hà Bắc phần bị giết, phần rớt xuống sông vô số .

Huyền Ðức lúc đó đi tới thì có quân báo :

– Lại tướng mặt đỏ râu dài giết mất Văn Xú rồi !

Huyền Ðức mừng thầm chạy tới nhìn xa xa thấy một tứớng chạy đi chạy lại như baỵ, lại có phất phới cờ hiệu Hớn Thọ Ðình Hầu Quan Vân Trường.

Huyền Ðức thầm tạ ơn trời đất là quả thực em mình vẫn còn sống .

Huyền Ðức định kêu gọi thì lại thấy quân Tào ào ào kéo tới nên phải lui về.

Quách Ðồ và Thẩm Phối về trình lại Viên Thiệu :

– Ðúng là Vân Trường vùa chém mất đại tướng Văn Xú .

Viên Thiệu lại hô lôi Huyền Ðức ra chém.

Huyền Ðức kêu oan biện bạch :

– Tào Tháo rất ghét tôi, thấy tôi ở với Minh Công nên sai Vân Trường ra giết Nhan Lương , Văn Xú để Minh Công nổi giận mà giết tôi. Riêng Vân Trường không được biết tôi ở đây vậy để tôi viết thư, thể nào em tôi cũng về với Minh Công.

Viên Thiệu cả mừng, rồi lui binh đóng tại Võ Dương, không đánh nữa.

Tào Tháo cũng mệt mỏi chỉ để Hạ Hầu Ðôn giữ Hải Khâu, còn mình thì lui về Hứa đô.

Sau đó Tào Tháo mới kể những mưu kế của mình cho Lữ Kiền biết, mọi người đều khen phục.

Tào Tháo mở tiệc đãi tướng sĩ thì lại có quân vào báo : tại Nhữ Nam, cướp bóc nổi dậy, Tào Hồng dẹp không nổi nên phải cho người về xin cúu viện.

Quan Công xin đi dẹp bọn cướp.

Tào Tháo nói :

– Tướng Quân cần nghỉ ngơi, việc này không dám phiền tới .

Quan Công lại thưa :

– Tôi ở không, e tôi sanh bịnh.

Tào Tháo lấy làm lạ, lại cho đi, truyền Vu Cấm , Nhạc Tấn theo làm Phó tướng .

Tuân Úc lại rỉ tai Tào Tháo :

– Vân Trường đang có ý tìm Lưu Bị , đừng nên cho y đi xa nhiều.

Tào Tháo bảo :

– Thắng trận này, ta không cho y đi nữa .

Còn Vân Trường tới Nhữ Nam thì quân sĩ bắt đuợc hai người tình nghi đưa tới.

Quan Công nhìn lại, thất kinh, thì ra một trong hai người là Tôn Càng.

Tôn Càng, kể chuyện lênh đênh trôi nổi, sau về với Lưu Tích, và hỏi vì sao Quan Công về với Tào Tháo ?

Quan Công cũng đem chuyện mình nói lại.

Tôn Càng tiếp :

– Tôi nghe Lưu Hoàng Thúc ở bên Viên Thiệu mà chưa có dịp sang tìm .

Quan Công nói :

– Nếu anh tôi ở bên Viên Thiệu thì tôi phải đi ngay. Hiềm vì mới giết một hai đại tướng của y , e rằng y không chịu .

Tôn Càng liền bảo :

– Vậy để tôi đi trước coi tình hình thế nào đã .

Quan Công bảo :

– Ðược thấy anh tôi thì muôn thác tôi cũng không ngại .

Tôn Càng đi ngay đêm hôm đó .

Hôm sau, Quan Công ra trận thì gặp Cung Ðỗ.

Quan Công hỏi vì sao mà bội phản triều đình ?

Cung Ðỗ trả lời :

– Ngươi mới là kẽ bội chúa, Huyền Ðức đang ở bên Viên Thiệu, sao ngươi lại theo Tào Tháo ?

Quan Công hươi đao tới, Cung Ðỗ lại chạy.

Chạy một quãng. Cung Ðỗ ngưng lại rồi nói :

– Ơn Chúa cũ ông chớ quên, mau tấn binh, tôi để lại Nhũ Nạm cho ông .

Nói xong, bỏ đi mất. Quan Công liền ào quân tới chiếm xong Châu Huyện, an dân rồi trở lại Hứa Xương.

Tào Tháo thăng thưởng và khao quân sĩ .

Sau đó Vân Trường về trình hai chị tin tức Huyền Ðức.

Hai chị mừng rỡ dặn Vân Trường phải hành động cho khéo.

Từ đó Quan Công đêm ngày lo kế thoát thân.

Chợt có Truơng Liêu tới nói :

– Nghe anh được tin của Hoàng Thúc, tôi xin có lời mừng .

Quan Công nói :

– Ðâu đã gặp mà mừng.

Truơng Liêu lại hỏi :

– Anh với Huyền Ðức và anh với tôi khác nhau ra sao ?

Quan Công nói :

– Anh với tôi là bậu bạn, Huyền Ðức với tôi là anh em, lại thêm tình tôi chúa nữa .

Liêu hỏi liệu Quan Công có sang Hà Bắc không ?

Quan Công đáp :

– Lời thưa với Thừa Tướng trước đã rõ ràng minh bạch rồi.

Trương Liêu về trình lại Tào Tháo, Tháo bảo không lo, vì đã có kế cầm chân Quan Công rồi .

Lúc đó có nguời vô trình có khách nhận là bạn cũ tới thăm.

Mời vô Quan Công chưa nhận được ra ai thì khách nói là bộ hạ của Viên Thiệu mang thư tới.

Người ấy là Trần Chấn, lấy thư của Huyền Ðức đưa ra.

Quan Công xem, cảm động khóc rồi nói :

– Chỉ vì em chưa biết anh ở đâu đó thôi chứ đâu dám quên nghĩa cũ !

Trần Chấn giục Quan Công nên đi sớm.

Quan Công đáp :

-Xưa tôi đường đường chính chính tới đây nay tôi đi cũng phải như vậy. Xin ông về thưa với anh tôi để tôi

đi từ giã Tào Tháo, sau đó đưa nhị tẩu của tôi qua ngay .

Trần Chấn lo :

– Nếu Tháo không cho đi thì sao ?

Quan Công đáp :

– Như vậy thì chết chớ không ở đây nữa .

Sau đó Quan Công viết thư cho Trần Chấn mang về .

Rồi sau đó Quan Công vào yết kiến Tào Tháo.

Tào Tháo hay tin, đã cho treo bảng ‘Hồi tỵ’ trước cổng để lánh mặt.

Quan Công một mặt cứ sai sắm sửa xe để phò nhị tẩu đi, một mặt niêm phong hết của cải vàng bạc ấn trả lại Tào Tháo. Sau mấy lần đến yết kiến Tháo đều gặp bảng Hồi ty.

Quan Công đành viết phong thư để lại và treo ấn Hán Thọ Ðình Hầu ngay trên cỗng, rồi dẫn vài tên quân cũ của mình mà theo xe hai chị.

Kẻ giữ cửa toan ngăn, thấy Quan Công lăm lăm cây thanh long đao nên phải bỏ cửa mà né, sau đó ra lệnh đẩy xe hai chị đi trước.

Nói về Tào Tháo còn đang đắc ý thì quân mang phong thư và ấn tín vào trình.

Tào Tháo thở dài :

– Quan Công đi mất rồi !

Lại có quân về báo Quan Công chỉ dắt có vài tên quân đi ra cửa Bắc.

Sau lại có quân về trình bao nhiêu của cải vàng bạc Quan Công niêm phong và để lại hết, cả các thị tỳ cho trước đây cũng chẳng mang theo người nào cả.

Ai nấy, người thì ngạc nhiên, người thì khen ngợi, duy có một tướng đứng lên xin đi bắt Quan Công , mọi người nhìn xem ai ; thì là Thái Dương.

Hồi Thứ Hai Mươi Bảy

Qua ải, Quan Công chém sáu tướng
Ðưa chủ, Xích Thố lướt ngàn trùng

Thái Dương xưa nay thấy Quan Công được trọng đãi thì ghét lắm.

Tào Tháo nói :

– Không quên chúa cũ, đó là bậc trượng phu , các người nên lấy đó làm gương .

Trình Dục nói thêm :

– Ðược Quan Công thì Viên Thiệu như hùm thêm cánh , giết đi là phải .

Tháo nói :

– Ta đã hứa, không nên thất tín .

Lại quay sang Trương Liêu :

– Vân Trường chẳng ham vàng ham bạc, ta thật mến y . Vậy ngươi đi theo ta, gọi là tiễn va và tặng va chút lễ vật hầu va ghi nhớ lại sau này .

Nói rồi cùng Trương Liêu đi ngay.

Vân Trường đang đi , chợt nghe tiếng gọi :

– Xin hãy chậm lại .

Quay lại nhìn thì ra Trương Liêu, Quan Công liền bảo quân đẩy xe đi trước, còn mình hoành đao đứng lại hỏi :

– Văn Viễn có việc chi vậy ?

Trương Liêu nói :

– Thừa Tướng sắp tới để tiễn anh, anh nên đợi môt chút .

Quan Công nói :

– Thừa Tuớng mà mang thiết kỵ bắt tôi thì tôi cũng xin liều thác mà thôi !

Nói rồi, đứng trên cầu mà đợi .

Phút chốc, Tào Tháo cùng vài mươi quân kỵ đi tới , theo sau là Hứa Chữ, Từ Quảng, Vu Cấm, Lý Ðiển. Tháo ra lệnh cho chư tướng dừng lại, Quan Công thấy không ai mang theo khí giới thì mới an tâm.

Tào Tháo hỏi han :

– Vân Trường sao gấp lắm vậy ?

Quan Công nghiêng mình thi lễ mà rằng :

– Tôi đã có trình Thừa Tướng trước rồi , nay anh tôi ở Hà Bắc nên tôi xin đi gấp. Dám mong Thừa Tướng nhớ lại lời hứa khi xưa .

Tào Tháo nói :

– Ta muốn thủ tín với thiên hạ, lẽ nào quên lời đã hứa. Tuy nhiên ngại tướng quân dọc đường thiếu thốn nên có chút lộ phí tiễn hành .

Nói rồi cho tùy tướng dâng vàng bạc.

Quan Công thưa :

– Cảm nghĩa bấy lâu vẫn còn đủ dùng, xin Thừa Tướng lưu lại mà khao tướng sĩ .

Tháo lại nói :

– Thì chấp chi chút vật mọn so với công lao to lớn bấy lâu !

Quan Công thưa :

– Có chút công khó nhọc , không đáng Thừa Tướng quan tâm .

Tào Tháo nghĩ rồi nói :

– Ta giận mình phúc bạc không cầm được Tướng quân lại. Thôi thì có chiếc cẩm bào xin tặng Tướng quân làm vật lưu niệm vậy .

Nói rồi sai tướng đệ áo lên, Quan Công vẫn còn ngại sanh biến nên cứ ở trên lưng ngựa lấy thanh long

đao vích áo lên đặt ngang trên mình ngựa, rồi nghiêng mình tạ từ Tào Tháo : Ðội ơn Thừa Tướng, tôi chẳng dám quên .

Tạ xong, giục ngựa nhắm hướng Bắc mà đi tới.

Các tướng giận nói :

– Vân Trường vô lễ , sao không bắt lại ?

Tào Tháo bảo :

– Người đó một mình, chúng ta mấy chục người , có đề phòng là việc tự nhiên. Còn điều ta đã hứa thì phải giữ.

Nói rồi cũng ra về.

Quan Công đi lên, chẳng thấy xe nhị tẩu đâu, bỗng có người trên núi chạy xuống , cổ ngựa có đeo một thủ cấp, đến trước Quan Công mà thưa :

– Tôi là Liêu Hóa từ nhỏ bị lưu lạc phải cướp giết mà sinh sống , nay đồng đảng của tôi bắt được hai vị phu nhơn, sau mới hay là gia quyến của Lưu Hoàng Thúc. Tôi hối hận, chém đầu nó để tạ tội .

Nói rồi đưa Quan Công lên núi và đẩy xe hai vị phu nhơn ra trả.

Quan Công vòng tay xin hai chị miễn thứ.

Hai phu nhơn nói :

– Nếu chẳng có Liêu Hóa, at chúng tôi đã bị nhục rồi .

Quan Cộng nghe nói lạy tạ Liêu Hóa .

Liêu Hóa có ý đem lâu la đi theo.

Quan Công nghĩ là cho dư đảng giặc Huỳnh Cân đi theo cũng bất tiện nên kiếm lời từ chối khéo .

Quan Công lại phò nhị tẩu mà đi. Trời tối, vô xóm hỏi thăm một nhà để xin tạm nghỉ.

Ông chủ nhà hỏi thăm danh tính , Quan Công nói thực. Ông già mừng rỡ và truyền đặt tiệc thết .

Lại khiến vợ con mời hai vị phu nhơn vào nhà trong rồi nói :

– Tôi là Hồ Hoa, có con là Hồ Bang làm bộ hạ với Viên Thục, Thái Thú Vĩnh Dương . Tôi gửi một

bức thư nhờ Tướng Quân đưa cho nó thì tôi cảm ơn vô cùng.

Quan Công lãnh thư rồi nghỉ. Rạng hôm sau lại phò hai chị lên đường.

Tới ải Ðông Lãnh, tướng trấn nhậm là Khổng Tú ra ngoài thành đón.

Quan Công xuống ngựa đáp lễ.

Khổng Tú hỏi thăm đi đâu.

Quan Công nói đi Hà Bắc để tìm anh.

Khổng Tú nói :

– Viên Thiệu là thù địch, chẳng lẽ Thừa Tướng để Tướng quân sang đó hay sao?

Quan Công đáp :

– Ðúng vậy, Thừa Tướng đã hứa với tôi rồi mà .

Khổng Tú lại nói :

– Vậy xin cho tôi xem văn bảng .

Quan Công nói :

– Vì vội đi không kịp xin văn bằng.

Khổng Tú lập tức trở vào thành nai nịt rồi nhóm binh sĩ trở lại ngoài thành mà bảo Quan Công :

– Không có văn bằng ta không để cho đi, vậy ngươi dám qua thành không ?

Quan Công liền hươi thanh long đao đánh ngay.

Khổng Tú đánh đỡ không lại giây lát đã bị đầu rơi xuống đất.

Sau đó, Quan Công lại phò nhị tẩu đến Lạc Dương, quân vào báo tướng giữ ải là Hàng Phước hay .

Hàng Phước nhóm thủ hạ lại thương nghị .

Mạnh Ðang nói :

– Sức như Văn Xú còn thua, huống hồ chúng ta , vậy phải dùng mưu. Tôi xin ra đánh rồi giả thua chạy. Tướng quân dùng cung mà lén bắn thì hạ được nó .

Bàn xong, Hàng Phước dẫn Mạnh Ðang ra chặn đường Quan Công để hỏi văn bằng.

Quan Công nói đi vội nên không có.

Hàng Phước bảo vậy thì phải quay trở lại.

Quan Công nói :

– Khổng Tú ngăn ta nên bị hại, nguoi cũng muốn ngăn sao ?

Hàng Phước liền hô chư tướng ra đánh, tức thì Mạnh Ðang ra đối địch, được ba hiệp, liền bỏ chạy. Nào hay ngựa Xích Thố phi như bay , mưu hay chưa thấy đâu đã thấy một loáng đao, Mạnh Ðang chết đứt làm hai đoạn.

Hàng Phước núp ở cỗng thành bắn ra một mũi tên , trúng cánh tay trái Quan Công.

Quan Công cắn tên giựt ra, máu chảy dầm dề, rồi đó Quan Công giục ngựa lại đánh Hàng Phước.

Phước né không kịp, bị ngay một đao chết không kịp trối.

Rồi Quan Công lại tiếp tục phò nhị tẩu tới ải Nghi Thủy.

Tướng giử ải là Biện Hỷ, cũng là dư đảng Huỳnh Cân ngày trước, nghĩ kế mai phục giáp binh ở Trấn Quốc Tự để hại Quan Công.

Bày xong kế Biện Hỷ ra nghênh đón Quan Công.

Quan Công kể việc chém Khổng Tá, Hàng Phước cho Biện Hỷ nghe.

Biện Hỷ làm ra vẻ cảm thông rồi nói :

– Sau này, tôi sẽ thưa lại để Thừa Tướng rõ.

Nói xong mời Quan Công vào chùa mà thết đãi cơm chay. Trong chùa có Phổ Tịnh Thiền Sư, người cùng làng với Quan Công, hay biết mưu kế Biện Hỷ liền nói nhỏ cho Quan Công rõ.

Quan Công liền khiến quân tâm phúc cầm khí giới theo luôn bên mình.

Ðang ăn uống, bỗng Biện Hỷ làm ám hiệu, Quan Công liền hỏi :

– Tướng quân mưu hại ta chăng ?

Biện Hỷ cứ hô tả hữu xông tới.

Quan Công vung gươm chém chết hết.

Biện Hỷ bỏ chạy quanh phương trượng cũng bị Quan Công chém một nhát chết.

Xong rồi, Quan Công vào tìm Phổ Tịnh tạ ơn .

Phổ Tịnh nói :

– Tôi cũng bỏ chùa này mà đi vân du, ngày sau có dịp, ta lại gặp nhau .

Rồi Quan Công lại phò hai chị qua Vĩnh Dương.

Thái Thú Vĩnh Dương là Vương Thực là suôi gia với Hàng Phước, nay mưu để trả thù , nên sai dọn quán dịch tử tế, rồi đích thân ra nghênh tiếp Quan Công mà nói rằng :

– Nghe đại danh bấy lâu, nay mới được gặp, thật là vạn hạnh kính mời Tướng Quân ở lại nơi quán dịch nghỉ ngơi.

Quan Công cảm tạ, thỉnh hai chị đi trước, còn mình theo sau.

Nghĩ ngơi ở quán dịch xong, Vương Thực lại mời Quan Công đi phó yến.

Quan Công kiếu không đi, Vương Thực liền cho quân mang ruợu thịt đến tận nơi thết đãi, mặt khác, Vương Thực ra lệnh cho Hồ Bang lén chất củi , đồ dẫn lửa sau quán dịch chờ sang canh ba thì đốt.

Hồ Bang được lệnh nghĩ thầm :

– Bấy lâu nghe danh Quan Công mà chưa biết mặt . Nghĩ rồi lén lại gần chỗ Quan Công đang xem sách mà ngó.

Nghe tiếng động Quan Công hỏi ai ?

Hồ Bang thi lễ rồi nói :

– Tôi là Hồ Bang tòng sự tại huyện này !

Quan Công liền hỏi :

– Có phải con của Hồ Hoa không ?

Hồ Bang thưa phải, Quan Công liền trao cho thư của Hồ Hoa.

Ðọc xong Hồ Bang thất kinh nghĩ thầm : suýt nữa ta hại người có nghĩa khí rồi !

Nghĩ rồi mách lại tất cả đầu đuôi âm mưu của Vương Thực cho Quan Công rõ.

Quan Công cảm ơn, rồi mời hai chị đi trước, mình cũng nai nịt theo sau.

Hồ Bang lại nói cửa thành đã mở, xin đi ngay kẻo có hại.

Quan Công nghe lời đi gấp, giây lát quay lại thấy quán dịch đã bị lửa cháy ngất trời.

Chợt một đạo binh theo tới, đi đầu chính là Vương Thục.

Vương Thực kêu :

– Quan Công chớ chạy, có ta bắt ngươi đây !

Vương Thực nói rồi xông tới chém, Quan Công đón đỡ, chỉ một đao, Vương Thực đã bị bay đầu.

Dọc đường, Quan Công thầm cảm tạ Hồ Bang.

Tới Hượt Châu, quân vào báo cho Lưu Diên hay, Lưu Diên ra thành nghinh đón.

Quan Công thi lễ mà rằng :

– Từ khi cách biệt nhau quan Thái Thú vẫn đặng mạnh chớ !

Lưu Diên cảm ơn rồi hỏi :

– Chẳng hay ngài đi đâu ?

Quan Công đáp :

– Tôi từ giã Thừa Tướng để đi tìm anh tôi.

Lưu Diên lại hỏi :

– Huyền Thúc đang ở bên Viên Thiệu mà Viên Thiệu là kẻ thù, sao Thừa Tướng lại cho anh đi ?

Quan Công bảo đã có lời giao ước trước.

Lưu Diên lại nói :

– Bộ hạ của Hạ Hầu Ðôn là Trần Kỳ đang giữ ải Huỳnh Hà, e rằng không cho anh đi đâu.

Quan Công nghe xong, cứ đẩy xe đi tới.

Tới bến đò Huỳnh Hà thì Trần Kỳ tới hỏi :

– Ai đó ?

Quan Công đáp :

~Tôi là Quan Công từ giã Thừa tướng đi tìm anh tôi .

Trần Kỳ hỏi có văn bằng gì không, Quan Công đáp đi vội nên không có.

Trần Kỳ bảo :

– Không có văn bằng thì không qua đặng .

Quan Công nói :

– Ngươi không nghe ta giết các tướng mà qua ải rồi sao ?

Trần Kỳ đáp :

– Gặp ta thì ngươi không làm khó được đâu , nói rồi xông tới đánh.

Quan Công vung một đao, Trần Kỳ đã rụng đầu xuống đất.

Liền đó Quan Công lấy thuyền, mời hai chị qua sông.

Khỏi Huỳnh Hà thì tới phần đất của Viên Thiệu.

Tính từ Hứa đô tới đây Quan Công đã phải vượt qua năm cửa ải và giết mất sáu tướng của Tào Tháo. .Nghĩ tới đó thì Quan Công ngậm ngùi không vui, sau lại tự bảo mình đâu muốn thế, chẳng qua là vì bó buộc mà thôi.

Còn đang suy đi nghĩ lại thì có một người phi ngựa tới.

Quan Công vội nhìn xem thì ra là Tôn Càng.

Tôn Càng kể :

– Hiện Lưu Tích đã chiếm đoạt đất Nhũ Nam , tôi phải đi qua Hà Bắc để cùng Viên Thiệu bàn kế phá Tào. Nào ngờ tới nơi mới biết nội bộ bên Viên Thiệu thiệt là lủng củng, ai cũng nghi kỵ lẫn nhau, quân sĩ trở thành chểnh mảng. Vì vậy Huyền Ðức đã bỏ Viên Thiệu mà qua Nhữ Nam, người e tướng quân về với Viên Thiệu cho nên sai tôi đón chờ Tuớng quân ở đây .

Quan Công khiến Tôn Càng ra , mắt hai vị phu nhơn, Tôn Càng lại kể chuyện đã mấy lần Viên Thiệu toan giết Huyền Ðức, hai Phu nhơn nghe xong đều khóc lóc.

Quan Công nghe theo lời chỉ dẫn của Tôn Càng liền quay xe hai chị đi về hướng Nhữ Nam.

Chợt bụi bay mù trời một đoàn hùng binh kéo tới, đi đầu chính là đại tướng Hạ Hầu Ðôn.

Hạ Hầu Ðôn vừa tới đã kêu lớn :

– Vân Trường đừng chạy nữa , có Ðôn tới bắt ngươi đây !

Hồi Thứ Hai Mươi Tám

Chém Thái Dương, anh em đoàn tụ,
Ðến Cổ Thành, tôi chúa an vui

Hạ Hầu Ðôn dẫn năm trăm quân kỵ chạy tới và nói :

– Thừa lệnh Thừa Tướng, ta trấn giữ nơi đây, làm sao ngươi lại xông pha chém giết thủ hạ của ta như vậy ?

Nói rồi xông lại đánh với Quan Công.

Chợt có người mang chiếu của Tào Tháo tới, kêu lớn :

– Chớ giao chiến với Vân Trường nữa !

Rồi người đó mở chiếu đọc :

– Thừa Tướng kính mến tấm lòng trung nghĩa của Vân Trường, lại e dọc đường bị ngăn cản nên có chiếu này truyền tướng quân thâu binh .

Hạ Hầu Ðôn hỏi :

– Vậy chớ chuyện qua ải chém tướng, Thừa Tướng đã rõ chưa ?

Người ấy đáp chưa.

Tức thời Hạ Hầu Ðôn nói :

– Vậy ta phải bắt Vân Trường mới được !

Nói rồi lại xông vào, Quan Công cũng nổi giận nạt rằng :

– Dễ ta sợ ngươi sao !

Hai người lại đánh vùi, được ba hiệp có một tướng phi ngựa như bay tới.

Hai bên nhìn lại xem ai, thì ra Trương Liêu.

Trương Liêu kêu Hạ Hầu Ðôn mà rằng :

– Thừa Tướng được báo cáo việc Quan Công chém sáu tướng rồi , nhưng vì có lời giao ước, lại vì cảm nghĩa, nên Thừa Tướng truyền cho Tướng quân phải bãi binh .

Hạ Hầu Ðôn nói :

– Trần Kỳ là cháu Thái Dương, vậy nói làm sao ?

Trương Liêu nói :

– Anh để tôi khuyên giải chắc Thái Dương sẽ nguôi.

Hạ Hầu Ðôn đành phải lui binh .

Trương Liêu hỏi Quan Công nay định đi đâu.

Quan Công đáp :

– Huyền Ðức hiện không ở với Viên Thiệu nữa nên tôi đang đi tìm.

Trương Liêu khuyên nếu vậy hãy trở lại với Tào Tháo đã.

Vân Trường đáp :

– Lẽ nào có thể như vậy được nữa. Sau đó hai bên giã từ nhau.

Quan Công đi hồi lâu, gặp cơn mưa rất lớn nên phải xin vào một nhà gần đó tá túc.

Một ông già ra nghênh tiếp và nói :

– Tôi là Quách Thường, nghe đại danh đã lâu . Nói xong sai dọn cơm nước tử tế khoản đăi, lại mời hai phu nhơn an nghỉ trong hậu đường, còn Vân Trường và Tôn Càng mời nghỉ ở nhà ngoài.

Bỗng có một thanh niên đi ngang qua, Quách Thường buồn rầu nói :

– Ðó là con tôi, mà tánh tình du đảng, ngày ngày giao du với bọn thảo khấu, thiệt là vô phước cho nhà tôi . Quan Công cũng buồn lòng dùm.

Canh ba đêm đó, có tiếng người la ngựa hí.

Quan Công, Tôn Càng vội cầm gươm ra xem thì thay dưới dất có một người dãy dụa, còn đám gia binh đang đánh nhau với một toán người . Thì ra con Quách Thường đem người tới trộm ngựa, bị ngựa đá nên nằm lăn ra đó .

Quách Thường cũng chạy tới, rầy la con không ngớt và xin lỗi Quan Công.

Quân cướp lui rồi, sáng hôm sau, Quan Công từ giã Quách Thường cùng Tôn Càng phò hai chị lên đường .

Ði được hai mươi dặm, chợt gặp một tốp quân sĩ mấy trăm người có hai tướng dẫn đầu, một mặc chiến bào, lại có con Quách Thường đi theo .

Tướng mặc chiến bào nói :

– Muốn đi thì để con ngựa Xích Thố lại cho ta .

Quan Công hỏi :

– Ngươi là ai mà hống hách làm vậy ?

Tướng kia đáp :

– Ta là bộ hạ Trương Giác tức Ngươn Thìệu đây .

Quan Công lại bảo :

– Ngươi theo Trương Giác mà không biết Lưu , Quan , Trương là ai ?

Ngươn Thiệu đáp :

– Ta vẫn nghe tả người mà chưa gặp bao giờ .

Quan Công tức thì mở túi râu ra, tướng kia liền xuống ngựa mà rằng :

– Tôi lở xúc phạm đại nhân dám xin tha thứ .

Quan Công hỏi :

– Làm sao mà ngươi nghe danh ta ?

Người ấy đáp :

~Trên núi Ngọa Ngưu San có một người quê ở Quảng Tây, tên là Châu Thương sức mạnh phi thường cứ nhắc đến ngài luôn nên tôi mới biết .

Quan Công nói :

– Chốn lục lâm chẳng phải là nơi nương thân của hào kiệt, sao chẳng về theo ta .

Người kia đáp xin vâng, thì đàng xa một người đen thui phi ngựa như gió tới dẫn theo hàng ngàn lâu la , thấy Quan Công thì quì xuống mà rằng :

– Tôi nghe oai danh tướng công bấy lâu, những mong được theo phò tá, ngặt vì nương tựa chốn sơn trại bấy lâu, e tướng công không thâu dụng; may mà được gặp tướng công nơi đây dám xin lượng tình mà cho tôi đi theo hầu là may lắm .

Quan Công hỏi han tên họ .

Người kia trình tên là Châu Thương.

Quan Công cảm tấm lòng thành khẩn mà cho đi theo .

Lúc đó Cam phu nhân mới nói :

– Thúc thúc vì chị em tôi mà một mình chịu khó , lúc trước Liêu Hóa có xin theo mà không cho, nay lại cho Châu Thương, dù sao mọi việc chúng tôi cũng hoàn toàn xin nghe theo thúc thúc hết ?

Quan Công quay lại bảo Châu Thương :

– Chẳng phải ta vô tình, tuy nhiên mọi việc cần được các tẩu tẩu của ta chấp thuận đã. Vậy ngươi hãy tạm trở lại núi, chờ ta kiếm được anh ta rồi hãy hay.

Châu Thương lại năn nỉ :

– Thì xin cho tôi theo một mình vậy, bao nhiêu lâu la xin để lại cho Nguơn Thiệu hết .

Quan Công trình lại hai chị, hai chị bằng lòng, thế là Châu Thương theo Quan Công mà đi.

Dọc đường , Châu Thương cho biết có một ngôi Cổ Thành; cách đây vài tháng có người xưng là Trương Phi chiếm cứ, hiện có hơn bốn ngàn người ngựa.

Quan Công mừng rỡ mà rằng :

– Từ khi lạc lõng ở Từ Châu, ta chẳng rõ em ta ở đâu, nay có tin này, thiệt là Trời run rủi .

Bèn cho Tôn Càng đi thông báo Trương Phi mau xuống để đón tiếp hai chị.

Nguyên Trương Phi trước đó có đến Tri Huyện Cổ Thành mượn lương, viên này không cho, Trương Phi giết luôn rồi đoạt Cổ Thành.

Ngày kia đang còn ngồi toan tính thì có quân báo Tôn Càng tới.

Trương Phi vội ra đón.

Tôn Càng kể chuyện Quan Công phò nhị tẩu rồi giục Trương Phi ra nghênh đón.

Trương Phi tức thời lên ngựa mà đi tay còn cầm lăm lăm cây thương.

Tôn Càng chẳng hiễu ra sao cả.

Quan Công thấy Trương Phi thì đưa đao cho Châu Thương giữ rồi giục ngựa bước tới, mừng mừng rỡ rỡ :

– Hiền đệ mau mở cửa thành đón hai chị vào.

Chỉ thấy Trương Phi mắt trợn tròn, râu đứng thẳng như râu cọp đằng đằng sát khí nạt rằng :

– Ngươi gạt huynh trưởng, đầu Tào Tháo lãnh ấn công hầu nay lại tới gạt ta nữa chăng ?

Quan Công vội nói :

– Khoan đã em. Việc ấy khá dài, xin hãy đón nhị tẩu vào thành rồi nhị tẩu sẽ kể cho em nghe .

Lúc đó, hai vị phu nhân vừa kịp nghe thấy vội vén rèm xe mà nói :

– Bớ tam thúc, làm gì vậy ?

Trương Phi liền thưa :

– Bây giờ thì hai chị hết ngại rồi, để em giết thằng giặc này xong rồi rước hai chị nhập thành .

Nhị vị phu nhân lại hết lời năn nỉ :

– Trước đây ở bên Tào Tháo là ở đỡ để nghe tin Hoàng Thúc. Nay biết tin thì đi ngay, tạm thúc chớ nghi ngờ gì .

Quan Công cũng nói theo :

– Sao em lại ngờ oan cho anh ?

Chợt đàng sau Quan Công, có một đám binh mã kéo hiệu cờ Tào Tháo đi tới.

Trương Phi hét lên :

– Ðúng là mi tới định bắt ta đây !

Quan Công liền nói :

– Hiền đệ chờ ta đón đánh tướng kia sẽ rõ hư thực .

Trương Phi tức thời lên thành quan sát.

Tướng vừa tới là Thái Dương trông thấy Quan Công thì cả giận mắng ngay :

– Mi giết cháu ta là Trần Kỳ nay ta đến đây bắt mi đền mạng .

Nói rồi hươi thương xông vào chém .

Quan Công cũng giục ngựa quất thanh long đao một nhát, đầu Thái Dương đã rụng xuống đất.

Trương Phi khi đó mới tin lòng Quan Công, mở rộng cỗng thành đón hai chị và Quan Công

vào . Chợt có quân báo cáo có người phi ngựa tới rất gấp. Nhìn ra thì là Mê Trước và Mê Phương.

Mê Trước nói :

– Từ ngày thất lạc ở Từ Châu, chẳng nghe tin tức gì . May bửa trước có nhóm thương khách cho biết Tướng Quân ở Cổ Thành nên vội tìm lại .

Nói xong hai người ra mắt nhị vị Phu nhơn và Vân Trường.

Lúc đó anh em mới ngõ tâm sự cùng nhau, mọi điều thông cảm, ai nấy đều rơi lụy.

Ngày sau, Vân Trường bảo Trương Phi bảo vệ cho hai chị ở Cổ Thành, còn mình cùng Tôn Càng đi nghe ngóng tin Huyền Ðức ở Nhữ Nam.

Tới Nhữ Nam thì Lưu Tích cho hay vì ở đây binh lương quá ít nên Huyền Ðức lại trở về Hà Bắc rồi.

Quan Công nghe xong, lấy làm buồn rầu, Tôn Càng đề nghị cùng sang Hà Bắc bên Viên Thiệu xem sao.

Hai người lật đật trở lại Cổ Thành báo tin, Trương Phi cũng đòi đi theo sang Hà Bắc.

Vân Trường nói :

– Cái thành này rất quí, nó là chỗ an thân cho ta, em phải kiên thủ mà chờ đợi tin ta. Sau Quan Công ra lịnh cho Châu Thương về chiêu binh mã nơi Bùi Nguơn Thiệu, sau rồi ra đường lớn mà chờ.

Châu Thương y lịnh.

Quan Công liền cùng Tôn Càng qua Hà Bắc, Tôn Càng xin đi trước một mình nghe ngóng.

Quan Công đồng ý.

Tôn Càng đi rồi, Quan Công lững thững bước tới một túp nhà tranh, có ông già bước ra chào hỏi.

Quan Công kể qua công việc của mình.

Ông già nói :

– Tôi là Quan Ðịnh, có hai con đứa lớn học văn, đứa nhỏ học võ, tôi muốn cho đứa nhỏ theo hầu ngài có đặng chăng ?

Quan Công hỏi bao nhiêu tuổi.

Quan Ðịnh thưa lên mười.

Quan Công bảo :

– Tôi chưa có con, vậy tôi nhận cháu làm nghĩa tử được không ?

Quan Ðịnh mừng rỡ kêu Quan Bình ra lạy Quan Công làm cha, sau đó Quan Ðịnh lưu Quan Công ở lại.

Nói về Tôn Càng ra mắt Huyền Ðức.

Huyền Ðức nói :

– Giảng Ung cũng có nơi đây, vậy để kêu va cùng thương nghị.

Giảng Ung tới, Huyền Ðức hỏi mưu chước để thoát thân.

Giảng Ung nói :

– Mai Ngài vô xin Viên Thiệu cho qua Kinh Châu để bàn cùng Lưu Biễu việc đánh Tào, thế nào y cũng cho đi . Huyền Ðức lại mời Giảng Ung cùng đi .

Ung nói :

– Ngài chớ lo, tôi sẽ có cách.

Hôm sau Huyền Ðức cứ y như vậy vào trình Viên Thiệu.

Viên Thiệu nói :

– Trước đây tôi đã cho ông qua đó một lần mà Lưu Biễu đâu có chịu xuất quân .

Huyền Ðức thưa :

– Tôi sẽ lấy tình đồng tông mà nói khéo, chắc lần nầy Kiển Thăng sẽ chịu .

Viên Thiệu liền ưng thuận cho đi cùng với Tôn Càng.

Lúc đó Viên Thiệu lại nói thêm :

– Nghe tin Vân Trường sắp qua Hà Bắc. Ta giận vụ Nhan Lương , Văn Xú lắm phen nầy không thể tha y được .

Huyền Ðức nói :

– Minh Công mà được Vân Trường còn gấp bội lần Nhan Lương , Văn Xú nữa !

Viên Thiệu liền cười mà rằng :

– Nếu vậy, ông hãy gọi va lại đây .

Huyền Ðức xin vâng.

Khi Huyền Ðức sắp đi thì Giảng Ung đến thưa với Viên Thiệu :

– Minh Công cho tôi đi theo canh chừng Huyền Ðức.

Viên Thiệu mừng lắm, y lời.

Huyền Ðức ra khỏi Hà Bắc liền cho Tôn Càng đi đón Quan Công.

Quan Công liền dắt Quan Bình vào ra mắt.

Anh em gặp nhau nỗi mừng không sao kể xiết.

Quan Bình được gọi Huyền Ðức là bác. Sau đó Quan Công theo đường lớn tới Ngọa Ngưu San.

Tới nơi thì thấy Châu Thương dẫn vài tên quân bị thương mách rằng có một tướng mặt mũi khôi ngô và mạnh lắm đánh chết Nguơn Thiệu và chiếm luôn san trại. Tôi đánh với y cũng không lại .

Quan Công hỏi :

– Tướng đó tên chi ?

Châu Thương đáp không biết, chỉ biết dung mạo đẹp đẽ lắm.

Quan Công liền cùng Huyền Ðức đi tới chân núi.

Châu Thương liền đứng ra kêu lên núi mà mắng.

Lập tức từ trên núi, một tướng xách thương phi ngựa xuống.

Huyền Ðức nhìn ra Triệu Tử Long liền kêu lên :

– Tử Long, có ta đến tìm đây !

Tử Long liền xuống ngựa quì ở bên đường.

Huyền Ðức cùng Quan Công đều xuống ngựa mà mừng nhau.

Tử Long kể là muốn tìm Huyền Ðức ở bên Viên Thiệu, ngặt vì có vài thù hiềm xa xưa với Viên Thiệu nên chưa đi. Nay gặp Sứ Quân ở đây tôi nguyện theo phò tá .

Rồi đó Tử Long cho đốt hết san trại, kéo lâu la theo Huyền Ðức mà về Cổ Thành.

Tới nơi hai vị phu nhơn, Trương Phi, Mê Phương, Mê Trước đều ra nghinh đón.

Huyền Ðức gặp lại gia quyến thì vô cùng mừng rỡ, rồi đó anh em cho làm một tiệc lớn mừng ngày đoàn viên.

Kiểm điểm quân sĩ cũng được vài ngàn.

Huyền Ðức bèn bàn việc bỏ Cổ Thành qua Nhữ Nam chiêu binh mãi mã mà lo việc lớn.

Về Phần Viên Thiệu thấy Huyền Ðức không về thì muốn hưng binh qua Nhữ-Nam.

Quách Bỗ nói :

– Nay bên Giang Ðông , Tôn Sách oai danh lừng lẫy, nên hiệp với va trước thì có lợi hơn.

Hồi Thứ Hai Mươi Chín

Tôn Sách bất bình giết Vu Kiết
Tôn Quyền nối nghiệp trấn Giang Ðông

Nói về Tôn Sách binh ròng tướng mạnh trấn giữ một cõi Giang Ðông .

Tào Tháo nghe tin , buột miệng than rằng :

– Sư tử con ai ngờ nay lại lớn mạnh thế . Nghĩ rồi có ý đem em gái gả cho Tôn Sách.

Tôn Sách lúc đó dâng biễu về xin chức Ðại Tư Mã , nhưng trước đã bị Tào Tháo chối từ nên hãy còn giận, toan cử binh đánh Tào .

Thái Thú Ngô Quận là Hứa Công liền báo cáo cho Tào Tháo hay, nào ngờ sứ giả lại bị binh Tôn Sách bắt được .

Tôn Sách mời Hứa Công đến , ném thư vào mặt và mắng là đo phản phúc. Xong hô quân chém tức thì.

Thủ hạ Hứa Công có ba người từ đó thề báo thù cho chủ.

Một buổi kia, Tôn Sách đi săn hươu, bị một bọn ba tên mai phục bắn một mũi tên vào gò má.

Tôn Sách rút được tên ra rồi xông lại chém hết bọn kia, quân sĩ xem mặt biết là bọn thủ hạ của Hứa Công .

Tôn Sách về, có học trò của Hoa Ðà tới chữa bịnh.

Thầy thuốc nói mũi tên có tẩm thuốc độc, phải tĩnh dưỡng lâu ngày mới khỏi. Còn nếu cứ tức giận thì khó mà qua khỏi.

Tôn Sách bình sinh làm gì là muốn làm ngay, nay nghe vậy thì bực lắm.

Lúc đó lai có Trương Huyền ở Hứa đô về kể lại bên đó ai cũng khiếp oai Tôn Sách , duy có Quách Gia là không phục.

Tôn Sách hỏi không phục là thế nào ?

Huyền thưa :

– Quách Gia bảo Chúa Công hay nóng nảy khinh việc nhỏ nên không chịu phòng ngừa, ít mưu kế, chỉ là kẻ thất phu hữu dũng vô mưu.

Tôn Sách nghe vậy hét to lên :

– Nó dám khinh miệt ta như vậy, ta phải đi lấy đầu nó mới xong .

Tướng sĩ vội can :

– Thầy thuốc dặn phải tỉnh dưỡng. Chúa Công làm vậy e có hại đó .

Kế đó lạị có Trần Chấn tới, dâng thư của Viên Thiệu muốn hiệp lực đánh Tào.

Tôn Sách liền họp tướng sĩ bàn chuyện xuất quân.

Trong lúc đang bàn bạc, bỗng thấy mọi người rỉ tai nói nhỏ với nhau rồi lần lượt xuống lầu.

Tôn Sách hỏi có việc gì vậy thì tả hữu thưa vì có Vu Kiết chân nhân đi qua nên mọi người xuống lạy mừng.

Tôn Sách liền tựa lan can nhìn xuống, thấy một đạo sĩ mặc áo choàng trắng, xách cây gậy đứng bên đường, còn mọi người thì thi nhau đốt hương quì lạy.

Tôn Sách bất bình nạt lớn :

– Loài yêu đạo mê hoặc nhân dân .

Rồi truyền quân giải Vu Kiết tới .

Tôn Sách mắng Vu Kiết :

– Mi dùng tà đạo mê hoặc lòng dân, tội đáng chết !

Vu Kiết nói :

– Bần đạo hái thuốc, chữa trị cho dân, lễ vật không lấy, sao lại bảo làm mê hoặc ?

Tôn Sách hỏi lại :

– Không lấy của dân, vậy chớ áo mặc đó ở đâu ra ?

Nói rồi toan chém. Các quan hết lòng can gián, Tôn Sách truyền hãy giam Vu Kiết vào ngục.

Sau đó Tôn Sách về dinh, mẹ là Ngô Thái Phu nhơn bảo rằng :

– Mẹ nghe nói con cầm tù Vu Kiết. Vị đó được coi như thần nhân giáng hạ, chữa bệnh cho dân chúng , con đừng làm vậy mà mất nhân tâm .

Tôn Sách thưa :

– Nó dùng yêu thuật mà mị dân nên con phải trừ mới được.

Phu nhơn lại khuyên giải nữa. Hôm sau , Tôn Sách truyền dẫn Vu Kiết vào.

Nguyên tên ngục tốt không đeo gông cho Vu Kiết ở trong nhà giam , khi nào bị kêu ra thì mới lấy gông tra vào cổ Vu Kiết.

Có người mách lại Tôn Sách .

Tôn Sách truyền đánh tên ngục tốt mấy chục trượng rối bắt xiềng chặt Vu Kiết lại.

Các quan lại rủ nhau ký tên vào một tờ bảo lãnh dâng lên Tôn Sách.

Sách xem qua tên các quan rồi nói :

– Các quan là các người học thức mà sao lại tin tà đạo thế này ! Ngày xưa Trương Tân xuất quân đều bắt lấy bao đỏ bịt đầu để thần thánh trợ oai mà sau vẫn bị chết.

Việc đó cững đủ thức tỉnh mọi người. Nay ta trừ Vu Kiết là trừ mê tín trong nhân dân, sao lại cứ ngăn cản ta ?

Lữ Phạm thưa :

– Vu Kiết có tài đảo võ, bây giờ hạn hán, nếu y làm được thì đủ cho chuộc tội

Tôn Sách đành phải nghe theo.

Lúc đó dân chúng xúm lại để coi.

Vu Kiết nói :

– Ta cầu mưa có được thì tánh mạng ta cũng không an !

Nói rồi Vu Kiết tự trói mình mà quì dưới trời đang nắng . Ðến giờ ngọ, gió thời vi vu, mây đen vần vũ.

Tôn Sách chờ tới đó thì mắng rằng :

– Ðúng ngọ mà mây thì có , mưa thì không, đúng là yêu đạo !

Rồi khiến quân bỏ Vu Kiết vào đống củi đã nhóm lửa sẳn. Lửa cháy bốc lên, một đường khói xẹt lên không , có tiếng nổ vang rồi thì mưa xuống như trút.

Vu Kiết vẫn nằm yên trên đống củi đã tắt, các quan đỡ Vu Kiết xuống rồi một lượt thảy đều quì xuống giữa bãi sình lầy rồi xưng tụng Vu Kiết, không kể gì áo bào mũ mãng lấm bê bết. .

Tôn Sách thấy cảnh tình như vậy càng thêm bất mãn mà rằng :

– Mưa hay không là do trời sanh ra, sao các ngươi quá tin làm vậy ?

Nói rồi mặc cho các quan lật đật van xin, Tôn Sách rút gươm chém một nhát.

Vu Kiết đầu rơi xuống đất. Sau đó lại khiến bỏ thây Vu Kiết giữa chợ mà răn người mê tín dị đoan.

Sáng hôm sau, quân vào báo thây Vu-Kiết đã mất biến đâu .

Cùng lúc Tôn Sách nhìn ra cỗng thấy có một người đúng là Vu Kiết .

Tôn Sách toan chém thì xây xẩm mặt mày, té lăn xuống đất.

Ngô Thái phu nhơn hay tin cho rằng con mình giết phải thần tiên nên mới bị như vậy.

Tôn Sách tỉnh lại thưa cùng Phu nhơn :

– Con theo thân phụ xông pha trận mạc từ nhỏ, làm gì có chuyện yêu quái. Ý con chỉ muốn trừ họa cho dân mà thôi .

Phu nhơn sau đó buồn bực lui ra.

Canh ba đêm đó, Tôn Sách nghỉ ngơi trong trướng, thấy thấp thoáng ở dưói đèn, nhìn ra lại là Vu Kiết. Tôn Sách hét lớn :

– Bình sinh ta rất ghét ma quỉ, sao nguơi dám bén mảng tới hoài !

Rồi phóng gươm vào Vu Kiết, Vu Kiết lại biến mất .

Vì có hiếu vói mẹ, Tôn Sách tuy đau nặng vẫn gắng gượng ra vẻ mạnh mà tới hầu Phu nhơn.

Phu nhơn hết lòng bảo rằng :

– Con giết oan nên người ta báo oán, vậy mẹ đã đặt lễ tại Ngọc Thanh Quán, con phải tới đó lễ mà cầu an.

Tôn Sách không dám trái lệnh, tới nơi, đạo sĩ mời đốt hương.

Tôn-Sách đốt, nhưng không chịu lạy. Bỗng đám khói tỏa lên có hình nhà lầu, Vu Kiết ngồi ở trên.

Tôn Sách bỏ đi ra. Tới cỗng lại có Vu Kiết chặn lại.

Tôn Sách phóng gươm trúng ngay Vu Kiết, khi nhìn lại thì ra tên quân đã bắt Vu Kiết ngày trước.

Tôn Sách cho chôn cất tử tế .

Tôn Sách lại nói :

– Nơi nầy có yêu quỷ tá túc, còn để làm chi , rồi truyền đạo sĩ phải dọn ra, rồi cho phóng hỏa đốt.

Lửa cháy thì lại có Vu Kiết đứng ngồi bên trong, về tới dinh cũng thấy Vu Kiết bên cỗng,

Tôn Sách liền ở trại ngoài thành.

Ðêm ấy Tôn Sách lại thấy Vu Kiết hiện lên trong trại khiến Tôn Sách quát mắng ầm ầm.

Ngô phu nhơn thấy hình dạng Tôn Sách trở nên tiều tụy thì âu lo lắm, Tôn Sách khuyên giải mẹ là sống chết có số , yêu quỷ làm gì được.

Vừa nói xong thì Vu Kiết lại hiện ra, Tôn Sách hét lên một tiếng, vết thương nơi má bị xé rách, máu tuôn dầm dề, Tôn Sách lăn ra bất tĩnh.

Hồi lâu tỉnh lại, Tôn Sách than rằng :

– Ta chắc chẳng còn sống được bao lâu . Bèn gọi em ruột là Tôn Quyền và Trương Chiêu vào mà trối

rằng :

– Thiên hạ đang loạn, nay giữ được cửa sông Tam Giang bền vững thì sẽ gây được cơ nghiệp .

Lại nắm tay Trương Chiêu mà rằng :

– Tử Bố ráng giúp cho em ta .

Sau đó trao ấn tín cho Tôn Quyền mà rằng :

– Như điều binh khiển tướng tranh giành cùng thiên hạ thì em không bằng ta, nhưng biết dùng người hiền, trọng kẻ tài đức giữ vững được Giang Ðông thì ta không bằng em. Vậy em phải tưởng công đức của cha

lsi nhớ lời anh mà cố gắng lo liệu .

Tôn Quyền khóc rồi lãnh ấn thọ, Trương Chiêu cũng nước mắt ròng ròng mà hứa hết sức phò tá cho Tôn Quyền.

Tôn Sách lại thưa với Phu nhơn :

– Số con đã hết, con đã trao ấn thọ cho em con, dặn nó phụng dưỡng mẫu thân thay con .

Phu nhơn khóc. Em con còn nhỏ quá .

Tôn sách gượng cười mà rằng :

– Em con thật là hơn con nhiều. Ngoài ra, việc trong nhà, xin hỏi Trương Chiêu, việc bên ngoài thì hỏi Châu Du, tiếc rằng Châu Du không có ở đây cho con trối lại .

Rồi lại kêu các em khác dặn rằng :

– Các em phải giúp đở Trọng Mưu, không ai đuợc sanh dị tâm, nếu có thì tất cả phải trừ .

Mấy người em đều xin vâng.

Lại gọi vợ là Kiều phu nhơn mà rằng :

– Ta với khanh giữa đàng đứt gánh, thực là chua xót Khanh ở lại ráng làm dâu thảo. Khi nào em gái khanh vào thăm, nhớ dặn người nói lại Châu Lang phải gắng phò tá em ta, đừng phụ lòng hậu đải của ta xưa nay .

Nói rồi Tôn Sách thở hắt ra mà lìa trần !

Tôn Quyền lại khóc rống .

Trương Chiêu ngăn lại, bảo không phải là lúc khóc, rồi chia cho Tôn Tịnh lo việc cử tang, rước Tôn Quyền ra điện cho bá quan vào ra mắt.

Kế đó có tin Châu Du vừa về.

Tôn Quyền cả mừng nói :

– Công Cẩn đã về thì ta bớt lo ngại .

Châu Du về khóc lạy trước linh cửu Tôn Sách, Ngô Phu nhơn đem các lời trối của Tôn Sách nói lại .

Châu Du khóc lớn mà rằng :

– Tôi xin lấy thân khuyễn mã mà đền ơn tri ngộ .

Tôn Quyền nói với Châu Du :

– Anh ta di ngôn lại việc trong cậy Tử Bố, việc ngoài nhờ Công Cẩn . Xin Tướng quân giúp ta giữ gìn cơ nghiệp .

Châu Du xin vâng và tiến cử thêm một người là Lỗ Túc, quê Ðông Xuyên, bụng chứa kinh luân.

tuổi trẻ , mồ côi cha, thờ mẹ rất hiếu.

Tôn Quyền nhờ Châu Du đi thĩnh, Lỗ Túc biết tiếng nhà họ Tôn nên bèn theo Châu Du ra mắt Tôn

Quyền.

Tôn Quyền từ đó cả ngày bàn bạc cùng Lỗ Túc mà không thấy mỏi .

Lỗ Túc bàn với Tôn Quyền :

– Nhà Hớn đã suy, Tào Tháo khó mà trừ ngay . Chúa Công phải giữ Giang Ðông cho chắc làm thế chân vạc mà nghe ngóng. Nay nên trừ Huỳnh Tổ, đánh Lưu Biễu chiếm trọn miệt Trường Giang rồi sẽ lập hiệu Ðế Vuơng mà lo thâu thiên hạ sau nầy .

Tôn Quyền cả mừng nghe theo.

Lỗ Túc lại tiến cử Gia Cát Cẩn tự Tử Dũ với Tôn Quyền.

Sau đó Tôn Quyền tuyệt giao với Viên Thiệu.

Tào Tháo khi nghe Tôn Sách mất thì toan cử binh đi cướp Giang Ðông.

Trương Thuận can :

– Lúc người ta có tang mà đánh thì thiên hạ không ai còn phục nữa .

Tào Tháo khen phải, hôm sau lại tâu vua phong cho Tôn Quyền làm Cối Kê Thái Thú.

Tôn Quyền lên chức lại có Trương Huyền đầu, Trương Huyền lại tiến cử thêm Cố Ung.

Từ đó, Tôn Quyền oai lừng Giang Ðông, binh hùng tuớng mạnh, nhân dân mến phục.

Còn Viên Thiệu nghe Tào Tháo kết liên với Tôn Quyền thì đùng đùng dấy binh đi đánh Tào Tháo.

Hồi Thứ Ba Mươi
Viên Thiệu Thất Trận Tại Quan Ðộ
Tào Tháo Thiếu Lương Cướp Ô Sào

Thấy Viên Thiệu tới Quan Ðộ , Hạ Hầu Ðôn liền phi báo Tào Tháo.

Tháo lập tức cất bảy vạn binh, cho Tuân Úc ở lại giữ Hứa đô.

Bổn Sơ chia quân bốn đạo Ðông Tây Nam Bắc, chu vi hơn chín mnơi dặm.

Thơ Thọ thưa với Bổn Sơ :

– Binh Tào mạnh nhưng lương ít, binh ta yếu mà lương nhiều, xin cứ trì hoãn sẽ thắng.

Viên Thiệu giận lắm nói rằng :

– Binh ta như vậy mà ngươi bảo là yếu, hay ngươi có ý cản ta chăng ?

Rồi khiến giam Thơ Thọ lại. .

Quân thám thính hay được báo tin cho Tào Tháo .

Tháo chỉ cười .

Tuân Du nói :

– Binh ta lương ít xin đánh gấp.

Tào Tháo y lời kéo binh tới trại địch.

Viên Bổn Sơ cũng kéo quân ra đối địch. Lại khiến Thẩm Phối mai phục ba ngàn quân sẳn sàng cung tên nghe hiệu thì kéo tới. Xong rồi Viên Thiệu đầu đội kim khôi, mình mang kim giáp đi ra , có hai hàng tướng đi theo là Trương Hấp , Cao Lãm, Hàng Mãnh, Thuần Vu Quỳnh .

Còn bên Tào Tháo cũng có các tướng tùy tùng như Hứa Chữ , Trương Liêu , Từ Quáng , Lý Ðiển.

Tào Tháo chỉ roi vào Viên Thiệu mà rằng :

– Ta bảo tâu với Thiên Tử cho ngươi làm Ðại tướng quân, nay sao lại phản phúc làm vậy ?

Viên Thiệu trả lời :

– Ngươi mới là đứa giặc của nhà Hớn, sao dám nói ta là bội phản ?

Tào Tháo nói :

– Ta có chiếu dẹp ngươi đây !

Viên Thiệu cũng nói :

– Ta cũng dâng đái chiếu mà trừ bọn ngươi đây .

Bên Tào Tháo có Trương Liêu xông ra, tức thì Trương Hấp cản lại, đánh năm mươi hiệp bất phân thắng bại. Hứa Chữ phi ngựa ra trợ chiến thì Cao Lãm cũng ra đón đánh.

Sau đó Tào Tháo cho luôn Hạ Hầu Ðôn và Tào Hồng cùng xung trận .

Tham Phối liền phát pháo hiệu binh phục dùng tên ná bắn ra tua tủa , binh Tào cự không lại bị Viên Thiệu giết một trận vô số.

Tào Tháo rút về Quan Ðộ.

Viên Thiệu lại nghe lời Thẩm Phối để mười vạn binh ở Quan Ðộ rồi đắp thật nhiều núi đất, cho quân lên cao bắn xuống.

Quân Tào muốn xông ra đánh nhưng bị Thẩm Phối chặn các yếu lộ.

Binh sĩ vội báo với Tào Tháo .

Lưu Hoa nói :

– Nó dùng tên thì ta dùng đá mà trừ , vậy phải làm phát thạch xa mà đánh .

Tào Tháo cho lệnh làm ba trăm cổ xe bắn đá.

Khi binh Viên Thiệu vừa bắn tên thì đá bắn lại, quân Viên Thiệu bị chết rất nhiều.

Thẩm Phối bảo Viên Thiệu :

– Bây giờ phải đào hầm qua chân núi mà vào trại địch .

Viên Thiệu y theo, quân thám thính lại phi báo với Tào Tháo.

Lưu Hoa nói :

– Nó đánh sáng không được nay trở đánh tối đó.

Xin Thừa Tướng cho đào hào xung quanh trại thì kế nó vô dụng .

Quả nhiên quân Viên Thiệu đào hầm lại gặp phải hào, hầm không còn ích lợi gì nữa.

Tào Tháo giữ Quan Ðộ mãi thì sức quân cũng mệt, Tuân Úc khuyên cố gắng ít nữa mà chờ cơ hội.

Bỗng quân bắt được một tên dọ thám bên Viên Thiệu và dẫn vào.

Tên nầy khai đi dò đường để vận lương.

Tào Tháo cả mừng, cho người đi cướp lương.

Từ Quáng xin đi, Tháo y lời.

Từ Quáng liền cùng bộ hạ là Sử Hoán lên đường.

Tào Tháo còn cho Húa Chữ , Trương Liêu đi tiếp hậu.

Hàng Mãnh đang đưa mấy ngàn xe lương . Khi qua chân núi, có Từ Quáng đón đánh, Hàng Mãnh đánh lại. Bộ hạ Từ Quảng thừa cơ đốt mấy xe lương, lửa cháy ngất trời, Hàng Mãnh bỏ chạy.

Viên Thiệu ở trong trại thấy lửa bốc ở hướng Tây Bắc đã thất kinh, kế nghe báo lương thảo đã bị cướp hết, liền sai Trương Hấp , Cao Lãm đi tiếp cứu.

Hai tướng vừa tới lại bị Từ Quáng , Trương Liêu, Hứa Chữ đánh cho một trận cả thua.

Viên Thiệu giận muốn chém Hàng Mãnh, các quan can gián mãi mới thôi.

Kế đó sai Thẩm Phối về Nghiệp Ðô mà đôn đốc lương thảo, sai Thuần Vu Quỳnh , Mục Nguơn Tân , Hàng Lư Tử, Lữ Oai Hạng , Triệu Hiền ra giữ Ô Sào.

Thuần Vu Quỳnh tánh hay uống ruợu, từ khi ra Ô Sào thì say liên miên.

Tào Tháo ở Quan Ðộ lâu ngày cũng viết thư đốc thúc Tuân Úc lo gấp việc tiếp tế.

Tên quân mang thư lại bị quân Viên Thiệu bắt được đem về nạp Hứa Nhu .

Hứa Nhu bàn cùng Viên Thiệu :

– Hứa đô bỏ trống chỉ có Tuân Úc ở đó. Nay ta đánh úp Hứa đô thì giặc Tào sẽ hết đất sống .

Viên Thiệu không nghe mà rằng :

– Tào Tháo nhiều quỉ kế lắm, có thể đó là mưu mẹo của hắn không chừng .

Sau Viên Thiệu lại nghe lời dèm pha của Thẩm Phối mà đuổi Hứa Nhu ra .

Hứa Nhu than rằng :

– Cơ nghiệp này suy rồi nên khiến va chỉ nghe lời siểm nịnh mà gạt bỏ lời hay . Than rồi toan tự vận.

Có người ngăn lại mà rằng :

– Sao Tướng quân lại phí bỏ mạng mình như vậy ! Thừa Tướng trước kia đã biết Tướng Quân nay chắc không quên đâu .

Hứa Nhu suy nghĩ . Sau đó qua đầu Tào Tháo.

Khi vào ra mắt, Hứa Nhu nói :

– Tôi tới để hỏi thăm sức khoẻ của Thừa Tướng , mong Thừa Tướng chớ ngại .

Tào Tháo cũng hỏi thăm lại :

– Bấy lâu nghe Tướng Quân ở bên Viên Thiệu, không rõ có bình an không ?

Hứa Nhu liền tình thực kể hết chuyện mình chán ngán Viên Thiệu , Tào Tháo nghe nhưng chưa tin.

Tới khi Hứa Nhu kể lời khuyên Viên Thiệu nên đánh úp lấy Hứa đô mà Viên Thiệu không nghe.

Tào Tháo cả kinh mà nói :

– Nếu hắn nghe ông chắc tôi nguy rồi !

Sau đó mới tin lời Hứa Nhu.

Hứa Nhu hỏi :

– Thừa Tướng còn bao nhiêu lương thực ?

– Tháo nói vài ngàn xe.

Hứa Nhu cười :

– Ý tôi là muốn giúp ông, sao ông lại giấu tôi ?

Tào Tháo vội chữa :

– Thực ra chỉ còn năm tháng lương mà thôi .

Hứa Nhu đứng dậy, bỏ đi mà rằng :

– Ông không tin thì tôi ở đây làm gì .

Tào Tháo liền kéo áo Hứa Nhu lại mà rằng :

– Tôi nói chơi, chứ chỉ còn ba tháng thôi .

Hứa Nhu lắc đầu mà nói :

– Hết nhẳn cả rồi !

Tào Tháo hoảng kinh hỏi làm sao mà biết.

Hứa Nhu liền đưa phong thư bắt được khi trước.

Tào Tháo ngửa mặt lên trời tạ ơn :

– Trời còn thương ta .

Sau đó hậu đãi Hứa Nhu .

Hứa Nhu hiến kế :

– Lương thảo của Viên Thiệu đều chất ở Ô Sào do Thuần Vu Quỳnh giữ, mà Quỳnh hay uống rượu say sưa, ông nên sai quân giả làm quân Viên Thiệu mang cờ hiệu Trương Kỳ, đến vận lương rồi thừa cơ đốt cướp thì chỉ vài ngày quân Viên Thiệu phải thua .

Sau đó Tào Tháo khiến Tuân Du, Giả Hủ, Tào Hồng, Hứa Nhu giữ trại, sai Hạ Hầu Ðôn, Hạ Hầu Huyên phục binh ở phía Tây, Tào Nhơn, Lý Ðiển phục binh ở phía hữu, Trương Liêu, Hứa Chữ thì đi trước,

Từ Quáng, Vu Cam theo sau, Tào Tháo thì lãnh trung qnân cùng tiến đến Ô Sào .

Ðêm ấy, người ngậm tăm, ngựa bỏ nhạc , lại kéo cờ hiệu Viên Thiệu mà đi .

Thơ Thọ đang ở trong ngục, thấy ngoài cửa trên trời có nhiều sao tỏ rạng, liền xin cai ngục dẫn ra xem, xem rồi kêu lên :

– Họa tới nơi rồi ! Rồi xin ra mắt Viên Thiệu .

Viên Thiệu cho vào .

Thơ Thọ nói :

– Sao Thái Bạch đi ngược lên chỗ sao Quý , sao Liễu ắt có họa . Xin cho quân đi tăng cường ở Ô Sào và giữ các đường hiểm yếu kẻo nguy .

Viên Thiệu đang uống rượu, nghe nói thì nổi giận mắng :

– Mi ở trong ngục mà còn muốn nhát ta . Nói rồi sai bắt bỏ Thơ Thọ vào ngục.

Thơ Thọ than :

– Quân ta ắt chết nay mai, còn xác ta cũng biết về đâu !

Nói về quân Tào đi gần đến trại quân Viên Thiệu.

Quân bên trong hỏi :

– Quân nào vậy ? Bên ngoài đáp : Binh Trương Kỳ đến hộ lương .

Quân bên trong nhìn ra thấy cờ hiệu phe mình thì cứ để cho đi .

Quân Tào vô tới trại chính ở Ô Sào thì canh đã sang tư, liền phóng hỏa đốt.

Thuần Vu Quỳnh cùng bộ hạ còn đạng say thì đã bị câu móc té xuống đất hết.

Mục Ngươn Tân và Triệu Hiền bị tử trận.

Tào Tháo sai nổi lửa, bao nhiêu kho trại của Viên Thiệu bị cháy rụi .

Thuần Vu Quỳnh bị bắt dẫn vào, Tào Tháo sai cắt tai cắt mũi, cột lên ngựa thả cho về để làm nhục Viên Thiệu .

Còn chính Trương Kỳ đi vận lương thực thì bị Trương Liêu, Hứa Chữ chặn đánh giết chết.

Viên Thiệu nghe tin nguy khốn liền họp hết các tướng mà thảo luận.

Trương Hấp bàn nên kéo gấp sang Ô Sào .

Quách Ðô thì khuyên Tào Tháo mắc ở Ô Sào nên đem binh cướp trại của hắn đang bỏ trống là hơn cả.

Trương Hấp lại nói :

– Tào Tháo quỉ quyệt, nhỡ nó mai phục thì sao ?

Lúc nầy Viên Thiệu còn chưa hoàn hồn, chằng biết quyết định ra sao nên cứ cho Trương Hấp , Cao Lãm đi cướp trại Tào Tháo, còn Châu Cam thì đem binh tiếp cứu Ô Sào.

Châu Cam đi được nửa đường thì bị Trương Liêu , Hứa Chữ giết chết .

Trương Hấp, Cao Lãm đi cướp trại Tào quả nhiên bị binh phục của Hạ Hầu Ðôn, Tào Nhơn, Tào Hồng .

Binh Trương Hấp , Cao Lãm thua to chạy dài.

Viện Thiệu khi đó chỉ còn hơn phân nửa quân số.

Quách Ðô một mặt nói với Viên Thiệu là Trương Hấp , Cao Lãm có ý theo Tào đã lâu nên mới thua như vậy, mặt khác lại báo cho hai tướng này là Viên Thiệu có ý hại họ.

Hai tướng liền sang đầu Tào Tháo.

Hạ Hầu Ðôn nói :

– Họ đầu giả hay thiệt, chưa biết thì chưa nên tin .

Tào Tháo nói :

– Ta lấy ân huệ mà đãi, chắc họ không sanh tâm đâu .

Nói rồi cho hai người về đầu.

Hứa Nhu lại khuyên Tào Tháo tiến binh lên.

Tào Tháo liền sai Trương Hấp, Cao Lãm đi cướp trại.

Ðêm ấy binh Tào chia làm bốn đạo áp đến, bên Viên Thiệu cũng chia quân ra đối ứng, đánh tới sáng, binh

của Viên Thiệu lại hao mất phân nửa.

Hứa Nhu lại khuyên Tào Tháo :

– Ta nên cho phao ngôn lên rằng binh ta chia làm hai, một đánh Nghiệp Quận, một đánh Lê Dương,

quân Viên Thiệu cứ nghe cũng đủ sanh loạn. Lúc nó loạn rồi, ta đánh rốc một trận sẽ toàn thắng .

Tào Tháo nghe theo , cho quân đồn rầm lên tin trên.

Viên Thiệu hay tin thì cả kinh, sai Viên Thượng đi giữ Nghiệp Quận, Tân Minh ra cứu Lê Dương.

Tào Tháo hay tin, chia đại binh làm tám đạo nhất tề đánh phá doanh trại của Viên Thiệu.

Binh Viên Thiệu không còn lòng dạ nào đánh nữa nên chạy tán loạn hết.

Viên Thiệu bỏ cả giáp mão, dẫn con nhỏ lên ngựa mà chạy, chỉ có năm trăm quân kỵ đi theo qua sông, vàng bạc châu báu mất hết.

Binh Tào đuổi theo chém giết tính ra binh Viên Thiệu mất hơn tám vạn, thây nằm chật đất, máu chảy thành sông ! Lúc đó quân sĩ bắt Thơ Thọ mang nạp Tào Tháo.

Tào Tháo và Thơ Thọ vốn có biết nhau trước.

Thơ Thọ kêu lên :

– Ta không đầu đâu.

Tào Tháo đáp :

– Viên Thiệu vô mưu, không nghe lời Tướng quân nên mới mang họa , còn Tướng quân sao lại chấp nê làm vậy, về với ta thì ta may mắn biết chừng nào !

Sau đó hậu đãi Thơ Thọ, nào ngờ Thơ Thọ lại toan trốn về với Viên Thiệu.

Tào Tháo bèn cho đem giết, đến chết Thơ Thọ vẫn không biến sắc mặt.

Thơ Thọ chết, Tào Tháo thương tiếc hồi lâu.

Hồi Thứ Ba Mươi Mốt

Tào Tháo Ðại Phá Viên Bổn Sơ
Huyền Ðức Tạm Lánh Bên Lưu Biểu

Viên Thiệu thua đau mấy phen vội thâu tàn quân, về Ký Châu dưỡng bệnh, thường than vãn vì chẳng nghe lời Ðiền Phong mới ra nổi này. Nghĩ vậy lại sợ xấu mặt với Ðiền Phong nên ngầm sai người đi giết Ðiền Phong.

Khi đó Ðiền Phong đang ở trong ngục nghe Viên Thiệu đại bại trở về thì nói rằng :

– Mạng ta hết rồi !

Canh ngục lấy làm lạ hỏi :

– Chúa Công mà bại thì phải phục tài tiên đoán của ông, cớ sao ông lại lo sợ ?

Ðiền Phong nóí :

– Chúa Công bụng dạ hẹp hòi, thể nào cũng xấu hổ mà hại ta.

Vừa dứt lời, quả nhiên có mật lệnh tới sai giết Ðiền Phong.

Ðiền Phong liền tự vận.

Viên Thiệu về rồi, vẫn âu lo buồn bã, vợ khuyên nên lập sẳn người kế nghiệp.

Viên Thiệu có 3 con : lớn là Vìên Ðàm giữ Thanh Châu, kế là Viên Hy giữ U Châu, ba là Viên Thượng con bà vợ sau là Lưu Thị. Ý Viên Thiệu muốn bỏ cả lập thứ là Viên Thượng, mặc dềau Quách Ðồ hết sức can ngăn. Lúc đó có Viên Ðàm và Viên Hy dẫn quân về trợ chiến cho cha, lập tức Viên Thiệu nhập binh đi đánh Tào Tháo phục hận.

Lúc đó Tào Tháo cũng dàn quân ở bờ sông để đối địch, dân chúng mang thực phẩm tới tiếp tế.

Trong đám lại có các bô lão tóc đã bạc.

Tào Tháo hỏi han :

– Lão trượng niên kỷ bao nhiêu ?

Thưa rằng :

– Gần được một trăm .

Tào Tháo tạ lỗi :

-Làm kinh động tới các vị , lòng ta chẳng được an .

Mấy bô lão nói :

– Lâu nay có Ân Quì ở Liêu Ðông xem thiên văn nói sao Huỳnh Tinh hiện nơi ngôi Càn Trượng soi vào nơi này tất sẽ có chơn nhơn dấy nghiệp ở Lương Bái.

Viên Bổn Sơ thâu thuế nặng , nhân dân lầm than. Nay Thừa-Tướng vừa ra dẹp một trận Quan Ðộ, diệt quân của Viên Thiệu năm trăm muôn, nghĩ ra câu của Ân Quì chỏ vào Thừa Tướng xét ra rất đúng .

Tào Tháo tạ từ :

– Ta đâu dám ví như lão trượng nói !

Nói xong truyền đem lễ vật ra tặng các bô lão, lại truyền quân sĩ ai cướp của dân sẽ bị xử trảm.

Nhân dân cả vùng đều cảm phục.

Hôm sau hai bên dàn binh bố trận.

Tào Tháo mắng Viên Thiệu :

– Mi sức đã cùng , nên đầu hàng mau .

Viên Thiệu hỏi các tướng có ai ra đánh.

Viên Thượng liền giục ngựa chạy ra.

Tào Tháo hỏi tả hữu :

– Kẻ đó là ai ?

Tả hữu thưa :

– Ðó là con út Viên Thiệu tên Viên Thượng .

Tào Tháo hỏi ai ra đánh, Sử Hoán liền xông ra, đánh mấy hiệp, Viên Thượng chạy, Sử Hoán đuổi theo bị Viên Thượng bắn một phát tên trúng mắt , Sử Hoán té chết.

Viên Thiệu thắng trận này rồi hai bên thâu quân .

Về trại Trình Dục hiến kế Tào Tháo :

– Ta lui binh về mé sông, binh sĩ sợ chết cố đánh ta sẽ thắng .

Tào Tháo liền chia 5 đạo binh :

– Hạ Hầu Ðôn, Trương Liêu, Lý Ðiển, Nhạc Tấn, Hạ Hầu Huyên về phía tả – chia 5 đạo : Tào Hồng, Trương Hấp, Từ Quáng, Vu Cấm, Cao Lãm về phía hữu. Lại cho Hứa Chữ làm tiên phuông, tất cả rần rần kéo đi mai phục.

Tào Tháo cho Hứa Chữ giả cướp trại, quân Viên Thiệu đổ ra một lượt, Hứa Chữ dắt quân chạy về mạn sông .

Tào Tháo liền la lớn :

– Trước mắt là địch , sau lưng là sông, không liều thác mà đánh còn đợi bao giờ ! Tức thì quân Tào quay trở lại, liều chết đánh, binh sĩ Viên Thiệu không đở nổi, một mình Hứa Chữ chém mười mấy tướng của Viên Thiệu, binh Viên Thiệu chạy dài, lại gặp Hạ Hầu Huyên, Cao Lãm , chạy thêm mười dặm lại gặp Nhạc Tấn, Vu Cấm, một đoạn nữa lại gặp Từ Quáng, Lý Ðiển, thôi thì quân Viên Thiệu phần chết, phần tán lạc , về đến trại, kẻ nào còn lại đều kinh hồn táng đởm, lo nấu cơm mà ăn .

Ðang ăn lại bị Trương Hấp, Trương Liêu cướp trại, cha con Viên Thiệu và thủ hạ lại chạy thì gặp Tào Hồng, Hạ Hầu Ðôn !

Viên Thiệu hô lớn :

– Tất cả hãy liều chết mở vòng vây.

Ra được vòng vây, bao nhiêu binh mã thác hết, Viên Thiệu ôm ba con mà khóc ngất.

Sau đó còn lại binh sĩ thủ hạ nào thì ra lệnh lui về hết .

Sau đó Viên Ðàm lại về Thanh Châu, Viên Hy về U Châu , Viên Thiệu và Viên Thượng về Ký Châu .

Tào Tháo đại thắng khao thưởng binh sĩ thật lớn, rồi cho đi dọ thám thì biết cha con Viên Thiệu ai về châu nấy.

Bỗng nghe quân về báo Lưu Bị đóng binh ở Nhữ Nam, có Lưu Tích giúp vài vạn binh , đang muốn xâm phạm Hứa đô.

Tào Tháo cho Tào Hồng ở lại, còn mình kéo quân sang Nhữ Nam ngăn Lưu Bị.

Huyền Ðức từ ngày hiệp với Lưu Tích và Cung Ðô thì thanh thế lừng lẫy, cho Lưu Tích , Cung Ðô ở lại giữ Nhữ Nam, còn thì kéo đánh Hứa đô, đến Nhưỡng San thì gặp binh Tào .

Huyền Ðức chia quân ba cánh Vân Trường ở Ðông Nam , Trương Phi ở Tây Nam, Huyền Ðức và Triệu Vân thì chánh Nam.

Binh Tào đến, Huyền Ðức kéo ra nghênh địch.

Tào Tháo mắng Huyền Ðức :

– Ta đãi người làm bậc thượng tân, sao đi phản phúc làm vậy ?

Huyền Ðức nói :

– Ơn của ngươi ta luôn nhớ , song tội gian hùng của ngươi thì không tha thứ được !

Tào Tháo sai Hứa Chữ ra, Triệu Vân đón đánh, chưa phân được thua thì hai cánh quân Vân Trường,

Trương Phi đổ ra, binh Tào mới tới nên mỏi mệt phải bỏ chạy.

Huyền Ðức thắng trận rồi về dinh.

Hôm sau, Triệu Vân lại tới khiêu chiến. Binh Tào không ra.

Hơn một tuần như vậy .

Huyền Ðức chưa biết tính sao thì có tin Cung Ðô vận lương đã bị Tào Tháo đón đánh.

Trương Phi được lệnh đi tiếp cứu.

Lại có quân báo Hạ Hầu Ðôn thừa cơ đánh Nhữ Nam, Lưu Tích không chống nổi đã bỏ trốn.

Quan Công lại được lệnh đi cứu Nhữ Nam.

Chưa đầy một ngày quân thám thính báo cáo về Quan Công và Trương Phi đang bị vây chặt .

Nghe tin, Huyền Ðức muốn rút quân, lại sợ có quân mai phục của Tào Tháo.

Ðồng thời lại thấy Hứa Chữ tới khiêu chiến.

Huyền Ðức chẳng dám ra, sau đó chờ đêm tối thoát khỏi vòng vây.

Ði được một quãng, lại thấy lửa đuốc sáng trưng, có tiếng hô :

-Ðừng để Lưu Bị chạy thoát !

Triệu Vân thưa :

– Xin Chúa Công chớ lo và chạy theo tôi . Nói rồi hươi thương giục ngựa mở đường.

Bên kia Hứa Chữ, Vu Cám, Lý Ðiển ào tới đánh, Triệu Vân cự với cả ba, Huyền Ðức thừa cơ chạy thoát.

Gần sáng, gặp quân Lưu Tích bảo vệ gia đình Huyền Ðức chạy tới trong có cả Tôn Càng, Giảng Ung, Mê Phương, Mê Trước.

Lưu Tích kể chuyện Hạ Hầu Ðôn quá mạnh, không chống nổi, may có Quan Công tới nên mới chạy thoát.

Huyền Ðức lại hỏi Vân Truờng đâu, Lưu Tích khuyên nên chạy đã rồi sẽ tính sau.

Nói chưa dứt thì một đạo binh Tào lại xuất hiện, nhìn ra là Trương Hấp.

Trương Hấp kêu lớn :

– Lưu Bị chớ chạy, có ta tới lấy đầu ngươi !

Lưu Bị định trở lui thì lại có Cao Lãm chặn đường.

Huyền Ðức cả kinh than rằng :

– Phen này mạng chúng ta hết rồi .

Lưu Tích có rán cự địch, bị Truơng Hấp chém một đao bay đầu.

Ðang khi nguy khỗn, xảy một tướng xuất hiện tựa thiên thần đánh vùi với Cao Lãm rồi chém Cao Lãm chết tốt.

Thì ra Triệu Vân xông tới cứu Huyền Ðức, Trương Hấp đánh không nổi phải rút lui.

Triệu Vân thừa thắng xông lên thì lại bị quân Tào vây bọc bốn phía.

May thay lúc đó Vân Trường cùng Châu Thương, Quan Bình kéo tới, đánh một trận, quân Tào bị chết vô số, thì lại vừa gặp Trương Phi.

Trương Phi báo Cung Ðô đã chết về tay Hạ Hầu Ðôn rồi.

Tất cả sau đó họp binh lại ra mắt Huyền Ðức .

Tào Tháo thấy Huyền Ðức chạy mất thì cũng thâu quân.

Lúc ấy binh Huyền Ðức chẳng còn đủ ngàn người, cờ quạt tan tác, Huyền Ðức than rằng :

– Ta quả là bất tài để liên lụy đến bao nhiêu người !

Các tướng sĩ ai cũng rơi lụy.

Tôn Càng nói :

– Hỏng một lần, ta chớ ngã lòng.

Sau đó tất cả bàn sang với Lưu Kiển Thăng ở Kinh Châu.

Huyền Ðức lo ngại Lưu Kiển Thăng không chịu.

Tôn Càng xin đi trước để xem tình hình.

Rồi đó Tôn Càng tìm ra mắt Lưu Biểu.

Lưu Biểu hỏi :

– Ông theo Huyền Ðức, nay tới đây làm gì ?

Tôn Càng thưa :

– Lưu Huyền Ðức là anh hùng trong thiên hạ, nay vì bại binh nên có ý qua đầu Tôn Quyền.

Tôi can rằng còn có Chúa Công đây cùng họ, sao không tìm Chúa Công mà giúp sức lựa là phải tìm đâu. Huyền Ðức nghe ra cho nên sai tôi tới đây bái yết .

Lưu Biểu liền mừng rỡ mà rằng :

– Huyền Ðức là hàng em ta,

Ta muốn gặp từ lâu, nay lại có ý theo ta thì hay lắm.

Thái Mạo nói :

– Huyền Ðức chẳng tốt gì đâu, theo Lữ Bố rồi lại theo Tào, vừa rồi quay đầu Viên Thiệu. Nay dung nạp y sẽ mất lòng Tào Tháo.

Tôn Càng cãi lại :

– Lưu Sứ Quân há lại đem sánh với Lữ Bố, Viên Thiện sao ?

Nay ta luận lời để người về cùng Chúa Công là nghĩ đại sự về sau, há có phải bọn ta sợ chết đâu .

Lưu Biểu cũng bảo Thái Mạo :

– Lòng ta đã chấp thuận, ngươi đừng nói nữa .

Tôn Càng về kể lại, Huyền Ðức liền cùng Quan, Trương, Triệu Vân ra mắt Lưu Biểu.

Lưu Biểu đón tiếp về Kinh Châu.

Tào Tháo hay tin muốn kéo quân đánh ngay.

Trình Dục can rằng :

– Viên Thiệu chưa trừ xong, vậy ta nên về Hứa đô dưỡng quân sang thu thì đánh lấy Hà Bắc .

Tào Tháo y theo.

Qua năm Kiến An thứ tám, Tào Tháo lại bàn chuyện đánh Viên Thiệu.

Sai Hạ Hầu Ðôn, Mãng Lũng trấn Nhữ Nam để Phòng Lưu Biểu, cho Tào Nhơn, Tuân Úc giữ Hứa đô, còn bổn thân tiến sang Quan Ðộ.

Nói về Viên Thiệu nhờ quân các quận kéo về chỉnh đốn nên đã tạm yên.

Nhắc lại Viên Ðàm, Viên Hy đem về giúp cha hơn 10 vạn binh, Viên Thiệu mừng lắm, toan đánh Hứa Xương, nhưng Thẩm Phối can binh chưa hồi phục hẳn, chớ nên khinh động. Còn đang bàn thì quân về báo Tào Tháo đã mang đại binh tới.

Mọi người đều lo thì có Viên Thượng, con út Viên Thiệu, xin ra ngăn quân Tào.

Viên Thiệu ưng thuận, Viên Thượng liền dẫn ba vạn binh kéo đi.

Hồi Thứ Ba Mươi Hai

Viên Thượng Tranh Dành Ðất Ký Châu
Hứa Nhu Ðịnh Kế Khơi Chương Hà

Viên Thượng từ khi nghe cha muốn cho mình nối nghiệp thì vừa lo hai anh, lại vừa tự phụ nên một mình xuất quân ra Lê Dương.

Bên Tào có Trương Liêu ra đón đánh, chừng vài hiệp thì Viên Thượng đã núng thế chạy miết về hướng Ký Châu .

Viên Thiệu thất kinh, ói ra máu rồi té lăn xuống đất.

Lưu phu nhơn thấy bệnh tình nguy ngập nên kêu Thẩm Phối, Phùng Kỹ vào thảo luận.

Viên Thiệu lúc đó không nói được nữa .

Lưu Phu nhơn hỏi có nên lập Viên Thượng không, Viên Thiệu gật đầu.

Thẩm Phối liền làm di chúc cho Viên Thượng, xong xuôi Viên Thiệu la lên mấy tiếng , thở hắt ra mà chết.

Bọn Thẩm Phối lo việc tang ma, Lưu phu nhơn vỗn tánh hay ghen bắt năm tiểu thiếp của Viên Thiệu đem ra giết hết. Lại còn sợ vong hồn xuống âm ty gặp Viên Thiệu nên sai bằm mặt năm nguời nầy nát như tương .

Phùng Kỷ, Thẩm Phối phò Viên Thượng lên làm Ðại Tư Mã, thống lãnh ba quân .

Lúc đó Viên Ðàm ở U Châu họp Quách Ðồ , Tân Bình lại thương nghị .

Viên Ðàm nói :

– Bây giờ thì biết liệu sao ?

Quách Ðồ nói :

– Xin hãy đóng binh ngoài thành chờ động tĩnh, Tôi xin vào trước tham dò đã .

Quách Ðồ vào Ký Châu ra mắt Viên Thượng .

Viên Thượng bảo :

– Nay ta vâng theo di chúc của cha ta, sao anh ta chưa về ?

Qưách Ðồ thưa :

– Vì thân thể bất an nên chưa đi được.

Viên Thượng kế đó phong cho Viên Ðàm làm Xa Kỵ Tướng quân, khiến Viên Ðàm đi đối địch với Tào Tháo. Lại sai Phùng Kỹ đem ấn tín giao cho Viên Ðàm.

Khi Phùng Kỹ đem ấn và lệnh ra quân cho Viên Ðàm thì Viên Ðàm giận lắm, muốn chém.

Quách Ðồ can :

– Nay binh Tào làm dữ, ta hãy để Phùng Kỹ lưu lại đây cho an lòng Viên Thượng, phá Tào xong thì ta sẽ tranh Ký Châu cũng không muộn .

Ðàm bèn y theo .

Ðến Lê Dương , gặp binh Tào Tháo, Viên Ðàm sai Uông Chiêu ra đánh.

Từ Quáng ra nghênh địch, mới vài hiệp đã chém chết Uông Chiêu.

Viên Ðàm đại bại về cầu cứu Viên Thượng .

Viên Thượng nghĩ nên mượn binh Tào mà trừ Viên Ðàm cho khỏi hậu họa nên không chịu phát quân. Viên Ðàm tức quá chém luôn Phùng Kỹ rồi bàn việc hàng Tào.

Quân thám thính về báo với Viên Thượng .

Viên Thượng lo Viên Ðàm đầu Tào nên đành mang quân đi tiếp cho Viên Ðàm .

Hai tướng Lư Khoán và Lư Tường xin đi tiên phuông.

Viên Ðàm được tin Viên Thượng đến cứu thì thôi đầu Tào, đồn binh trong thành.

Còn Viên Thượng thì ở ngoài thành làm kế ỷ giác.

Một ngày sau lại có Viên Hy và Cao Cán đến tiếp ứng.

Sau đó hàng ngày hai bên đánh nhau, bên họ Viên thua luôn, bên Tào thì thắng mãi.

Sau đó Viên Thượng bại một trận lớn, chạy về Ký Châu, Viên Ðàm cố thủ, còn Viên Hy lo tiếp viện.

Quách Gia bàn với Tào Tháo :

– Viên Thiệu bỏ cả lập thứ, con cái bất hòa . Nay ta cứ trì huỡn tự khắc chúng nó sẽ lo trừ lẫn nhau.

Bây giờ nên qua Kinh Châu đánh Lưu Biểu .

Tào Tháo khen phải và kéo quân qua Kinh Châu.

Viên Thượng nghe tin thì vật trâu bò mà ăn mừng.

Còn Viên Ðàm thì bảo Quách Ðồ :

– Cha ta nhường lại cho em ta, thực là bất công !

Quách Ðồ nói :

– Muốn trừ Viên Thượng thì mời y ra ngoài thành mà phó yến rồi giết, có khó gì .

Viên Ðàm y kế, cho người sang mời Viên Thượng .

Thẩm Phối biết rõ mưu Quách Ðồ, bèn bày mưu cho Viên Thượng nên nhân kế tựu kế mà trừ Viên Ðàm. Nghe lời, Viên Thượng liền mang quân đi đánh Viên Ðàm.

Ðàm thấy cơ mưu bại lộ thì cũng mang quân ra đánh.

Hai anh em đánh nhau mấy ngày thì Viên Ðàm thua chạy về Bình Nguyên cố thủ.

Thẩm Phối bảo Viên Thượng nên thừa thắng kéo thẳng sang Bình Nguyên mà diệt Viên Ðàm cho dứt. Viên Thượng y theo, vây đánh Bình Nguyên thật gấp.

Quách Ðồ liền bàn với Viên Ðàm :

– Nay chi bằng đầu Tào để Tào đánh Viên Thượng.

Viên Thượng tất phải rút thì lúc đó ta lại lo chống Tào .

Viên Ðàm nghe theo và viết thư cho Tào Tháo.

Tào Tháo đang đồn binh ở Tân Bình để đánh Kinh Châu.

Lưu Biểu sai Huyền Ðức đi chống cự.

Ðang lúc đó thì Tào Tháo nhận được thư của Viên Ðàm.

Trình Dục thưa :

– Ðây chẳng qua là y bị Viên Thượng đánh bại nên mới cầu mình, chứ y không thực. Nay ta cứ lo đánh Kinh Châu đã .

Tuân Du nói :

– Ý đó chưa hẳn là hay. Theo tôi Lưu Biểu là kẻ không tài ngồi mà bám vào địa vị, có chi là đáng lo . Còn đất Hà Bắc, hai thằng con nít nó đánh nhau, đây là dịp Trời cho để lấy Ký Châu, nếu chậm để người khác lấy thật uổng !

Tào Tháo khen phải và vời Tân Tỷ vào hỏi.

Tân Tỷ thưa :

– Họ Viên làm mất lòng dân, tình hình điều đúng, binh thì thua luôn, anh em bất hòa, dù kẻ ngu cũng biết họ Viên sẽ bị đào thải. Nay chỉ có Hà Bắc là đất lớn, Chúa Công thâu đặng thì nghiệp bá phải nên. Còn Kinh Châu đang nước hòa dân thuận, chưa phải là lúc đả động .

Tào Tháo khen Tần Tỷ không hết lời rồi đem binh qua Ký Châu.

Huyền Ðức thấy tự nhiên binh Tào kéo đi thì sanh nghi, chẳng dám đuổi theo và cũng rút binh về ra mắt Lưu Biểu.

Viên Ðàm thì dẫn hai tướng Lữ Khoán, Lữ Tuờng ra mắt Tào Tháo.

Tháo hứa sẽ gả con gái cho Viên Ðàm, sau đó Tháo mới lo chở lương thảo đầy đủ và cho quân đi dọc theo sông Tế Hà, sông Kỳ Thủy vào Bạch Câu. Lại sai Viên Ðàm giữ Bình Ngnyên, còn Tháo dẫn quân tới Lê Dương, cho Lữ Khoán, Lữ Tường đi theo để điều động.

Quách Ðồ bàn với Viên Ðàm :

– Tháo hứa gả con gái cho Chúa Công là kế của y chớ không thực bụng đâu. Cho Lữ Tường, Lữ Khoán

theo là mua chuộc lòng dân Hà Bắc. Nay Chúa Công sai làm hai ấn Tướng quân ban cho anh em họ Lữ, bảo họ làm nội ứng, chờ phá xong Viên Thượng thì khởi sự .

Nào ngờ anh em họ Lữ được ấn xong liền vào báo cho Tào Tháo.

Tháo cả cười mà nói :

– Việc ấy để ta lo liệu .

Từ đó Tào Tháo có ý muốn giết Viên Ðàm.

Viên Thượng thì bàn với Thẩm Phối :

– Tào Tháo đang chờ lương , y không đánh gấp đâu. Ta nên lập tức đánh Viên Ðàm trước rồi lo Tào Tháo sau thì mới yên . Nói rồi cho Thẩm Phối và Trần Lâm giữ Ký Châu, còn mình đem quân đi Bình Nguyên.

Viên Ðàm liền thông báo ngay sự thể cho Tào Tháo.

Tào Tháo cả cưòi khi nghe tin và nói :

– Thằng con nít thiệt vô dụng. Lần nầy Ký Châu về tay ta rồi .

Ðang bàn luận thì Hứa Nhu từ Hứa Xương về nói :

– Tình hình chín mùi rồi mà Thừa Tướng không lấy Ký Châu, đợi cho Trời đánh Viên Ðàm, Viên Thượng. hay sao ?

Tào Tháo đáp :

– Ta đã lo liệu rồi .

Xong lập tức cho quân bổ vây Ký Châu.

Thẩm Phối ở trong hết sức cố thủ .

Tào Tháo cho đắp núi đất cao quanh thành, dưới thì đào hầm để vô thành, nhưng bên trong hết sức canh phòng cẩn mật. Một bữa có tên Phùng Lễ đi tuần ở cửa Ðông, vì say rượu nên trể nải, bị Thẩm Phối mắng mỏ nặng lời nên qua đầu Tào Tháo và mách Tào Tháo ở phía cửa Ðông nhiều đất mà ít đá, đào vô thì tất thành công.

Thẩm Phối ngày đêm cố thủ, chợt nhìn thay ngoài thành chẳng thấy ánh sáng chi hết, đi đến cửa Ðông thì biết là có kẻ đào hầm, liền cho đem đá lấp kín, Phùng Lễ chết ở dưới.

Tào Tháo về đóng quân ở Viên Thủy.

Viên Thượng hay tin Ký Châu bị vây thì đem quân về cứu ứng .

Mã Diên khuyên nên đi đường nhỏ cho khỏi phục binh.

Quân dọ thám báo cho Tào Tháo biết, Tào Tháo bèn sắp đặt xong phương kế .

Viên Thượng tới cách Ký Châu 20 dặm thì đóng trại, và dạy quân chất củi, rơm đến tối thì làm hiệu cho Thẩm Phối, lại sai Lý Phu giả làm binh Tào đến bên thành và báo Thẩm Phối nên giả cho một ít quân

già đầu Tào, rồi khi Tào không phòng ngừa thì đánh úp, tất thành công.

Thẩm Phối đồng ý.

Ngày hôm sau trên thành có biên đề mấy chữ : Bá tánh Ký Châu đầu hàng.

Tào Tháo nói :

– Ðây là nó thiếu lương, cho bá tánh hàng để thừa dịp đổ binh ra .

Bèn cho Trương Liêu, Từ Quáng mai Phục hai bên cửa . Khi thành mở thì dân chúng dắt nhau, cầm cờ trắng mà đi ra. Khi bá tánh ra vừa hết , Tào Tháo ra hiệu tức thì Trương Liêu, Từ Quáng xông vào đánh, binh Thẩm Phối vội lui vào thành, Tào Tháo cho đuổi theo gấp thì bị một mũi tên bắn vào mão, gần lủng tới đầu .

Tào Tháo quay về chỉnh đốn lại hàng ngũ rồi kéo tới đánh Viên Thượng.

Viên Thượng thua chạy, sai đi gọi Mã Diên, Trương Dĩ tới cứu, nào ngờ hai tướng này đã được chiêu dụ về hàng Tào rồi.

Viên Thượng thua luôn, thấy giữ không nổi hạ trại ở đâu cũng bị đánh thì sai Thứ Sử Dự Châu là Ân Quì sang bên Tào xin hàng.

Tào Tháo giả cho, nhưng nội đêm ấy cho cướp trại Viên Thượng.

Thượng bỏ cả ấn tín, đơn thương độc mã chạy vào núi trốn.

Riêng Thẩm Phối cố thủ Ký Châu rất nghiêm nên binh Tào chưa chiếm được.

Hứa Nhu hiến kế nên đào hào sâu dẫn nước sông Chương Hà vào cho thành bị lụt .

Tào Tháo y kế.

Thẩm Phối cho là quân Tào đào không sâu thì không lo ngại nên không đề phòng. Nào ngờ đêm ấy

binh Tào bội phần gắng sức đào sâu hơn hai trượng, nước Chương Hà tràn vào thành ngập tới mấy thước. Lúc đó quân sĩ trong thành đều gần chết đói, Tân Kỳ ra chiêu an dân chúng để cùng đầu hàng thì bị Thẩm Phối chém chét, liệng thủ cấp ra ngoài.

Thẩm Vinh là bạn Tân Kỳ tức thời mở rộng các cửa thành, quân Tào tràn vào; Thẩm Phối bị Từ Quáng bắt trói giải ra.

Tào Tháo dụ hàng , Thẩm Phối không chịu, thà làm ma cho họ Viên.

Tào Tháo đành cho giết nhưng thương tiếc là nguời trung nghĩa nên làm ma chay tử tế.

Tào Tháo sắp sửa dẫn quân vào thành thì lại thấy giải một người tới nhìn xem là Trần Lâm.

Tào Tháo hỏi :

– Lúc trước mi làm tờ hịch kể tội ta hay lắm, nhưng nói ta là đủ, sao lại nói đến cả ông bà ta làm gì .

Trần Lâm nói :

– Ở trên cung không bung không được !

Kế đó vì mến tài mà Tào Tháo không chém, lại cho làm chức Tùng Sự.

Nói về con trai lớn của Tào Tháo là Tào Phi vừa mưòi tám tuổi.

Khi sanh Phi thì có vầng mây xanh đỏ tròn như cái tàn bao phủ cả nhà.

Phi thông minh, giỏi thơ, kỵ xạ, múa gươm đều hay. Lúc đó Phi cũng có mặt ở Ký Châu.

Bữa nọ, dạo chơi vào phủ Viên Thiệu thấy có hai người đàn bà đang khóc thì vung gươm toan chém. Chợt có một luồng hào quang đỡ lại.

Hồi Thứ Ba Mươi Ba

Tào Phi ham sắc nạp Danh Thị
QuáchGia tính kế định Liêu Ðông

Tào Phi liền ngừng tay hỏi :

– Hai người là ai ?

Hai người thưa là Lưu Thị vợ Viên Thiệu và Danh Thị vợ của Viên Hy.

Tào Phi kêu Danh Thị lại gần, thay mặt mũi lọ lem lấy tay áo mà lau, thay lồ lộ một sắc đẹp mê hồn.

Tào Phi liền bảo Lưu Thị :

– Ta là con Thừa Tướng sẳn lòng bảo vệ cho các người, xin đừng buồn !

Khi đó Tào Tháo vào Ký Châu; tới cửa thành có Hứa Nhu cầm roi chỉ Tào Tháo mà nói :

– A Man, không có ta, liệu có vô được cửa thành nầy chăng ?

Chư tướng đều giận tím mặt, Tào Tháo cười, tảng lờ.

Ðến phủ Viên Thiệu, hỏi có ai ở trong không ?

Quân thưa :

– Có Công Tử ở trong .

Tháo bước vào, Lưu Thị vội quì ra mắt, Tháo cũng đáp lễ, rồi nạt Tào Phi :

– Ai cho ngươi vào đây ?

Lưu Thị vội nói :

– Nhờ Công Tử mà chúng tôi được an toàn nên đã nguyện cho Danh Thị đây theo hầu Công Tử .

Tào Tháo nhìn Danh Thị rồi chấp nhận.

Sau đó Tào Tháo lại viếng mộ Viên Thiệu, cúng tế đàng hoàng.

Ngày kia, Hứa Chữ qua cửa thành; Hứa Nhu lại nói :

– Không có ta, bọn ngươi có vào được thành này không ?

Hứa Chữ cho luôn một gươm rồi xách đầu Nhu vào trình Tào Tháo.

Tào Tháo làm ra vẻ thương tiếc một hồi. Sau đó, Tháo cho rao khắp Ký Châu để chiêu nạp người hiền. Có Thôi Ðạm là người hay hiến kế hay cho Viên Thiệu mà Viên Thiệu không chịu nghe, nay Tháo vời ra ban cho chức Biệt Giá Tùng Sự .

Nói về Viên Thượng khi đó thì qua đầu Viên Hy.

Còn Viên Ðàm từ ngày theo Tào thì đóng quân ở Bình Nguyên, ngày kia được Tào Tháo gọi về Ký Châu nhưng nghi ngại lần chần không đi nên Tào Tháo đến vấn tội .

Viên Ðàm lại chạy về Nam Bì và viết thư cầu cứu Lưu Biểu.

Lưu Biểu mời Huyền Ðức thương nghị .

Huyền Ðức nói :

– Anh em họ Viên như vậy, giúp chỉ mất công tôi, Tào Tháo thì hay dòm ngó Kinh Châu, vậy dưỡng quân chờ thời là hơn .

Lưu Biểu liền bác đơn cầu viện của Viên Thượng.

Tào Tháo thì đuổi theo Viên Ðàm tới tận Nam Bì , vây thành rất ngặt.

Viên Ðàm lại ra hàng nữa, và cho Tân Bình đến nói trước với Tào Tháo.

Tháo mắng :

– Thằng đó phản phủc quá lắm , rồi đuổi Tân Bình về.

Quách Ðồ bảo :

– Mai đành cho bá tánh đi trước, binh theo sau, liều chết một phen mà giải vây.

Hôm sau cứ y vậy mà làm, nào ngờ Tào Tháo đánh luôn, bá tánh chết lây vô số.

Quách Ðồ bị tên mà thác.

Tháo vào Nam Bì vỗ an dân chúng , chém Viên Ðàm, bêu đầu làm lịnh.

Chợt có một người ôm thây Viên Ðàm mà khóc. Tra hỏi thì ra Vương Tu, làm Biệt Giả ở Thanh Châu. Tào Tháo hỏi thì Vương Tu đáp xin chôn cất cho chủ là Viên Ðàm rồi chịu chết.

Tào Tháo than rằng :

– Ðất Hà Bắc nhiêu người giỏi, tiếc thay Viên Thiệu không biết dùng !

Bèn cho Vương Tu chôn cất Viên Ðàm, lại phong cho Tu làm Trung Lang Tướng.

Tào Tháo hỏi Vương Tu muốn bắt Viên Hy thì làm thế nào ?

Vương Tu nín thinh.

Tào Tháo lại khen mà không bắt tội .

Sau đó Tháo cho các tướng cũ của họ Viên là Tiêu Xúc, Trương Nam, Lữ Khoán, Lữ Tường đánh U Châu, sai Lý Ðiển, Nhạc Tấn, Trương Yên đánh Tịnh Châu .

Sau đó cả Viên Thượng, Viên Hy chạy qua Liêu Ðông đầu hàng.

Thứ Sử U Châu là Ô Hoàng Xúc bàn việc phản họ Viên mà đầu Tào .

Hàn Thành nói :

– Chúa bại nước suy thì làm tôi không cứu được đã thiếu nghĩa rồi, có đâu mà lại đầu hàng .

Ô Hoàng Xúc nói :

– Việc này là việc lớn, một người không chịu cũng không sao .

Nói rồi cho Hàn Thành đi và tự kéo quân sang đầu .

Tào Tháo phong Ô Hoàng Xác làm Trấn Bắc tướng quân.

Sau đó Tháo kéo đại binh sang Tịnh Châu .

Các tướng bàn kế trá hàng.

Tào Tháo y theo cho Lữ Khoán, Lữ Tuờng dẫn quân đến bên thành mà kêu :

– Chúng ta là bộ tướng của Viên Thượng nay chạy được về đây giúp Cố Chúa .

Tướng giữ Tịnh Châu là Cao Cáng cho gọi vào .

Hai người vào quì lạy rồi thưa :

– Quân Tào mới đến còn mỏi mệt, đêm nay chúng tôi xin đi cướp trại, ắt thành công .

Cao Cáng tin lời .

Ðêm ấy họ Lữ đi trước. Cao Cáng đi sau, tới trại Tào thì pháo lệnh nổ vang, Cao Cáng biết trúng kế định lui binh thì Nhạc Tấn, Lý Ðiển đã đoạt mất thành.

Cao Cáng tìm đường mà chạy .

Qua bờ cõi Thuyền Vu gặp Vua Phiên là Tả Hiền vương.

Cao Cáng quì mà thưa :

– Tào Tháo tóm thâu thiên hạ, nay lại có ý xâm phạm quí quốc.

Tả Hiền Vương nạt rằng :

– Tào Tháo với ta chẳng có chuyện gì, . ngươi lại muốn xua ta vào vòng binh lửa hay sao ?

Túng thế, Cao Cáng về đầ Lưu Biểu đi nửa đường thì bị Vương Ðạm giết, mang thủ cấp dâng Tào Tháo .

Tháo phong cho Vương Ðạm làm Liệt Hầu .

Lấy xong Tinh Châu, Tháo quay sang Liêu Tây để đánh Viên Hy, Viên Thưọng .

Tào Hồng thưa :

– Bọn chúng bại trận luôn, xô đẩy tới cùng thì chúng chạy ra Sa Mạc. Phỏng như Lưu Bị, Lưu Biểu thừa cơ đánh Hứa đô ta quay về không kịp thì làm sao ?

Quách Gia đáp :

– Ông nói sai rồi, quân Sa Mạc nó ỷ đường sá cản trở không phòng bị kỹ. Ta đánh thì toàn thắng .

Tào Tháo y lời, nhắm Sa Mạc mà tiến quân. Ðường trường vất vả, Quách Gia thọ bịnh, Tào Tháo thương cảm lắm có ý quay về.

Quách Gia can và nói :

– Nay cần tiến mau nữa, chỉ lựa binh khoẻ mang theo ít đồ, có hướng đạo giỏi đi đường tắt thì thành công đến nơi .

Tào Tháo y theo và để Quách Gia ở lại dưỡng bệnh, lại lựa Ðiền Trù ,nguyên bộ hạ của họ Viên , thông thạo đường lối làm hướng đạo.

Ðiền Trù mách nên cho quân trở lui và đi dọc theo vàm Lư Long khỏi truông Bạc Ðầu ra tới đất trống thì thấy Liễu Thành, đánh úp thì toàn thắng.

Tào Tháo nghe lời, kéo binh đi, gần tới thì quân báo có quân Mạc Ðặt do Viên Hy và Viên Thượng dẫn đầu đang tập trung ở đây.

Tháo lên chỗ cao xem, thấy quân Mạc Ðặt vô kỷ-luật bèn truyền lệnh đánh ngay.

Trương Liêu, Vu Cấm, Từ Quáng, Hứa Chữ cùng đánh, quân Mạc Ðặt rối loạn hàng ngũ, tướng Mạc Ðặt qui hàng hết.

Viên Hy, Viên Thượng lại chạy qua Liêu Ðông.

Trận ấy, Tào Tháo bắt được hàng ngàn ngựa tốt, rồi rút binh về.

Về tới Dịch Châu, Tào Tháo nói với tướng sĩ :

– Lúc trước ra quân đường xa cũng là kế liều, nay được thành công, đó là nhờ tất cả mọi người đồng lao cộng tác, khổ sở vô cùng ; chớ một mình ta thì có làm gì được đâu . Nói rồi mở kho lấy tiền bạc khao thưởng tướng sĩ ba quân, ai nấy đều vui mừng hả dạ.

Về tới nơi thì có tin báo Quách Gia đã chết, linh cữu còn quàng ở công quán.

Tào Tháo tế lễ, khóc nói vói chư tướng :

– Các ông với ta cùng một tuổi. Duy có Phụng Hiếu nhỏ hơn cả, những tưởng giúp nhau còn lâu, nào ngờ mới đây mà Trời đã hại ta, thiệt là đau đớn . Lại có quân dâng một búc thư của Quách Gia di ngôn lại khi gần chết.

Tào Tháo xem thư rồi gật đầu, các quan chẳng hiễu thư nói gì hết.

Hôm sau Hạ Hầu Ðôn vào trình :

– Viên Hy, Viên Thượng đã đầu Thái Thú Liêu Ðông là Công Tôn Khương .

Công Tôn Khương bấy lâu vẫn không có ý phục ta, xin Thừa Tướng cho tôi đi dẹp quách ?

Tào Tháo cười :

– Các ông khỏi nhọc sức, Công Tôn Khương sắp mang đầu họ Viên tới để các ông coi !

Các tướng cười thầm không tin.

Nói về anh em họ Viên qua đầu Công Tôn Khương.

Công Tôn Khương nhóm tướng sĩ thương nghị.

Công Tôn Cung nói :

– Trước đây Viên Thiệu luôn dòm ngó Liêu Ðông. Nay anh em họ Viên lại có ý nhờ đất ta mà dụng võ. Thâu nạp chúng thì Liêu Ðông nguy. Chi bằng giết phứt đi mà dâng Tào Tháo, ấy là lợi nhứt .

Công Tôn Khương nghe lời, cho đao phủ mai phục rồi gọi anh em họ Viên vào.

Vừa vào đã bị quân đao phủ ào ra chém cả hai.

Ðầu Viên Hy, Viên Thượng đuợc bỏ vào quách nhỏ đem dâng Tào Tháo.

Ngày nọ, Tào Tháo đang ngồi nghỉ thì Trương Liêu vào thưa xin cho về Hứa đô để phòng Lưu Biểu.

Tào Tháo thủng thỉnh nói :

– Chờ đầu anh em họ Viên đã .

Bỗng quân vào báo Công Tôn Khương cho mang đầu họ Viên đến dâng nạp .

Chư tướng đều thất kinh.

Tào Tháo cười nói :

– Không khỏi tiên đoán của Quách Phụng Hiếu !

Sau đó Tào Tháo phong cho Tôn Khương chức Tả tướng quân. Rồi mới lấy thư của Quách Gia cho mọi người xem. Thư rằng :

” Hy , Thượng đầu Liêu Ðông. Chúa Công khỏi đi đánh vì Công Tôn Khương thù họ Viên bấy lâu, nay sẽ giết anh em họ Viên mà cầu cạnh đến Chúa Công, xin Chúa Công cứ bình tâm chờ kết quả ” .

Mọi ngưòi đều khâm phục Quách Gia.

Sau đó Tháo thâu quân về Ký Châu.

Bọn Trình Dục thưa :

– Nay mạn Bắc đã yên, xin lo việc đánh Giang Nam .

Tào Tháo nói :

– Ðó cũng là ý ta .

Ðêm ấy, Tào Tháo nhìn sao sáng trên trời, thấy Phương Nam có vương khí thì nói :

– Chưa nên đánh Giang Nam .

Chợt có một luồng sáng từ đất bay lên.

Tuân Du thưa :

– Nhất định có của báu ở nơi đó.

Sai người cứ chỗ ấy đào thì lấy đuọc một con chim sẻ bằng đồng.

Du thưa :

– Mẹ Vua Thuấn mơ thấy chim sẻ vào bụng mà sanh Vua Thuấn, nay Thừa Tướng bắt được chim sẻ, ấy là điềm tốt .

Tào Tháo cả mừng, sai làm đền Ðồng Tước ở bên sông Chương Hà, toà giữa cao nhất gọi là Ðồng Tước, bên tả gọi là Ngọc Long, bên hữu gọi là Kim Phượng, cỏ hai cái cầu bắc vào chính giữa, làm theo kiểu do Tào Thực là con nhỏ của Tào Tháo phác họa.

Tháo định sẽ vui tuổi già ở đây.

Hồi Thứ Ba Mươi Bốn

Thái Phu nhơn lén nghe chuyện mật
Lưu Huyền Ðức qua vực Ðàn Khê

Tào Tháo cho Tào Phi , Tào Thực ở lại hoàn thành đền đài, còn thì kéo cả về Hứa đô.

Sáu mươi vạn tàn quân của Viên Thiệu từ nay tay Tào Tháo và sự nghiệp Viên Thiệu kễ như chấm dứt.

Huyền Ðức thường ngày thương nghị với Lưu Biểu, ngày kia có tin Tào Tháo dẹp xong họ Viên, kéo về Hứa đô ; thanh thế thực lẫy lừng.

Lưu Biểu hỏi nếu Tào Tháo đem binh tới Giang Nam thì phải làm sao ?

Huyền Ðức thưa phải sai ngay bọn hổ tướng đi trấn các nơi hiểm yếu đã.

Lưu Biểu đồng ý.

Thế là Vân Trường đi trấn Cố Tử Thành, Trương Phi trấn Nam Việt, Triệu Vân giữ Tam Giang, còn Lưu Bị ở lại Kinh Châu.

Thái Mạo lén nói với Thái phu nhơn :

– Lưa Bị ở Kinh Châu ắt sẽ gieo họa .

Thái phu nhơn đêm đó nói với Lưu Biểu :

– Tôi nghe nhiều người lui tới với Huyền Ðức, nay nên sai va đi chỗ khác thì hơn.

Lưu Biểu không nghe.

Qua bữa sau, Lưu Biểu thấy Huyền Ðức cỡi con ngựa tốt, Lưu Biểu khen, Huyền Ðức liền dâng ngay cho Lưu Biểu .

Lưu Biểu cởi về.

Khoái Việt nói :

– Ngựa có đốm ở mắt, Chúa Công cỡi sẽ mang hại.

Hôm sau, Lưu Biểu liền trả lại ngựa cho Huyền Ðức .

Huyền Ðức tạ ơn lãnh về.

Lưu Biểu lại sai Huyền Ðức đi trấn nhậm huyện Tân Giả.

Huyền Ðức vâng chỉ đi ngay.

Trấn nhậm ở Tân Giả, dân tình được an cư lạc nghiệp.

Ngày kia nghe tin Tào Tháo bận việc quân phương Bắc, Huyền Ðức thưa với Lưu Biểu nên đánh Hứa Xương.

Lưu Biểu nói :

– Ta có Kinh Châu hơn 9 quận còn đánh Hứa đô làm chi !

Huyền Ðức lại bỏ về Tân-Giả.

Một ngày kia, có sứ của Lưu Biểu mời Huyền Ðúc về hội kiến.

Huyền Ðức đi ngay, tới nơi Lưu Biểu mời vào ăn uống , rồi nói :

– Tào Tháo đang dưỡng bịnh ở Hứa đô ý muốn dòm Kinh , Tương. Anh rất tiếc không nghe em lúc trước.

Huyền Ðức nói :

– Cơ hội chưa phải là hết, sau này anh chịu nghe theo thì cũng không muộn .

Lưu Biểu chợt sa lụy, Huyền Ðức vội hỏi vì sao.

Lưu-Biểu nói :

– Anh có chuyện riêng, nhưng chưa tiện nói .

Huyền Ðức lại nói :

– Anh có gì căn bảo em, dù chết em cũng không ngại .

Lưu Biểu liền kễ :

– Anh có hai vợ. Vợ lớn là Trần Thị sanh đặng Lưu Kỳ. Vợ nhỏ là Thái Thị sanh đặng Lưu Tông, tánh chất thông minh, anh muốn cho nó kế nghiệp mà còn trù trừ chưa quyết .

Huyền Ðức thưa :

– Bỏ cả ìập thứ, e sanh nhiều chuyện .

Lưu Biểu lại hỏi :

– Em bình sanh chí cả, vậy ở đây có dự định gì chưa ?

Huyền Ðức thưa :

– Em chưa có căn bản nên phải chờ thời cơ .

Huyền Ðức thì nghĩ sao nói vậy, mà Lưu Biểu thì không vui.

Thấy vậy Huyền Ðức giả say rồi xin về.

Thái phu nhơn tỉ tê cùng chồng rằng :

– Lưu Bị có ý đoạt Kinh Châu chứ chẳng không. Phu quân liệu mà trừ va cho sớm .

Biểu không nói gì. Thái Phu nhơn triệu Thái Mạo vào hỏi .

Mạo nói :

– Tôi xin đến quán dịch trừ va cho rồi, sau sẽ báo chúa công rõ.

Phu nhơn gật đầu.

Canh ba đêm đó, Lưu Bị còn đọc sách thì có người xin vào xem ra Y Tịch.

Y Tịch biết ý của Thái Mạo nên báo gấp cho Huyền Ðức.

Huyền Ðức nói :

– Chưa từ biệt Kiển Thăng, sao mà đi được ?

Y Tịch nói :

– Chờ từ biệt thì ông nguy rồi !

Huyền Ðức nghe ra liền cùng tâm phúc lên ngựa chạy miết về Tân Giả.

Thái Mạo chạy tới, thấy Huyền Ðưúc đã trốn, nghĩ một lát rồi đề bài thơ lên vách :

Lúng túng nữa đời
Thẹn với đất trời
Rồng kẹt nơi vũng
Cũng chỉ chờ thời

Sau đó Thái Mạo mời Lưu Biểu đến đọc thơ, Thái Mạo nói :

– Y ý phản phúc nên lời thơ bày ra đó .

Lưu Biểu vẫn chưa tin mà nói :

– Xưa nay Huyền Ðức có thi phú gì đâu .

Thái Mạo liền chạy tót về thưa lại Thái phu nhơn, sau nghĩ ra trò phó yến để hại Huyền Ðức.

Hôm sau Thái Mạo trình Lưu Biểu :

– Năm nay được mùa, nên mời hết các quan ở Châu Quận về thết đãi, đồng thời để lưu ý họ đến nhiệm vụ mỗi người .

Lưu Biểu nói :

– Vậy cũng đặng, nhưng ta trong mình không khoẻ vậy nên mời Huyền Ðức đại diện cho ta .

Thái Mạo mừng quýnh, thưa lại Thái phu nhơn rồi mời Huyền Ðức qua Tương Dương phó yến.

Huyền Ðức từ khi lỡ lời với Lưu Biểu thì còn ân hận mãi . Nay nghe có sứ mời, thì triệu hai em vào thương nghị.

Vân Trường nói :

– Lưu Biểu chưa hẳn nghi ngờ anh, vậy anh nên đi nếu không, mối nghi kia sẽ thành sự thực.

Truơng Phi nói :

– Hội hè không tốt thì đi làm gì !

Triệu Vân thì nói :

– Tôi xin lãnh 300 quân kỵ đi theo bảo vệ Chúa Công .

Huyền Ðức nói :

– Triệu Vân đi theo thì an tâm rồi .

Kế đó cùng Triệu Vân đi phó yến.

Tới Tương Dương, đã có mặt các quan chín quận, bốn mươi mốt châu, lại có hai vị công tử Lưu Kỳ, Lưu Tông cùng tham dự với Thái Mạo.

Lưu Kỳ thưa :

– Cha tôi bị yếu nên nhờ chú thay mặt .

Huyền Ðức nói :

– Ðúng ra Chú không dám đại diện như vậy, nhưng Lưu Chúa Công đã dạy thì phải tuân lời .

Bửa sau, Thái Mạo bàn việc cùng Khoái Việt.

Thái Mạo nói :

– Lưu Bị có manh tâm nên phải trừ đi mới được .

Khoái Việt e sợ mất lòng tin cậy của dân chúng. Mạo h’n đưa mật chiếu ra, Việt mới đồng ý tiến hành mưu kế.

Mạo nói :

– Phía Ðông, ta cho Thái.Hòa chặn giữ, phía Nam thì có Thái Trung, Phía Bắc có Thái Huân , duy phía Tây thì không cần cử ai vì có sông Ðàng Khê ngăn rồi, có cánh cũng không thoát .

Khoái Việt nói :

– Tôi thấy có Triệu Vân đem ba trăm quân theo hộ vệ gắt lắm .

Mạo nói :

– Ðừng lo vì ta cho phục tới năm ngàn quân ở bên trong rồi.

Ngày ấy, tiệc yến rất lớn, Huyền Ðức tới, các quan tiếp đón ngồi vào giữa, hai công tử hai bên, còn Triệu Vân thì cầm guơm đứng sau Huyền Ðức.

Lúc ấy Vương Oai và Văn Sánh vào mời Triệu Vân ra dự tiệc với các tướng bên ngoài.

Triệu Vân không đi thì Huyền Ðức lại bảo cứ đi nên Triệu Vân phải tuân lời .

Rượu vài tuần thì có Y Tịch nháy Huyền Ðức.

Huyền Ðức giả vờ xin ra thay áo thì Y Tịch bảo ngầm :

– Quân Thái Mạo mai phục tứ phía, ông đi ngay, chớ có chần chờ ; Y Tịch lại dặn chạy ra cửa Tây, nơi ấy không có quân phục.

Huyền Ðức thất kinh, ra vườn nhảy tót lên ngựa, theo cửa Tây mà chạy.

Quân báo Thái Mạo, Mạo vội đem quân đuổi gấp.

Khi tới Ðàng Khê .

Huyền Ðức than rằng :

– Con sông nầy thì hết mong qua rồi !

Ðàng sau thì binh mã Thái Mạo ầm ầm rượt tới, Huyền Ðức phen này chắc chết, bèn giục ngựa chạy thẳng xuống sông, người ngựa đều ngập nước.

Huyền Ðức bỗng nhiên giơ roi thật cao rồi hô lớn :

– Ðích Lô ! Ðích Lô ! Kim nhựt phòng ngô.

Tức thời con ngựa bỗng nhảy vọt lên cao, bay tuốt sang bờ bên kia .

Huyền Ðức nhắm mắt mà như ngồi trên mây trên gió.

Qua được bờ, áo xiêm còn ướt mà vẫn ngờ chiêm hao, tâm trí như ngây. Ngó sang bờ bên kia, thấy Thái Mạo và quân sĩ đang ngơ ngơ ngác ngác.

Huyền Ðức hỏi vói :

– Cớ gì mà ông cứ định giết tôi như vậy ?

Thái Mạo nói thác :

– Giữa tiệc, sứ quân bỏ đi nên tôi đi tìm đó chớ . Nói vậy mà tay thì giuơng cung sắp bắn .

Huyền Ðức vội chạy tuốt.

Thái Mạo không làm gì được, nói với thủ hạ :

– Hay là có thần nhân giúp va chăng ?

Nói rồi toan về thì chợt Triệu Vân dẫn quân Kỵ chạy tới hỏi lớn :

– Chúa Công tôi đâu ?

Thái Mạo nói :

– Vừa thấy ở đây, mà không biết đi đâu rồi.

Hồi Thứ Ba Mươi Lăm

Huyền Ðức vui mừng gặp ẩn sĩ
Ðơn Phước có dịp hầu anh quân

Triệu Vân liền nạt Thái Mạo :

– Ngươi mời Chúa Công ta phó yến mà sao lại ruợt theo như vậy ?

Thái Mạo nói :

– Ðông đủ văn võ chín Quận, ta là thượng tướng mà không theo bảo vệ Lưu sứ quân chăng ?

Nghe nói có lý, Triệu Vân liền bõ đi kiếm, kiếm hoài không thấy thì trở về Tân Giả.

Huyền Ðức vượt Ðàng Khê thì gặp một mục đồng liền hỏi thăm đường về Tân Giả.

Mục đồng hỏi :

– Ông có phải là Huyền Ðức không ?

Huyền Ðức lạ lắm, hỏi làm sao mà biết.

Ðứa trẻ nói :

– Thầy tôi có khách là cứ bàn đến tên ông và tả hình dạng mặt mày .Tôi thấy giống nên hỏi vậy thôi .

Huyền Ðức hỏi thầy là ai, mục đồng nói :

– Tư Mã Huy, tự Ðức Thái, hịệu là Thủy Kính tiên sanh.

Huyền Ðức lại hỏi , thầy chơi với ai.

Mục đồng nói :

– Chơi với Ðức Công và Bàng Thống đều ở Tương Dương.

Huyền Ðức hỏi thăm nhà, mục đồng chỉ bụi cây um tùm xa xa mà nói : ở đấy .

Huyền Ðức nói :

– Ta chính là Huyền Ðức , vậy đưa ta ra mắt thầy ngươi .

Mục đồng đưa về nhà thì ở trong tiếng đàn văn vẳng khoan thai.

Bỗng tiếng đàn im , có người bước ra nói :

– Tiếng đàn nổi âm thanh khác, chắc có anh hùng lén nghe .

Mục đồng chỉ nói :

– Thủy Kính tiên sanh đó .

Huyền Ðức vội thưa :

– Tôi là Huyền Ðức xin bái yết tiên sanh .

Kính hỏi luôn :

– Nghe ông bấy lâu ôm chí cả, chẳng hay nghiệp lớn nên chưa ?

Huyền Ðức thưa rằng vận hạn đang gặp gian nguy.

Thủy Kính nói :

– Ðó là vì tả hữu thiếu người giúp đỡ .

Huyền Ðức kễ tên Tôn Hoàng, Mê Trước, Giảng Ung, Quan Công, Trương Phi, Triệu Vân.

Thủy Kính đáp :

– Quan, Trương. Triệu sức đánh muôn người nhưng thiếu người điều khiển. Tôn Càng , Mê Truớc v. v . . . đều là bạch diện thơ ainh, chưa phải là kinh luân tế thế .

Huyền Ðức hỏi phải làm sao.

Thủy Kính nói :

– Ở đây nhiều người tài, ông nên tìm cho ra .

Huyền Ðức hỏi là ai và xin được chỉ bảo.

Thủy Kính nói :

– Phục Long, Phụng Sồ, được một trong hai vị ấy thì an thiên hạ .

Huyền Ðức lại hỏi :

– Phục Long, Phụng Sồ là ai ? Thì Thủy Kính cười, vỗ tay mà khen : Tốt ! Tốt !

Rồi Thủy Kính bảo mai sẽ chỉ dẫn cho. Nói rồi giữ Huyền Ðức ngủ lại.

Huyền Ðức tới canh ba cũng chưa ngủ được, lắng nghe có người nói chuyện với Thủy Kính :

– Nghe Lưu Kiển Thăng chiêu hiền, tôi toan đến tìm nhưng lại e va là người nhu nhược nên lại đang tìm nơi khác .

Thủy Kính đáp :

– Tài như ông thì sao lại tìm hạng người như Kiển Thăng . Có hào kiệt ở đây sao ông không rõ ?

Người ấy đáp :

– Phải .

Huyền Ðức nghe vậy thì mừng lắm.

Sáng ra Huyền Ðức buột miệng hỏi :

– Ðêm qua, tiên sinh nói chuyện với ai thế ?

Thủy Kính đáp :

– Ðó là bạn tôi, hiện đã đi tìm minh chúa rồi .

Huyền Ðức hỏi là ai, thì Thủy Kính lại reo lên : ‘Tốt ! tốt !’.

Huyền Ðức lại năn nỉ Thủy Kính ra giúp mình.

Thủy Kính nói :

– Tôi là kẻ thích ở ẩn, sẽ có người tài hơn ra giúp.

Ðang đàm đạo thì tiểu đồng vào thưa có một đạo binh mã ~ór.

Huyền Ðức ra xem thì là Triệu Vân.

Triệu-Vân mừng rỡ thưa :

– Tôi họi thăm mãi mới biết Chúa Công ở đây .

Huyền Ðức liền từ giã Thủy Kính, cùng Triệu Vân về Tân Giã.

Nữa đường lại gặp Vân Trường và Trương Phi kéo đến.

Huyền Ðức kễ chuyện bay ngựa qua sông Ðàng Khê, mọi người đều lấy làm lạ.

Tôn Càng nói :

– Phải viết thư về vụ này cho Kiển Thăng biết.

Huyền Ðức liền viết thư và cho Tôn Càng mang sang Kinh Châu.

Lưu Biểu đọc rồi gọi Thái Mạo vào mà nặng lời khiển trách.

Trong khi tức giận, Luu Biểu rút gươm toan chém, may có Thái phu nhơn chạy ra xin, Thái Mạo mới thoát.

Lưu Biểu liền sai Lưu Kỳ sang tạ lỗi với Huyền Ðức.

Hai chú cháu tâm sự cùng nhau.

Lưu Kỳ kễ là Thái Phu nhơn tức mẹ ghẻ cũng có ý hại mình nữa. Nói rồi oà khóc.

Huyền Ðức khuyên cứ giữ trọn đạo làm con thì nạn nào cũng qua.

Sau đó Lưu Kỳ tạ từ chú mà về.

Huyền Ðức tiễn cháu đi xong thì gặp một người bịt khăn đen, mình mặc áo vải, vừa đi vừa hát :

Sơn hà ngửa nghiêng

Ðền đài muốn đổ

Trên núi người hiền

Ai là minh chúa ?

Huyền Ðức nghĩ đây hẳn Phục Long hay Phụng Sồ. Nghĩ rồi mời luôn về huyện, hỏi thăm danh tánh.

Người ấy nói :

– Tôi là Ðơn Phước ở Dĩnh Thượng vốn nghe tiếng ngài nên muốn tìm đến phò tá .

Huyền Ðức mừng lắm, tiếp đãi vào bậc thượng tân.

Ðơn Phước nói :

– Sứ Quân có con ngụa sát chủ, cỡi nó sẽ mang họa.

Huyền Ðức nói :

– Nó vừa cứu mạng tôi ở Ðàng Khê .

Ðơn Phước nói :

-Dù vậy cũng sát chủ sau này. Tôi có một phép trừ đặng .

Huyền Ðức hỏi phép gì ?

Ðơn Phước nói :

– Sứ quân có ai là thù thì tặng cho họ cởi, người thù ấy chết rồi thì cõi rất quí .

Huyền Ðức tỏ vẻ không bằng lòng mà rằng :

– Chết, sao tiên sanh lại dạy tôi điều thiếu nhơn đức ấy .

Ðơn Phuớc cả cười mà rằng :

– Tôi thử đó thôi !

Huyền Ðức cũng chợt hiểu rồi tạ lỗi, phong cho Ðơn Phước làm quân sư.

Nói về Tào Tháo lấy xong Ký Châu thì dòm ngó Kinh Châu nên sai Tào Nhơn, Lý Ðiển, dẫn Lữ Khoáng, Lữ Tường ra Phàn Thành dò la tin tức Kinh Châu.

Lữ Khoáng nói với Tào Nhơn rằng :

– Lưu Bị đang chiêu binh mãi mã nơi Tân Giả, phải lo trừ y cho sớm .

TàoNhơn hỏi tình hình binh lực Huyền Ðức ra sao, Lữ Khoáng nói hiện nay cũng chưa đáng lo và xin cùng Lữ Tường ra binh, mang đầu Huyền Ðức về nạp.

Tào Nhơn liền cho đi.

Lữ Khoáng, Lư Tường kéo binh ngay sang Tân Giả.

Huyền Ðức vời Ðơn Phước vào thương nghị.

Ðơn Phuớc nói :

– Chớ để giặc lấn bờ cõi. Nên khiến Quan Công dẫn binh qua phía tả đánh vào trung lộ của nó. Trương Phi bên hữu đánh hậu lộ. còn Chúa Công dẫn Triệu Vân đánh tiền lộ của nó.

Huyền Ðức y lời mà phát binh.

Giữa đường, gặp binh Tào kéo tới, Huyền Ðức mắng :

– Ngươi là chi mà xâm phạm bờ cõi của ta ?

Lữ-Khoáng đáp :

– Ta là đại tướng vâng mạng Thừa Tưóng đến lấy đầu ngươi .

Triệu Vân thúc ngựa ra đánh, được vài hiệp thì Lữ Khoáng đã rụng đầu.

Lữ Tường chống đỡ không nỗi , binh Tào cả loạn rút lui.

Binh phục của Vân Trường lại xông ra, binh Lữ Tường hao hơn phân nửa.

Chạy một quãng lại bị Trương Phi hươi xà mâu chém, Lữ Tường hồn về âm phủ.

Huyền Ðức đại thắng rồi thâu quân về Tân Giả.

Binh thua về báo, Tào Nhơn hoảng sợ mời Lý Ðiển đến thảo luận.

Lý Ðiển nói :

– Binh Huyền Ðức ít mà tinh nhuệ cả. Phải báo cáo Thừa Tướng thì mới xong.

Tào Nhơn tức lắm nói :

– Tân Giả nhỏ thế nầy mà phải cầu cứu Thừa Tướng, hãy coi ta mai đây bắt chúng nó .

Lý Ðiển lại can :

– Tướng quân đi thì Phàn Thành trống trải, e rất nguy hiểm .

Tào Nhơn tức giận nói lớn :

– Cầm binh mà cứ e dè sợ sệt như vậy thì nên trò trống gì ?

Nói rồi cứ kéo quân đi, Lý Ðiển không can được, đành phải đi theo.

Ðơn Phước bên này nói với Huyền Ðức :

– Chúa công chờ xem, thế nào Tào Nhơn nó cũng tới đây mà đánh ta.

Hồi Thứ Ba Mươi Sáu

Lưu Bị định kế đoạt Phàn Thành
Từ Thứ tiến cử Gia Cát Lượng

Ðang thương nghị thì có quân báo cáo Tào Nhơn đánh Tân Giả.

Huyền Ðức hỏi thì Ðơn Phước ghé tai thì thầm . . . cứ làm như thế, như thế.

Rồi Huyền Ðức ra thành nghênh địch .

Tào Nhơn xông tới thì Triệu Vân ra đón đánh.

Ðược ít hiệp, Tào Nhơn thấy cự không lại nên lui binh.

Triệu Vân rượt tới, nhưng bị Lý Ðiển cho bắn tên ra như mưa nên Triệu Vân cũng phải rút về.

Tào Nhơn về trại bảo Lý Ðiển :

– Giặc quả là tinh nhuệ, để mai ta bày trận thì thì mới thắng được nó .

Lý Ðiển khuyên hãy nên rút về giữ Phàn Thành cho chắc, sau đó báo cáo lên Thừa Tướng tình hình thì hơn.

Tào Nhơn không chịu, bảo Lý Ðiển :

– Sao ông coi thường binh pháp của tôi như vậy ?

Hôm sau, Tào Nhơn kéo đại binh tới chân núi bầy binh bố trận, cờ xí rợp trời, khí thế mạnh mẽ lắm, xông tới bên Huyền Ðức mà khiêu chiến.

Huyền Ðức lúc đó cùng Ðơn Phước lựa chỗ cao nhìn xuống xem Tào Nhơn lập trận.

Ðơn Phước bảo Huyền Ðức :

– Ðây là trận Bắc Môn Kim Tỏa, gồm tám cửa, muốn phá phải vào cửa Ðông Nam tức cửa sanh, rồi đánh qua chánh Tây mới đặng. Trận nầy lợi hại, song Tào Nhơn lập trận thiếu chủ trì .

Huyền Ðức sai Triệu Vân đánh vào cửa Ðông Nam mà tiến tới.

Quả nhiên, binh Tào bị xao động, đạp nhầu lên nhau mà chạy, chết vô kễ.

Triệu Vân lại tìm cửa chánh Tây mà đánh ra y theo lời dạy của Ðơn Phước.

Tào Nhơn thấy trận đồ bị phá thì thất kinh nói với Lý Ðiển :

– Nhất định bên Huyền Ðức có nguời tài phù tá.

Nói rồi lui binh, Huyền Ðức toan rượt theo, nhưng Ðơn Phước ngăn lại.

Binh Tào Nhơn khi kiểm lại thì mười phần hao tới bảy phần .

Trong lúc đó Tào Nhơn buồn bã nói với Lý Ðiển :

– Vì chẳng nghe lời ông nên mới bị cớ sự như vầy .

Nói rồi cùng nhau trở về Phàn Thành kêu cửa thì quân trên hô lớn : Phàn Thành đã bị lấy lâu rồi !

Nhìn lên thì quả có Quan Vân Trường !

Tào Nhơn cấm cỗ chạy tuốt về Hứa Xương.

Ði dọc đường hỏi thăm mới biết Huyền Ðức đang dùng Ðơn Phước làm quân sư.

Huyền Ðức dẫn quân vào Phàn Thành, có quan lịnh là Luu Bật mời về nhà đãi yến.

Huyền Ðức thấy có một người khôi ngô đứng hầu thì hỏi thăm.

Lưu Bật thưa :

– Ðó là cháu tôi tên Lưu Phong, mỗ côi cả cha lẫn mẹ nên theo tôi nương tựa.

Huyền Ðức bèn nói :

– Ông có khứng cho nó làm con nuôi tôi không ?

Lưu Bật mừng rỡ vâng lời, cho Lưu Phong ra lạy Huyền Ðức nhận làm cha.

Sau đó Huyền Ðức bàn với Ðơn Phước để Triệu Vân lãnh một ngàn quân giử Phàn Thành, còn lại bao nhiêu kéo hết về Tân Giả .

Còn Tào Nhơn, Lý Ðiển chạy về Hứa đô thì tìm vào yết kiến Tào Tháo để tạ tội.

Tào Tháo bảo :

– Việc binh thắng bại lẽ thường, các ngươi chớ lo .

Tào Nhơn lại kễ sở dĩ bị thua là vì bên địch có Ðơn Phước làm quân sư.

Tào Tháo hỏi các mưu sĩ :

– Ðơn Phước la ai ?

Trình Dục cười mà rằng :

– Thực ra người ấy không phải là Ðơn Phước, mà đích thị Từ Thứ, lúc nhà ham học, lớn lên làu thông thế sự, hay chơi với Tư Mã Huy.

Tào Tháo hỏi :

– Tài ông so với Từ Thứ thế nào ?

Trình Dục thưa :

– So với y tôi là kẻ bất tài !.

Tháo lại hỏi làm sao mà vời Từ Thứ về được với mình.

Trình Dục nói :

– Từ Thứ là con chí hiếu, chỉ còn mẹ. Nay sai bắt mẹ y, bảo bà ấy viết thư gọi con về là Từ Thứ phải vâng lời .

Tào Tháo liền cho đi bắt Từ mẫu đưa về, đối đãi rất trọng hậu rồi hỏi han :

– Tôi nghe con bà là người hào kiệt trong thiên hạ, nay lại đem tài phò kẻ phản phúc triều đình là Huyền Ðức, vậy xin bà viết bức tâm thư bảo Từ Thứ về đây tất triều đình sẽ trọng đãi.

Từ mẫu lại hỏi tánh tình Lưu Bị ra sao ?

Tào Tháo nói :

– Nó là kẻ tiểu tốt, mạo nhận họ nhà vua, bề ngoài ra vẻ quân tử mà trong thì lòng dạ tiểu nhơn .

Nghe xong, Từ mẫu liền quát lớn :

– Huyền Ðức là dòng dõi nhà Hán, vua cũng gọi là hoàng thúc, lại là kẻ anh hùng, thiên hạ đều biết tiếng, con ta phò người thì lựa đáng minh chúa, còn ngươi mới thiệt là gian thần phản trắc đó .

Tào Tháo đã toan cho đem chém thì Trình Dục vội can ?

Từ mẫu dám nói lớn là cầu cho được chết để trọn nghĩa.

Từ mẫu mà chết thì Từ Thứ sẽ hết lòng giúp Lưu Bị. Vả lại còn Từ mẫu là còn có cách cho Từ Thứ quay về.

Sau đó Trình Dục tự nhận là bạn của Từ Thứ đến thăm viếng Từ mẫu luôn luôn, Từ mẫu cảm động có viết thư để cảm tạ.

Trình Dục liền bắt chước tuồng chữ của Từ mẫu viết cho Từ Thứ một bức thư rằng .

” Từ khi em con là Từ Khương khuất bóng theo thân phụ mẹ ở lại đây vò võ một mình. Nay vì tin con bội phản, chống lại triều đình, mẹ bị Thừa Tướng cho bắt mang về Hứa đô. May thay có bọn Trình Dục bảo lãnh, nay nếu con quay về mau thì mẹ được thư thả ngày bắt được thư này, mong con nhớ nghĩa cù lao trở về cùng mẹ cho trọn hiếu đạo. Mẹ không cần viết nhiều, vì nếu con trái lời mẹ không về đầu thì tánh mạng của mẹ cũng như chỉ mành truớc gió mà thôi !”.

Từ Thứ được thư thì nước mắt tuôn xuống như mưa, vào ra mắt Lưu Bị mà rằng :

-Tôi , chẳng phải Ðơn Phước mà là Từ Thứ, vốn muốn dốc lòng phò Chúa Công, nhưng nay mẹ già bị Tào Tháo bắt giử, mẹ tôi lại viết thư cho tôi nên không thể không về cứu mẹ. Vậy xin Chúa Công cho tôi về báo đền ơn mẹ, sau này gặp nhau lại không biết .

Huyền Ðức khóc róng mà nói :

-Tình nào cho bằng tình mẹ con, còn làm sao mà nói nữa. Xin quân sư đừng lo gì cho tôi nữa mà ráng tròn chữ hiếu .

Từ Thứ toan đi ngay, Huyền Ðức xin hãy nán lại một đêm thôi.

Ðêm ấy Tôn Càng lén khuyên Huyền Ðức :

– Việc binh cơ của ta,Từ Thứ biết hết, chớ để va đi.

Huyền Bức nói :

– Tào Tháo giết Từ mẫu rồi , mình dùng con, đó là mình bất nhơn. Không cho đi để tình mẹ con không trọn, đó là bất nghĩa . Ðừng bảo ta làm điều quấy .

Rồi sau đó Huyền Ðức và Từ Thứ chuyện trò khóc lóc tới sáng thì quân sĩ bày tiệc tiễn hành.

Từ Thứ bước đi, Huyền Ðức đi theo mãi rồi mới chịu lên ngựa.

Huyền Ðức lại dặn :

– Tôi vô Phước chẳng đặng tiên sanh giúp . Vậy về với tân chúa, xin rán lập công danh để tiếng ngàn đời .

Từ Thứ khóc nói :

– Tội dù có buộc ở bên Tào cũng nguyện không bao giờ giúp Tào một mưu kế nào hết .

Nói rồi Từ Thứ ra đi, Huyền Ðức khóc trông theo mãi.

Chợt Từ Thứ quay lại dặn Lưu Bị rằng :

– Lòng tôi rối rắm, quên dặn Chúa Công gần đây có kỳ sĩ ở cách Tương Dương hại mươi dặm, sao Chúa Công không tìm vị đó ?

Huyền Ðức vội nhờ Từ Thứ thỉnh dùm.

Từ Thứ nói :

– Bổn thân Chúa Công phải đi cầu, may ra mới được.

Tài người đó chẳng khác Lữ Vọng, Trương Lương .

Huyền Ðức lại hỏi :

– So với tiên sanh thế nào ?

Từ Thứ đáp :

– Cũng như loan so với quạ, kỳ lân mà sánh ngựa hèn .

Huyền Ðức lại hỏi tên ho.

Từ Thứ đáp :

– Người ấy vốn quê ở Lang Nha, tên Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, lại có tên hiệu là Ngọa Long tiên sanh .

Huyền Ðức lại hỏi :

– Có phải Phục Long , Phụng Sồ đó không ?

Từ Thứ lại đáp :

-Phụng Sồ là Bàng Thống ở Tương Dương, còn đây chính là Phục Long Gia Cát Khổng Minh đó .

Huyền Ðức mừng rỡ khôn xiết mà rằng :

– Thế mà tôi không biết, may mà gặp được tiên sanh chỉ dẫn cho thực là may mắn !

Nói xong thì Từ Thứ đã tạ từ ra đi.

Huyền Ðức trở về Tân Giả cùng Quan Trương sắm sửa lễ vật đặng đi cầu Khổng Minh.

Từ Thứ vừa đi vừa ngại Khổng Minh không khứng giúp Lưu Bị nên vội ghé tới thăm Khổng Minh.

Khổng Minh hỏi có việc gì ?

Từ Thứ đáp :

– Tôi đã quyết phò Lưu Dự Châu, nhưng Tào Tháo bắt giữ mẹ tôi, mẹ tôi lại biên thư kêu tôi về nên cực chẳng đã phải từ giã Lưu Bị. Tuy nhiên tôi đã tiến cử tiên sanh với Lưu Dự Châu, vì Lưu Dự Châu quả là người có đức lớn. Thế nào cũng tìm tới tiên sanh bây giờ, dám xin tiên sanh nhận lời là may mắn cho tôi . Khổng Minh không vui mà đáp :

– Ông muốn đem tôi làm vật hy sinh hay sao ? Nói rồi quay vào .

Từ Thứ cũng thẹn thùng mà tiếp tục lên đường về Hứa đô tìm mẹ cho tròn đạo hiếu.

Hồi Thứ Ba Mươi Bảy

Tư Mã hai lần cử danh sĩ
Lưu Bị ba Phen tới thảo lư

Hay tin Từ Thứ tới Hứa Xương.

Tào Tháo bèn ra khỏi thành mà nghênh đón.

Từ Thứ vào tận phủ bái yết rồi xin đi thăm mẹ.

Tào Tháo dò ý Từ Thứ :

– Bậc cao minh như tiên sinh sao thờ Lưu Bị làm vậy ?

Từ Thứ nói .

– Tôi luân lạc giang hồ, gặp được Huyền Ðức kết bạn rất thân . Nay mẹ tôi ở đây thì lại mong ơn Thừa Tướng, thiệt chẳng dám quên.

Tháo nói :

– Ông thì phụng dưỡng mẹ già, tôi lại được nghe lời ông chỉ bảo .

Từ Thứ liền tới hầu mẹ, lạy khóc ở dưới chân.

Tù Thứ bẫm :

– Ðược thư mẹ, con xin về hầu.

Từ mẫu ngạc nhiên và nỗi giận :

– Ôi thôi, mi thờ đặng minh chúa mà mi không hiễu câu trung hiếu khó lưỡng toàn sao ?

Tào Tháo là đứa dối vua hại dân, Lưu Bị là bậc nhơn đức, dòng dõi nhà Hớn. Nay lại tin ở mấy chữ giả dối mà về đây, thiệt còn mặt nào mà ngó tới ai nũa !

Từ Thứ chỉ lạy phục không dám ngó lên.

Từ mẫu xô bàn rồi bước vào nhà trong.

Từ Thứ cứ quì mà chờ lệnh giây lát gia nhân hớt hơ hớt hãi chạy ra báo :

– Lão phu nhân treo cỗ tự vận rồi !.

Từ Thứ thất kinh vào đỡ thây mẹ mà khóc rống.

TàoTháo hay tin lật đật cho đem lễ vật trọng hậu đem tới phúng điếu.

Từ mẫu được chôn ở phía Nam thành Hứa Xưong, Từ Thứ cư tang giữ mộ. Phàm ai có tặng chi cũng chẳng thiết nhận.

Nói về Lưu Bị tới Ngọa Long San cầu Gia Các Lượng, mới ra cỗng đã có quân báo, có một đạo nhơn đang đi tới.

Huyền Ðức vội vã ra rước, té ra bạn Thủy Kính tiên sanh tức Tư Mã Huy.

Huyền Ðức vội rước vào dinh và tạ từ vì quá bận không năng lui tới viếng thăm được.

Tư Mã Huy nói :

– Tôi nghe Từ Thứ ở đây nên tới thăm nguời .

Huyền Ðức nói :

– Tào Tháo cầm tù mẹ Từ Thứ nên người phải đi Hứa Xương rồi .

Tư Mã Huy kêu lên :

– Thế là trúng kế Tào Tháo.

Từ mẫu khi nào viết thư như vậy. Ðó là thư giả, Từ Thứ không về thì mẹ còn, mà về thì mẹ chết .

Huyền Ðức hỏi cớ vì sao ?

Tư Mã Huy nói :

– Bà sẽ không chịu nhục đâu .

Huyền Ðức đem việc cầu Khổng Minh hỏi Tư Mã Huy và dò xem tánh tình Khổng Minh ra sao ?

Tư Mã Huy nói :

– Ta thường ví mình như Quản Nhạc. Nhưng thực ra va hơn thế nữa, có thể ví như Khương Tử Nha, Trương Lương vậy .

Nói rồi Tư Mã Huy ra đi, tới cỗng than thở một mình :

– Gặp Chúa xong không gặp thời. Tiếc thay !

Hôm sau, Huyền Ðức cùng Quan, Trương và thủ hạ lên núi ngó xa xa có mấy nông dân vừa cày vừa hát.

Lưu Bị hỏi một người :

– Bài ca của ai vậy ?

Người kia đáp :

– Của Ngọa Long tiên sanh.

Huyền Ðức hỏi :

– Tiên sanh ở đâu ?

Người kia nói :

– Trước mặt có hòn núi Ngọa Long Cang. Một bên có khoảng rừng. Cứ vào đó, gặp túp lều thì chính là nhà tiên sanh đó .

Huyền Ðức dẫn cả đoàn đi, xa xa phong cảnh thật hữu tình.

Vào rừng, tìm được nhà bèn gõ cửa. Tiểu đồng chạy ra.

Huyền Ðức nói :

– Ta là Dự Châu Mục, Hoàng thúc nhà Hớn đến cầu ra mắt tiên sanh .

Tiểu đồng nói :

– Thầy tôi đi từ sớm rồi, mà cũng không biết là đi đâu.

Huyền Ðức từ biệt mà về và dặn tiểu đồng :

– Tiên Sanh về, xin nói dùm có Lưu Bị tới thăm .

Ðược vài dặm, Lưu Bị thấy một ông già cốt cách, đầu bịt khăn tiêu diêu, mình mặc áo vải xám , cầm gậy lê từ phía đường nhỏ đi ra.

Huyền Ðức cho là Khổng Minh bèn gò ngựa lại cung kính mà hỏi :

– Tiên sanh phải chăng là Ngọa Long ?

Người kia hỏi lại. :

– Ông là Huyền Ðức chăng ?

Huyền Ðức thưa :

– Chính tôi là Lưu Bị !

Nguời ấy nói :

– Tôi là bạn của Khổng Minh tên là Châu Bình. Chẳng hay tướng quân tìm tới Ngọa Long Cang có việc chi ?

Huyền Ðức thưa :

– Lúc này thiên hạ đại loạn, dân tình lầm than. Tôi cầu Gia Các Khổng Minh để xin dạy bảo về kế an bình thiên hạ vậy .

Châu Bình nói :

– Mong dẹp yên loạn lạc là có lòng nhơn đó. Song từ xưa tới nay, hết loạn rồi đến trị, trị lâu rồi lại loạn, ấy cũng là cơ trời. Nay thiên hạ thanh bình đã lâu thì sanh loạn, mà cái thế loạn nầy còn kéo dài, chưa dễ hưng được. Cứ thuận lòng trời mà tùy cơ khu xử, hà tất cầu cạnh làm chi .

Huyền Ðức thưa :

– Lời tiên sanh dạy thật quí báu, tuy nhiên tôi cũng trong tôn tộc nhà Hớn, chẳng lẽ khoanh tay mà nhìn sao ?

Châu Bình thấy mình nói cũng lỡ lời nên nói cho xuôi rằng :

– Chẳng qua tướng quân hỏi nên tôi mạn phép bình luận đấy thôi .

Dọc đường, Trương Phi càu nhàu :

– Khổng Minh chẳng thấy mà lại còn gặp hủ nho nói lôi thôi quá !

Huyền Ðức về Tân Giả rồi hàng ngày vẫn cho dò tin Khỗng Minh.

Bữa nọ được tin Khỗng Minh về nhà rồi, nên Huyền Ðức lật đật sắm sửa ra đi .

Trương Phi nói :

– Cầu với cạnh mãi, cứ sai quân kêu y tới đây là được .

Huyền Ðức nạt :

– Cầu người hiền mà không theo đạo lý y như muốn vào nhà mà cửa đóng bít. Khổng Minh là bậc đại hiền mà ngươi nói vậy nghe sao đuợc !

Nói rồi lại cùng Quan, Trương đi cầu phen nữa .

Lần này nhằm tiết đông , sương sa mù mịt, nước trắng tràn đồng.

Trương Phi nói :

– Trời đông lạnh buốt, việc binh cũng còn phải đình mà lại đi tìm một người khùng như vậy !

Huyền Ðức nói :

– Ta muốn Khổng Minh thấy rõ tâm thành của ta, còn các em rét thì cứ việc ra về, mặc anh .

Trương Phi nói :

– Chết còn chẳng sợ thì đâu sợ rét, sợ là sợ công toi mà thôi !

Huyền Ðức la :

– Thôi thôi im đi, cứ theo ta, đừng nói nữa .

Khi tới Mạc Lư, bỗng từ trong quán bên đường có tiếng ca ngâm.

Huyền Ðức dừng lại nghe thì thấy một người thứ hai cũng vỗ ghế ca tiếp.

Huyền Ðức lại chắc có Ngọa Long ở đây nên xuống ngựa vào ra mắt , thấy một người mặt trắng râu dài, một ngưòi tướng mạo thanh kỳ .

Huyền Ðức chắp tay thưa :

– Tôi tìm Ngọa Long để xin chước cứu dân.

Người râu dài đáp :

– Chúng tôi là bạn của Ngọa Long, vị này là Mạnh Công Oai, còn tôi là Thạch Quảng Nguyên.

Huyền Ðức thỉnh hai người cùng đi lên Ngọa Long Cang.

Quảng Nguyên nói :

– Bọn tôi quê mùa không biết gì tới việc trị nước. Xin chúc ông tìm được Ngọa Long .

Huyền Ðức lại ra đi, khi tới trước lều thì hỏi thăm đồng tử :

– Tiên sanh có nhà không ?

Ðồng tử đáp :

– Ðang đọc sách.

Huyền Ðức rón rén đi vào thì có tiếng ca ngâm ở trong vọng ra, nhìn kỹ thì đó là một thiếu niên đang nhịp đầu gối mà hát.

Huyền Ðức bước vào mà rằng :

– Bị nầy hâm mộ tiên sanh đã lâu, nay mới được yết kiến, thiệt là vạn hạnh .

Thiếu niên lật đật đáp lễ rồi hỏi :

– Ngài có phải là Lưu Dự Châu muốn tìm anh tôi chăng ?

Huyền Ðức nói :

– Tiên sanh không phải là Ngọa Long ?

Thiếu niên đáp :

– Tôi là Gia Các Quân, em của Ngọa Long. Anh của tôi là Gia Các Càn hiện phò tá Tôn Quyền, Khổng Minh là anh thứ hai .

Huyền Ðức được lưu lại uống trà.

Gia Các Quân nói :

– Anh tôi hôm nay có việc nên vừa đi, xin để khi khác vậy .

Trương Phi giục Lưu Bị :

– Về đi thôi, ngồi đây mệt quá !

Huyền Ðức nạt rồi nói :

– Phải để lời chi lại mới đặng .

Lưu Bị liền viết phong thư để lại Khổng Minh, thư rằng :

– Bị tài hèn hâm mộ tiên sanh đã lâu, hai lần thăm viếng, hai lần phước bạc không được gặp. Nay Hớn trào nguy khốn, gian hùng nắm quyền, trăm họ lầm than, mong tiên sanh lấy tài Lữ Vọng, Trương Lương mà ban lời chỉ dẫn cho kẻ này thì thật may cho thiên hạ. Kính đề thư này, xin bái yết sau.

Rồi Huyền Ðức từ biệt ra về , tới cỗng gặp ông già cỡi lừa, theo sau có một tiểu đồng.

Lưu Bị tưởng là Ngọa Long, té ra là Huỳnh Thừa Ngạn, cha vợ Ngọa Long tới thăm con rễ.

Thi lễ rồi Huyền Ðức lại ra về .

Lúc ấy tuyết rơi thật đẹp, Huyền Ðức ngoái nhìn phong cảnh Ngọa Long Cang mà xúc động bồi hồi.

Hồi Thứ Ba Mươi Tám

Chia Thiên Hạ, Long Trung Vạch Kế
Ðánh Trường Giang, Tôn Thị Báo Thù

Nhắc lại Huyền Ðức sau hai phen đi cầu Khổng Minh mà không được, hôm ấy lại sửa soạn đi nữa.

Quan Vân Trường can rằng:

– Huynh trưởng đã hai phen đến khấu đầu cầu khẩn, như thế cũng đã là trọng lễ thái quá rồi. Có lẽ Gia Cát Lượng không có thực học, chỉ là kẻ hư danh, nên mới sợ mà trốn tránh. Sao huynh trưởng cảm mộ người ấy một cách quá đáng vậy?

Huyền Ðức nói:

– Không phải vậy đâu. Xưa Tề Hoàn Công muốn gặp một kẻ quê mùa nơi Ðông Quách mà cần phải đi năm lần mới được thấy mặt, huống chi ta muốn ra mắt một bậc đại hiền?

Trương Phi nói:

– Ðại ca luận như thế không đúng. Sá gì một gã nông phu mà đại ca gọi là đại hiền? Lần này đại ca chẳng cần phải đi làm gì cho mệt. Nếu hắn không chịu đến thì em sẽ chỉ đem một sợi giây thừng đi trói cổ hắn, lôi về đây cho đại ca.

Huyền Ðức nạt lớn:

– Ðừng nói bậy! Em không nghe việc Văn Vương đi tìm Khương Tử Nha sao? Rất đổi như Văn Vương là bậc chúa thánh mà còn kính trọng người hiền sĩ, huống hồ ta chỉ là kẻ tài hèn. Lần này em không cần đi nữa, để ta với Vân Trường đi cũng xong.

Trương Phi nói:

– Hai anh đã ra đi, nở nào bắt em phải ở nhà?

Huyền Ðức nói:

– Nếu em muốn đi thì không được thất lễ.

Trương Phi đành phải vâng lời. Rồi ba anh em lên ngựa, dẫn đoàn tùy tùng lên đường thẳng đến Ngọa long cương.

Khi còn cách thảo lư độ nửa dặm đường, Huyền Ðức xuống ngựa đi bộ.

Ðang đi bỗng gặp Gia Cát Quân, Huyền Ðức vội thi lễ, rồi hỏi:

– Lệnh huynh hôm nay có ở nhà không?

Quân thưa:

– Thưa có. Mới về chiều hôm qua. Tướng quân hôm nay có thể hội kiến cùng gia huynh.

Dứt lời, vùn vụt đi thẳng.

Huyền Ðức mừng rỡ nói:

– Phen này thật là may mắn, có thể gặp mặt tiên sinh rồi.

Trương Phi gườm gườm nhìn theo Gia Cát Quân, tức giận nói:

– Tên này vô lễ quá! Ðáng lẽ hắn mời mình đến nhà mới phải, sao lại bỏ đi như vậy?

Huyền Ðức gạt đi:

– Ai cũng có công việc nấy, em đừng nên trách móc người ta.

Ba người đến trước trang viện gọi cửa. Cậu tiểu đồng hôm nọ ra mở cửa.

Huyền Ðức nói:

– Lại phiền tiên đồng vào báo: “Có Lưu Bị xin bái kiến tiên sinh” nhé!

Tiểu đồng nói:

– Hôm nay tiên sinh có ở nhà, song ngủ muộn chưa dậy.

Huyền Ðức nói:

– Nếu thế thì em hãy thong thả, đừng thông báo vội.

Dứt lời sai Quan, Trương ra ngoài cửa đứng chờ, còn mình thì rón rén bước vào.

Vừa qua khỏi ngưỡng cửa, Huyền Ðức đã thấy Khổng Minh đang nằm ngửa trên giường ngáy pho pho.

Huyền Ðức vội chắp tay đứng đợi trên thềm.

Ðứng như thế đã hơn nửa canh giờ nhưng Khổng Minh vẫn chưa dậy.

Quan, Trương đứng chờ ngoài cửa đã lâu, không thấy động tĩnh gì cả, liền rón rén vào xem thì thấy Huyền Ðức đứng chắp tay hầu.

Trương Phi đùng đùng nổi giận, bảo Quan Vân Trường:

– Lão này thật khi dễ chúng ta quá, lão thấy đại ca đứng hầu dưới thềm, lại ngửa mặt lên cao giả đò ngủ không chịu dậy. Thôi, để em ra sau nổi lửa đốt chòi, xem lão có thức dậy hay không?

Vân Trường cản ngăn lắm Trương Phi mới thôi.

Huyền Ðức nghe tiếng xì xào, quay lại thấy vậy vội sai hai người hãy lui ra ngoài mà chờ.

Bỗng Khổng Minh trở mình một cái như sắp trở dậy, Huyền Ðức đã mừng…

Nhưng rồi Khổng Minh lại quay mặt vào vách ngủ nữa.

Ðồng tử thấy đã lâu quá, toan bước đến đánh thức, nhưng Huyền Ðức ngăn lại:

– Ấy, cứ thong thả… đừng làm kinh động!

Rồi lại kiên nhẫn đứng chờ… Chờ mãi, qua suốt một canh giờ nữa, Khổng Minh mới tỉnh giấc.

Vừa mở mắt đã ngâm mấy câu rằng:

Mộng lớn ai người sớm tỉnh ra?
Bình sinh ta vẫn biết mình ta.
Lều tranh no giấc, bừng con mắt!
Bóng ác ngoài song đã xế tà…

Ngâm dứt, quay mình lại hỏi tiểu đồng:

– Có tục khách đến nhà chăng?

Tiểu đồng thưa:

– Có Lưu Hoàng thúc đến đây đứng chờ thầy đã lâu.

Khổng Minh vội ngồi dậy quở tiểu đồng:

– Sao ngươi không đánh thức ta? Ðể ta còn vào thay áo đã.

Dứt lời, vội đi thẳng vào nhà trong.

Ðộ nửa giờ sau, Khổng Minh mới chỉnh tề khăn áo bước ra đón Huyền Ðức.

Huyền Ðức thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như bạch ngọc, mắt sáng tợ sao sa, đầu đội khăn xếp cuốn, mình khoác áo lông hạc, phiêu phiên đường bệ mà có phong thái thần tiên.

Huyền Ðức vội thi lễ mà rằng:

– Một đứa cháu hèn kém của nhà Hán, một kẻ ngu phu ở Trác quận, nghe tiếng tiên sinh đã từ lâu như sấm vang tai, vừa đây đã hai lần đến đây bái yết mà vẫn chưa được gặp, nên có ghi tên hèn gửi lại trên văn kỷ. Chẳng hay tiên sinh đoái nhìn chưa?

Khổng Minh nghiêng mình đáp lễ, nói:

– Tôi là một kẻ quê mùa ở Nam Dương, tính lười nết xấu, được Tướng quân mấy lần chiếu cố, thực tôi lấy làm hổ thẹn vô cùng.

Thi lễ xong, Khổng Minh mời Huyền Ðức chia ngôi chủ khách mà ngồi đàm đạo.

Lát sau, tiểu đồng bưng trà lên, hai người dùng qua vài chung, rồi Khổng Minh nói:

– Tôi xem ỵ thư hôm nọ, thấy đại ý của Tướng quân muốn làm việc đại nghĩa, cứu dân độ thế. Song tiếc rằng Lượng này ít tuổi, vô tài, chỉ làm nhọc công Tướng quân đó thôi.

Huyền Ðức ân cần nói:

– Lời của Từ Nguyên Trực và Tư Mã Ðức Tháo há nói sai sao? Xin tiên sinh chớ chê Bị này bỉ tiện mà dạy bảo cho…

Khổng Minh lắc đầu:

– Ðức Tháo, Nguyên Trực mới là những bậc cao sĩ trên đời, còn Lượng chỉ là một gã nông phu có tài cán chi mà bàn việc thiên hạ? Sao Tướng quân lại bỏ ngọc đẹp để đi tìm đá sỏi như vậy?

Huyền Ðức nghiêng đầu tha thiết nói:

– Ðại trượng phu có kỳ tài kinh bang tế thế, há lại sống vất vả vô ích nơi suối hoang, rừng rậm, để tài lớn mai một đi chăng? Xin tiên sinh hãy thương lấy sinh linh thiên hạ, mà dạy bảo mở mang cái trí ngu cho Bị.

Khổng Minh khẽ mỉm cười, hỏi:

– Xin cho nghe cái chí nguyện của Tướng quân?

Huyền Ðức bèn ngồi ngay ngắn lên, trịnh trọng đáp:

– Nay nhà Hán nghiêng đổ, bị kẻ gian hùng chiếm đoạt, Bị này không kể sức, muốn cử binh diệt trừ loài phản tặc, như trí thuật kém cỏi, không thể làm được việc nên nhờ tiên sinh vạch đường cho, để cứu khổn phò nguy, thật là vạn hạnh.

Khổng Minh trầm tư một lúc, rồi nói:

– Từ khi Ðổng Trác phản nghịch, hào kiệt nổi dậy khắp thiên hạ. Tào Tháo thế kém hơn Viên Thiệu, cuối cùng thắng được Viên Thiệu, đó không phải chỉ nhờ số trời mà cũng nhờ mưu người đó. Nay Tào Tháo đã nắm trăm vạn quân trong tay, lấy Thiên tử để sai khiến chư hầu. Như thế, thật khó tranh giành lại được. Tôn Quyền chiếm Giang Ðông nối nghiệp đã ba đời, nước hiểm trở, dân thuận phục. Vậy cũng chỉ nên kết làm ngoại viện, chứ không thể mưu chiến. Còn Kinh châu phía Bắc có sông Hán, sông Miện; nguồn lợi phía Nam đến tận Nam hải; mặt Ðông liền với Ngô Hội; phía Tây thì thông với Ba Thục, chính là đất dụng võ. Nếu chẳng phải chân chúa thì khó mà giữ được. Ðó là chỗ trời dành cho Tướng quân đó, chớ nên bỏ. Ðất Ích châu hiểm trở, ngàn dặm đồng lầy, nổi tiếng là “cái kho nhà trời”. Xưa vua Cao Tổ cũng nhờ vào đó mà nên đế nghiệp. Nay Lưu Chương nhu nhược, dân đông nước giàu, lại chẳng biết lo giữ vững. Những kẻ trí năng đều chán nản, chỉ mong mỏi được thờ một đấng minh quân. Nay Tướng quân là dòng dỏi nhà Hán, tín nghĩa sáng rỡ khắp bốn bể, lại biết thu phục anh hùng, cầu người hiền như khát nước, nếu gồm được châu Kinh, châu Ích mà giữ vững thế hiểm, thì phía Tây hòa với các rợ Nhung, phía Nam vỗ yên các xứ Di, Việt, rồi bên ngoài kết liên Tôn Quyền, bên trong sửa sang chính lý. Chờ khi thiên hạ có biến, hãy sai một Thượng tướng kéo quân Kinh châu lên miền Uyển Lạc. Còn Tướng quân thì thân đem đại binh Ích châu ra mặt Tần Xuyên. Thử hỏi trăm họ bốn phương, nơi đâu lại không đem giỏ cơm, bầu nước ra đón Tướng quân?

Ðó, Lượng này vì Tướng quân mà vạch kế như thế đấy. Tướng quân hãy lo mà làm đi.

Rồi gọi tiểu đồng đem ra một bức địa đồ, treo lên giữa nhà, Khổng Minh trỏ tay bảo Huyền Ðức:

– Ðây là bản đồ năm mươi bốn huyện Tây Xuyên. Tướng quân muốn dựng nghiệp Ðế thì phía Bắc phải nhường cho Tào Tháo chiếm thiên thời. Phía Nam nhượng cho Tôn Quyền chiếm lấy địa lợi. Còn Tướng quân phải chiếm lấy nhân hòa. Vậy trước phải lấy Kinh châu làm nhà, sau lấy Tây Xuyên mà khai cơ nghiệp, tạo thành cái thế chân vạc rồi sau mới mưu đồ đến cái đất Trung nguyên.

Huyền Ðức nghe nói, đứng dậy cung kính xá một cái và tạ rằng:

– Lời vàng ngọc của tiên sinh đã mở mang óc ngu tối, khiến Bị như rẽ được mây mù, trông thấy trời xanh. Ngặt vì Lưu Cảnh Thăng ở Kinh châu và Lưu Quỵ Ngọc ở Tây Xuyên đều là người trong tôn tộc nhà Hán, Bị nỡ nào thâu đoạt cho đành?

Khổng Minh nói:

– Ðêm qua, tôi xem thiên tượng thấy Lưu Biểu chẳng còn sống bao lâu nữa, còn Lưu Chương không phải là người nối nghiệp, cơ nghiệp này ngày sau ắt cũng về tay Tướng quân.

Huyền Ðức cúi đầu bái tạ.

Thế là chỉ qua một câu chuyện ngắn ngủi ấy, đủ thấy Khổng Minh chưa ra khỏi lều tranh mà đã dư biết “Thiên hạ chia ba” sau này. Thật là bật kỳ tài quán thế, vạn cổ chỉ có một không hai vậy.

Người sau có thơ rằng:

Dự châu đang lúc vận gieo neo,
May gặp danh nhân dưới mái lều.
Thiên hạ chia ba, rồi sẽ thấy,
Tiên sinh cười trỏ bản đồ treo.

Huyền Ðức ngỏ lời bái thỉnh Khổng Minh:

– Bị này tuy danh hèn đức mỏng, xin tiên sinh chớ nệ, xuất sơn giúp cho, Bị này nguyện chắp tay nghe theo lời chỉ dạy.

Khổng Minh từ tạ:

– Lượng này đã vui nghề cày cuốc, lười biếng việc đời từ lâu. Thật không thể vâng lời Tướng quân được.

Huyền Ðức ngẹn ngào năn nỉ:

– Nếu tiên sinh không ra giúp thì thiên hạ biết chừng nào mới êm ấm được và sinh linh còn trông mong ai cứu vớt nữa?

Dứt lời, lệ tuôn ướt đầm cả tay áo.

Khổng Minh thấy lòng của Huyền Ðức quả thật chân thành, bèn nhận lời:

– Tướng quân có lòng đoái tưởng thì tôi xin nguyện đem hết sức hèn này mà báo đáp ân tình.

Huyền Ðức vui mừng khôn xiết, liền gọi Quan, Trương vào bái kiến và dâng lễ vật, vàng lụa.

Khổng Minh từ chối không nhận.

Huyền Ðức nói:

– Ðây không phải là lễ ra mắt đại hiền. Chỉ gọi là một chút vật mọn để tỏ tấm lòng của Bị này thôi.

Khổng Minh thấy không thể từ chối được, sai tiểu đồng đem lễ vật vào trong.

Thế rồi Huyền Ðức cùng mọi người ngủ lại trong thảo trang một đêm.

Sáng hôm sau, Gia Cát Quân trở về, Khổng Minh dặn:

– Anh chịu ơn Lưu Hoàng Thúc ba lần họ cố, không thể không ra giúp. Em hãy ở nhà chăm lo cày ruộng, chớ để ruộng rẫy hoang rậm nhé. Một ngày kia thành công rồi, anh sẽ trở về đây nương tựa.

Người sau có thơ rằng:

Thân chưa bay nhảy, tính lui rồi,
Ngày khác thành công, hẳn nhớ lời.
Bởi Chúa nghiêng lòng đem phó thác,
Trận tiền gió lạnh, ánh sao rơi…

Lại có bài thơ cổ phong như sau:

Cao Hoàng vung kiếm thần ba thước,
Rắn trắng Mang đường đổ máu loang.
Diệt Sở, bình Tần, xây xã tắc,
Hai trăm năm lẻ, dứt triều cương.
Lạc dương, Quang Vũ kế ngai rồng,
Truyền đến Hoàn, Linh lại lở long.
Hiến Ðế dời đô về huyện Hứa,
Bốn phương hào kiệt nổi như ong!

Chuyên quyền Tào Tháo được thiên thời,
Mở nghiệp, Tôn Quyền cũng vững nơi.
Huyền ức riêng mình không đất đứng,
Nương thân Tân Dã tạm thời thôi…

Nam Dương Gia Cát ẩn tài danh,
Bụng chứa kinh luân với giáp binh.
Từ Thứ ra đi, vừa tiến cử,
Lưu Quân ba lượt đến lều tranh!

Tiên sinh hăm bảy tuổi đương xuân,
Thu xếp cầm thư, giữ ruộng vườn.
Tây Thục, Kinh châu trời sẳn để…
Cho người mở rộng túi kinh luân.

Một lời đầu lưỡi, nổi ba đào,
Muôn kế tung ra, sấm sét gào!
Rồng cuộn, hổ vờn yên bốn cõi,
Muôn đời ai dễ sánh tài cao?

Rồi sau đó, Huyền Ðức, Quan, Trương từ biệt Gia Cát Quân, rồi cùng Khổng Minh trở về Tân Dã.

Từ ngày được Khổng Minh, Huyền Ðức kính trọng như bậc thầy, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, suốt ngày bàn luận việc thiên hạ.

Một hôm, Khổng Minh nói:

– Nghe Tào Tháo đào ao Huyền Vũ ở Kỵ châu để luyện tập thủy quân, ắt đã có bụng xâm phạm Giang Nam rồi. Vậy thì Chúa công cũng nên cho người sang sông dò xem hư thật ra sao?

Huyền Ðức theo lời, sai quân sang đất Giang Ðông dọ la.

Nhắc lại Tôn Quyền từ ngày thừa kế sự nghiệp của Tôn Sách, giữ vững Giang Ðông, rộng lòng thâu nạp hiền sĩ, mở quán nghênh tân ở Ngô Hội, sai Cố Ung và Trương Hoành túc trực đón tiếp tân khác bốn phương.

Luôn mấy năm, cứ người này tiến cử người kia, người kia lại tiến cử người nọ, số mưu sĩ tề tựu mỗi lúc một đông.

Bấy giờ đã được thêm Hám Trạch tự Ðức Thuận ở Cối Kê, Nghiêm Tuấn tự là Man Tài người Bành thành, Tiết Tổng tự là Kính Văn ở Bái huyện, Trình Bỉnh tự là Ðức Khu người Nhữ Nam, Châu Hoàn tự là Hưu Mục ở Ngô quận, Lục Tích tự là Công Kỷ ở Hoài Nam, Trương Ôn tự là Huệ Thứ người đất Ngô, Lăng Thống tự là Công Trực ở Cối Kê, Ngô Xán tự là Khổng Hưu ở Ô Trình…

Những người này ở khắp nơi kéo về Giang Ðông, được Tôn Quyền kính lễ hậu đãi.

Sau đó, lại còn có thêm mấy tướng giỏi nữa đến phò như Lữ Mông tự là Tứ Minh người Nhữ Dương, Lục Tốn tự là Bá Ngôn ở Ngô quận, Từ Thịnh tự là Văn Hưởng người Lang gia, Phan Cương tự là Văn Khuê ở Ðông quận, Ðinh Phụng tự là Thừa Uyên ở Lư Giang…

Văn thần võ tướng đều hợp sức phò tá, cho nên Giang Ðông bấy giờ mới được tiếng là nhiều nhân tài.

Năm Kiến An thứ bảy, Tào Tháo phá xong Viên Thiệu xong, thanh thế càng ngày càng lẫy lừng, binh hùng tướng mạnh không sao kể hết.

Tào Tháo lại sai sứ qua Giang Ðông bảo Tôn Quyền đem con vào triều tùy giá.

Tôn Quyền do dự mãi, chưa biết nên xử trí thế nào?

Ngô Thái phu nhân cho đòi Trương Chiêu và Châu Du vào thương nghị, bàn tính

Trương Chiêu nói:

– Tào Tháo khiến Chúa công cho con vào triều tùy giá tức là lối “khiên chế chư hầu” đó. Nhưng nếu Chúa công không tuân theo thì Tháo sẽ hưng binh sang đánh Giang Ðông. Với khí thế của Tào Tháo hiện nay, chúng ta cự sao lại!

Châu Du nói:

– Chúa công thừa kế nghiệp của cha anh để lại gồm sáu quận, binh tinh lương đủ, tướng sĩ hết lòng theo mệnh lệnh, có gì bức bách mà phải đưa con vào làm tin nơi xứ người? Hễ đưa con sang tức là phải liên hòa với Tháo, mỗi khi Tháo ra hiệu lệnh gì cũng phải nghe theo. Phỏng như Tháo lại triệu Chúa công vào chầu, chẳng lẽ Chúa công không tuân. Như thế thì ta tự lấy dây buộc mình rồi. Chi bằng cứ để thong thả, xem hạ giở trò gì rồi sẽ dùng kế mà đối phó.

Ngô Thái phu nhân khen:

– Lời Châu Du nói rất phải.

Tôn Quyền nghe theo, liền từ khước sứ giả, không chịu gửi con mình vào triều. Tào Tháo bất bình, có ỵ đánh Giang Nam từ đó, ngặt vì phía Bắc chưa yên, nên chưa thể xuất quân Nam chinh được.

Năm Kiến An thứ tám, vào tháng mười một, Tôn Quyền lại dẫn binh sang đánh Hoàng Tổ.

Hai bên giao chiến trên sông Ðại giang 1. Quân Hoàng Tổ thua chạy.

Một bộ tướng của Quyền là Lăng Tháo phóng thuyền nhẹ đi trước, đánh đuổi tới Hạ khẩu, bị bộ tướng của Tổ là Cam Ninh bắn một mũi tên mà chết.

Con của Lăng Tháo là Lăng Thống, bấy giờ mới mười lăm tuổi, rán sức đoạt thuyền cướp thây cha đem về.

Quyền thấy xuất sư không lợi nên bãi chiến, tạm thu quân về Ðông Ngô.

Bấy giờ có người em trai Quyền là Tôn Dực làm quan Thái Thú quận Ðan Dương.

Dực vốn tánh cương cường nóng nảy, lại hay uống rượu.

Mỗi khi say, thường đánh đập quân sĩ tàn nhẫn.

Viên Ðốc tướng Ðan Dương là Qui Lãm cùng viên Quận thừa là Ðái Viên có bụng mưu sát Dực.

Hai người mới kết thông với người tùy tùng của Dực là Biên Hồng để sát hại Dực.

Hôm ấy, chư tướng cùng các vị huyện lệnh về hội hợp đông đủ tại Ðan Dương.

Tôn Dực cho bày yến tiệc thết đãi. Vợ của Dực là Từ thị xinh đẹp và thông minh, rất giỏi về khoa bói Dịch.

Bấy giờ nàng gieo thử một quẻ, thấy “tượng” rất xấu, liền khuyên chồng đừng ra tiếp khách.

Nhưng Dực không nghe, cứ đi cùng các quan ra công đường chủ tọa buổi tiệc.

Ðến chiều, tiệc mới tan, Biên Hồng ngầm giấu con dao trong mình theo chân Dực ra cửa, bất thình lình rút dao đâm Dực chết ngay tại chỗ.

Qui Lãm, Ðái Viên liền đổ tội cho Biên Hồng, sai quân lôi ra chợ chém đầu.

Rồi hai tên thừa thế cướp của cải và thị thiếp của Tôn Dực.

Qui Lãm thấy Từ thị nhan sắc diễm lệ, động lòng dục, liền bảo nàng:

– Ta đã báo thù chồng cho nàng xong, vậy nàng hãy về với ta, nếu cãi lời, ta e tánh mạng nàng khó toàn.

Từ thị khóc lóc nói:

– Chồng thiếp mới chết, chưa tiện theo Tướng quân ngay. Xin đợi đến tối ba mươi này, thiếp cúng “trừ phục” xong, rồi chúng ta sẽ thành thân cũng chưa muộn.

Qui Lãm nghe nói, sung sướng ưng lời, lui ra chờ đợi.

Từ thị liền bí mật triệu hai viên tướng tâm phúc của Dực là Tôn Cao và Phó Anh vào phủ mà khóc lóc rằng:

– Lúc tiên phu còn sống thường ca tụng hai người là bậc trung nghĩa. Nay hai tên giặc Ðái, Qui mưu sát chủ, lại đổ tội cho Biên Hồng, cướp hết của cải, tôi tớ mà chia nhau. Qui Lãm còn cưỡng bức, bắt tôi phải làm hầu thiếp cho nó. Tôi đành phải giả tảng ưng lời cho yên lòng nó. Vậy hai Tướng quân một mặt sai người báo tin cho Ngô Hầu biết, một mặt lập mưu kế để trừ hai thằng phản tặc ấy, để rửa thù nhục này, thì người chết được ngậm cười, mà kẻ sống đội ơn muôn thuở.

Dứt lời, Từ thị lại cúi đầu lạy hai lạy. Tôn Cao, Phó Anh vội trả lễ, đôi mắt người nào cũng đẫm lệ.

Hai người nói:

– Chúng tôi mang ơn tri ngộ của Phủ quan rất nhiều, nay Phủ quan bị tặc thần hãm hại, mà chúng tôi chưa thể chết theo là còn muốn lập kế báo thù cho chủ. Giờ phu nhân sai khiến, chúng tôi há dám không hết sức?

Dứt lời, hai người viết mật thư, sai người tâm phúc đem cấp báo với Tôn Quyền.

Qua đến đêm ba mươi, Từ thị sai Tôn, Phó hai tướng phục sẳn trong màn the nơi phòng kín.

Ðoạn bày lễ tế chồng ngoài nhà thờ.

Tế chồng xong, Từ thị trút bỏ hết đồ hiếu phục, vào phòng riêng tắm gội nước hương, trang điểm thật lộng lẫy, cười nói tươi vui.

Qui Lãm hay tin, sung sướng như mở cờ trong bụng.

Ðến đêm, Từ thị cho con hầu ra mời Lãm vào phủ, bày tiệc giữa nhà chuốc rượu.

Khi Lãm đã say, Từ thị dìu vào phòng the.

Qui Lãm sung sướng mê mẩn, vì sắp được cùng người đẹp thành thân, lại đã nồng hơi men, chếch choáng theo vào.

Vừa bước vào phòng, Từ thị thét lớn:

– Tôn, Phó hai Tướng quân đâu?

Tức thì hai tướng từ sau màn nhảy ra chận đường, làm cho Qui Lãm không còn đường chạy, luýnh quýnh bị Phó Anh chém một đao nhào xuống đất.

Tôn Cao vội bồi thêm một nhát nữa, chết ngay.

Xong, Từ thị sai hai người núp vào bên cửa, khiến con hầu đi mời Ðái Viên vào dự tiệc. Viên vừa bước vào phủ, vừa bước lên nhà, cũng bị Phó Anh và Tôn Cao chém tới, chết liền tại chỗ, không kịp kêu la một tiếng.

Giết xong hai tên phản nghịch, Phó Anh và Tôn Cao sai quân đi bắt và giết hết già trẻ thân thuộc của hai tên Qui Lãm và Ðái Viên cùng dư đảng của chúng.

Thù chồng đã trả, Từ thị mặc đồ tang phục, cắt lấy thủ cấp của hai tên giặc đem ra trước bàn thờ tế chồng.

Qua ngày hôm sau, Tôn Quyền đích thân đem binh mã đến Ðan Dương, thấy em dâu đã giết được hai tên giặc Ðái, Qui, mừng rỡ vô cùng, liền phong Tôn Cao và Phó Anh làm Nha Môn tướng, đóng giữ Ðan Dương, và đón Từ thị về nhà dưỡng lão.

Khắp Giang Ðông, ai nghe tin này cũng phải chắc lưỡi khen Từ thị là người tiết liệt.

Người sau có thơ khen nàng rằng:

Tài đức gồm hai tuyết giá trong,
Tru di nghịch tặc, rửa hờn chồng.
Tôi hèn bó gối, tôi trung chết,
Thua hẳn Ðông Ngô một má hồng.

Bấy giờ khắp Ðông Ngô, các nhóm giặc cỏ, giặc núi đều bị dẹp tan.

Trong sông Ðại Giang có dư bảy ngàn chiến thuyền.

Tôn Quyền liền bái Châu Du làm Ðại Ðô Ðốc, thống lãnh quân mã thủy lục Giang Ðông.

Tháng mười, năm Kiến An thứ mười hai, vào tiết Ðông, mẹ ruột của Tôn Quyền là Ngô Thái phu nhân lâm bệnh nặng, liền đòi Châu Du và Trương Chiêu về nói:

– Ta vốn người đất Ngô, cha mẹ mất sớm, nên theo em trai là Ngô Cảnh sang ở Việt Trung. Sau về làm dâu họ Tôn, sinh được bốn trai. Con trưởng là Sách, lúc mang thai ta nằm mơ thấy nuốt mặt trăng vào bụng. Con thứ hai là Quyền, lúc hoài thai lại thấy nuốt mặt trời vào bụng. Bốc sư đã nói rằng mộng thấy “nhật nguyệt nhập hoài” ắt sinh quý tử… Không may Sách mất sớm, đem cơ nghiệp Giang Ðông giao phó cho Quyền. Vậy nếu ta có thác đi, hai tướng phải gắng hết sức phò tá Quyền giữ gìn sự nghiệp của cha anh để lại.

Ðoạn, Ngô Thái phu nhân quay qua nói với Tôn Quyền:

– Con phải đãi Tử Bố với Công Cẩn như thầy con vậy, không được khinh thường nhé! Em gái của mẹ cùng kết hôn với cha con thì con cũng phải coi như mẹ ruột của con vậy. Ðứa em gái của con, con phải nuôi dạy hết lòng, rồi lựa nơi xứng đáng, kén người giai tế mà gả chồng cho em.

Hơi nói yếu dần, Ngô Thái phu nhân cố ngoi đầu lên quan sát mọi vật lần cuối cùng, rồi ngã người ra, nhắm mắt tắt thở. Tôn Quyền ôm mẹ khóc than một hồi, đoạn sai các quan lo việc tang chế…

Qua năm sau, nhằm tiết xuân, Tôn Quyền thương nghị muốn kéo quân đi đánh Hoàng Tổ.

Trương Chiêu can:

– Chúa công còn ở trong tang chế, không nên động binh.

Nhưng Châu Du nói:

– Báo thù rửa hận, cần gì phải đợi hết tang!

Tôn Quyền còn đang do dự chưa quyết định, chợt có quan Bắc Bình Ðô Úy Lữ Mông về xin ra mắt, rồi thưa:

– Tôi trấn thủ ở cửa sông Long Thu, ngày vừa qua bỗng thấy bộ tướng của Hoàng Tổ là Cam Ninh dẫn quân tới xin hàng. Tôi đã dò la kỹ lưỡng được biết rằng Ninh tự là Hưng Bá, người ở Lâm Giang thuộc Ba quận. Người thông hiểu về kinh sử, có sức mạnh hơn người, tính lại thích lãng du, thường chiêu tập bọn du đảng, lưng đeo chuông đồng, tung hoành khắp thiên hạ. Ai ai nghe tiếng chuông đều kinh hãi ù té bỏ chạy trốn. Ninh còn lấy gấm Tây Xuyên làm buồm thuyền, vì thế người ta gọi là “giặc buồm gấm”. Về sau, Ninh hối hận việc làm của mình nên cải tà quy chánh, dẫn thủ hạ đến đầu Lưu Biểu. Thấy Biểu không làm nổi việc lớn, Ninh muốn sang theo Ðông Ngô ta, nhưng lại bị Hoàng Tổ giữ lại ở Hạ Khẩu. Trước đây, quân ta tiến đánh, Tổ đã nhờ Cam Ninh mới giữ được thành. Về sau, Tổ lại bạc đãi Ninh. Viên Ðô Ðốc là Tô Phi đã hai, ba lần tiến cử Ninh để Hoàng Tổ trọng dụng. Nhưng Hoàng Tổ nói: “Hắn là một tên cướp sông, trọng dụng làm gì!” Do đó, Cam Ninh oán giận Hoàng Tổ. Tô Phi biết được, liền bày tiệc rượu mời Cam Ninh dùng, và nói: “Tôi đã mấy lần tiến cử, nhưng Chúa công không trọng dụng. Ngày tháng thoi đưa, đời người mấy chốc… ông nên tính rộng mưu xa là hơn. Nay tôi cử ông làm chức Trưởng ở Ngọc huyện để tiện cho ông hành động, muốn ở hay đi thì tùy ỵ…” Nhờ thế Cam Ninh mới thoát được Hạ Khẩu, muốn sang hàng Giang Ðông ngay, nhưng còn sợ Giang Ðông thù về việc mình đã giết Lăng Tháo cứu Hoàng Tổ ngày trước. Tôi có nói: “Chúa công tôi mong người hiền như khát nước, không oán hận đâu. Vả lại, khi lâm trận ai cũng phải hết lòng vì chủ, có gì đáng oán ông đâu?” Ninh vui mừng hớn hở kéo quân qua sông chờ bái kiến. Vậy xin Chúa công định đoạt.

Tôn Quyền mừng rỡ nói:

– Nếu ta có Cam Hưng Bá giúp sức, ắt phá được Hoàng Tổ.

Dứt lời, sai Lữ Mông dẫn Cam Ninh vào. Ninh tham bái xong, Quyền nói:

– Hưng Bá đến đây, ta mừng vô hạn, đâu còn nghĩ đến chuyện cũ? Xin đừng nghi ngờ gì cả, và xin Tướng quân chỉ giáo cho kế sách phá Hoàng Tổ.

Ninh thưa:

– Nay vận Hán đến ngày tàn, thế nào Tào Tháo cũng cướp ngôi. Ðất Nam kinh Tháo không thể để yên ngồi ngó. Lưu Biểu thì không biết tính xa, con cái lại ngu hèn, làm sao giữ nổi sự nghiệp. Minh công nên sớm khắc phục Kinh châu, nếu chậm e Tháo tính trước mất. Nay trước hãy phá Hoàng Tổ. Tổ đã già yếu, lại chỉ biết tham lợi, vơ vét của dân, làm cho lòng dân vô cùng oán hận. Ðã vậy, chiến cụ lại không sửa sang, quân sĩ không kỷ luật. Nếu Minh công mà tới đánh, ắt thế như trẻ tre. Phá Hoàng Tổ rồi, gióng trống kéo quân qua phía Tây chiếm lấy cửa Sở quan mà mưu đồ Ba Thục. Ðược vậy, nghiệp bá ắt thành.

Tôn Quyền nói:

– Thật là lời vàng ngọc, làm cho ta sáng mắt lên.

Liền sai Châu Du làm Ðại Ðô Ðốc, quản thủ hết thủy binh và bộ binh, Lữ Mông làm Tiền bộ tiên phong, dt và Cam Ninh làm Phó tướng, còn Tôn Quyền thì thống lãnh đại quân mười vạn kéo đến đánh Hoàng Tổ.

Quân tế tác dò biết, phi báo về Giang Hạ 2.

Hoàng Tổ vội nhóm hết các tướng thương nghị rồi phong Tô Phi làm Ðại tướng, Trần Tựu và Ðặng Long làm Tiên phong, rồi kéo hết binh mã Giang Hạ ra nghênh địch.

Trần Tựu, Ðặng Long mỗi tướng điều khiển mỗi đội chiến thuyền tới đóng chận nơi cửa sông Miện.

Trên thuyền chuẩn bị hơn ngàn cung bền nỏ cứng, lại lấy giây chạc lớn buộc các thuyền lại với nhau vững chắc trên mặt nước.

Khi nghe quân Ðông Ngô đến, nghe trên thuyền Giang Hạ gióng lên một hồi trống, rồi cung nỏ bắn ra loạn xạ.

Thuyền của Ðông Ngô không dám tiến, phải lui về mấy dặm đồn quân trên sông Trường giang.

Cam Ninh thấy vậy, nói với dt:

– Sự thể đến nước này không tiến cũng không xong.

Liền chọn hơn một trăm thuyền nhỏ, mỗi chiếc chở hơn năm mươi quân tinh tráng, thì hai mươi tay chèo thuyền, còn ba mươi người đều mặc giáp sắt, tay cầm đao bén.

Hiệu lệnh truyền ra, tất cả chiến thuyền nhất tề xông sang, không kể tên đá, cứ phóng sát vào thuyền địch, chém đứt những chiếc dây chạc của thuyền địch.

Thế là thuyền Giang Hạ quay ngang mũi lại, tan rã.

Cam Ninh vươn mình phóng qua thuyền Ðặng Long, chém Ðặng Long một đao chết ngay.

Trần Tựu thấy thế thất kinh, quay thuyền bỏ chạy.

Lữ Mông thấy vậy nhảy qua một chiếc thuyền nhỏ, tự tay chèo lái vạt đến, xông thẳng vào đoàn thuyền địch mà phóng hỏa.

Trần Tựu vội nhảy lên bờ tẩu thoát. Lữ Mông liều mạng nhảy lên theo, đuổi sát đến nơi, chém Tựu một nhát ngang lưng chết luôn.

Khi Tô Phi dẫn quân đến bờ sông tiếp ứng, thì quân Ðông Ngô đã kéo ồ lên bộ cả rồi, không sao địch nổi.

Quân Hoàng Tổ thua chạy, Tô Phi hốt hoảng thúc ngựa bỏ chạy, bỗng gặp ngay đại tướng Ðông Ngô là Phan Chương. Hai ngựa giao đầu vài hiệp thì Phi bị Chương bắt sống đem xuống thuyền, điệu về nạp cho Tôn Quyền.

Tôn Quyền khiến quân đem Tô Phi giam vào cũi, chờ bắt được Hoàng Tổ rồi sẽ giết một thể.

Rồi thôi thúc ba quân, không kể ngày đêm, hết sức đánh phá Hạ Khẩu.

Ðó là:

Tướng ngu chẳng dụng tay “buồm gấm”,
Thuyền chiến tan hoang đứt “chạc ràng”.

——————————–

1 Ðại giang, Trường giang, Thanh giang, Dương tử giang chỉ là một con sông Giang vậy
2 Giang Hạ tức đất Vũ Xương ngày nay, là một địa điểm chiến lược vô cùng quan trọng, cho nên thời nào có chiến tranh, cửa Hạ Khẩu cũng vẫn là chỗ chiến trường gay go

Hồi Thứ Ba Mươi Chín

Thành Kinh Châu, Lưu Phong Cầu Kế
Ðồi Bác Vọng, Gia Cát Dụng Binh

Nhắc lại Tôn Quyền đốc thúc quân tướng công phá Hạ Khẩu, Hoàng Tổ binh thua tướng thiệt, liệu thế địch không nổi, liền bỏ thành Giang Hạ, trốn chạy về phía Kinh châu.

Nhưng Cam Ninh đã đoán chắc Tổ sẽ chạy như thế nên phục binh chờ sẳn ngoài cửa Ðông.

Quả nhiên Hoàng Tổ vừa dẫn mấy mươi quân kỵ từ trong cửa chạy vụt ra…

Chạy được một đoạn thì có tiếng hò reo nổi lên vang dậy.

Cam Ninh sấn ra đón đường.

Hoàng Tổ ngồi trên ngựa bảo Cam Ninh:

– Trước đây ta chưa hề bạc đãi ngươi, sao ngươi nỡ tâm phản phúc?

Cam Ninh mắng rằng:

– Trước đây ở Giang Hạ, ta đã lập biết bao nhiêu chiến công, thế mà ngươi không thấy lòng trung liệt của ta, coi ta như một kẻ cướp sông, thế thì ngươi bảo ta thờ ngươi làm sao?

Hoàng Tổ biết có năn nỉ cũng không xong, liền quất ngựa bỏ chạy.

Cam Ninh liền rẽ quân sĩ ra, chạy xông lên trước, đuổi bắt đến kỳ cùng.

Ðang đuổi, bỗng đằng sau có tiếng reo hò nổi lên, có một tướng dẫn vài mươi tên quân kỵ xông đến.

Xem lại, tướng đó là Trình Phổ.

Cam Ninh sợ Trình Phổ cướp mất công mình, liền rút tên bắn Hoàng Tổ một phát.

Hoàng Tổ trúng tên ngã lăn xuống ngựa.

Cam Ninh mừng rỡ vội chạy đến cắt lấy thủ cấp, quay ngựa lại cùng Trình Phổ hợp binh làm một, kéo về ra mắt Tôn Quyền.

Tôn Quyền sai bỏ thủ cấp Hoàng Tổ vào trong một chiếc hộp đem về Giang Ðông bày trước bàn thờ tế cha.

Kế đó, Tôn Quyền trọng thưởng ba quân, thăng chức Cam Ninh làm Ðô Úy, rồi họp các tướng bàn tính, có ý muốn chia quân giữ thành Giang Hạ.

Trương Chiêu can:

– Một cái thành trơ trọi này không thể nào giữ nổi đâu, chi bằng kéo quân về Giang Ðông nghỉ ngơi. Hoàng Tổ bị giết, thế nào Lưu Biểu cũng kéo quân sang đánh báo thù, chừng ấy ta lấy binh khỏe mạnh mà cự với binh mệt mỏi thì tất thắng.

Tôn Quyền nghe theo, bèn bỏ Giang Hạ rút về Giang Ðông.

Lúc bấy giờ, Tô Phi đang bị giam trong xe tù, ngầm sai người đến báo với Cam Ninh, nhờ cứu mạng.

Cam Ninh được tin, nói ngay:

– Chẳng cần Tô Tướng quân cầu khẩn, ta cũng phải lo. Ðâu dám quên ân nhân?

Khi đại quân về đến Ngô Hội, Tôn Quyền sai đem Tô Phi ra chém, Cam Ninh vào lạy, khóc lóc nói:

– Trước kia nếu tôi không được Tô Phi che chở thì đã nát thịt tan xương rồi, nay đầu còn được vâng lệnh dưới cờ Tướng quân nữa. Tội Tô Phi đáng chết, nhưng nghĩ đến ân tình ngày trước, tôi xin nạp hết chức tước để chuộc tội cho Tô Phi.

Tôn Quyền nói:

– Tô Phi đã làm ơn cho Tướng quân thì ta cũng vì Tướng quân mà tha chết cho Tô Phi. Nhưng tha chết cho hắn rồi hắn bỏ trốn thì sao?

Cam Ninh nói:

– Tô Phi không bị giết, mang ơn Chúa công rất trọng, lẽ nào còn bỏ trốn. Nếu Tô Phi trốn, tôi xin dâng đầu tôi để đền tội.

Tôn Quyền liền tha Tô Phi, chỉ đem đầu của Hoàng Tổ bày trước bàn thờ cha mà tế.

Tế xong, lại bày tiệc mời các quan văn vỷ đến ăn mừng.

Ðang lúc tôi chúa đang ăn uống vui vẻ, bỗng có một người ngồi nơi hàng bên võ tướng khóc rống lên, rồi đứng dậy tuốt kiếm lăm lăm, sấn tới chém Cam Ninh.

Cam Ninh vội đưa chiếc ghế đang ngồi lên đỡ.

Tôn Quyền ngạc nhiên, xem lại thì người toan chém Cam Ninh là Lăng Thống.

Vì trước đây, Cam Ninh đã bắn chết cha Lăng Thống là Lăng Tháo nơi Giang Hạ, nay gặp nhau, Lăng Thống không thể cùng với kẻ thù ngồi chung một mâm được, nên muốn báo thù.

Tôn Quyền lập tức ngăn lại, khuyên giải luôn miệng, và bảo Lăng Thống rằng:

– Ngày trước Hưng Bá bắn thân phụ khanh bởi lẽ “ai vì chủ nấy”, không thể không hết lòng. Nay hai người đã thành anh em một nhà rồi, còn giữ cừu hận làm chi? Thôi, trăm việc các khanh hãy vì ta mà xóa bỏ đi cho.

Lăng Thống rạp đầu xuống đất khóc lớn nói:

– Thù cha không chung đội trời, lẽ nào lại không báo!

Tôn Quyền cùng các quan ai nấy khuyên giải hết lời, nhưng Lăng Thống vẫn cứ trừng trừng đôi mắt nhìn Cam Ninh như muốn banh gan xé thịt.

Tôn Quyền không biết làm sao, ngay hôm ấy cấp cho Cam Ninh năm ngàn quân, một trăm chiến thuyền, sai ra trấn giữ Hạ khẩu, để hỏi đụng chạm với Lăng Thống.

Cam Ninh bái tạ, lãnh binh ra đi.

Tôn Quyền lại gia phong Lăng Thống làm chức Thừa Liệt Ðô Úy để phủ dụ.

Thống đành nuốt hận tạ ơn.

Từ đó Ðông Ngô đóng thêm rất nhiều chiến thuyền, chia quân tuần hành khắp các mặt sông.

Tôn Quyền lại sai Tôn Tĩnh dẫn một đạo binh trấn giữ Ngô Hội, còn mình đem đại binh trở về Sài Tang.

Bấy giờ, Huyền Ðức cho người qua Giang Ðông dọ thám, và được tin:

– Ðông Ngô đã dẹp yên Hoàng Tổ, hiện có Châu Du tập luyện thủy quân nơi Ba Dương hồ, còn Tôn Quyền thì trở về Sài Tang rồi.

Huyền Ðức mời Khổng Minh đến thương nghị.

Ðang lúc bàn bạc, bỗng có sứ giả của Lưu Biểu sang mời Huyền Ðức về Kinh Châu nghị sự.

Khổng Minh nói:

– Chắc là Giang Ðông đánh phá Hoàng Tổ, nên Lưu Cảnh Thăng mời Chúa công đến để bàn kế sách trả thù.

Việc này tôi phải đi với Chúa công để tùy cơ ứng biến…

Tôi đã có kế rồi.

Huyền Ðức nghe theo lời, để Quan Vân Trường ở lại giữ Tân Giã, sai Trương Phi đem năm trăm quân kỵ, cùng đến Kinh châu.

Dọc đường, Huyền Ðức ngồi trên ngựa hỏi Khổng Minh:

– Nay sang yết kiến Cảnh Thăng nên đối đáp làm sao?

Khổng Minh nói:

– Trước hết phải trần tạ việc phó hội Tương Dương, và xin nhớ kỹ, nếu Lưu Biểu sai Chúa công sang đánh Giang Ðông thì chớ nên đi, chỉ nên trì hoãn, bảo là về Tân Giã chỉnh đốn binh mã đã.

Huyền Ðức theo lời. Ðến Kinh châu, Huyền Ðức để Trương Phi đóng quân ngoài thành, rồi cùng Khổng Minh vào ra mắt Lưu Biểu.

Thi lễ xong, Huyền Ðức phục dưới thềm tạ tội việc phó hội Tương Dương.

Lưu Biểu vội mời Huyền Ðức lên ngồi và nói:

– Ta đã rõ biết việc hiền đệ bị mưu hại. Ngay lúc ấy đã truyền chém đầu Thái Mạo để hiến tạ hiền đệ, nhưng vì nhiều người kêu xin nên mới tạm tha cho. Mong hiền đệ đừng buồn trách ta nhé!

Huyền Ðức nói:

– Việc ấy không có quan hệ gì đến Thái Tướng quân. Có lẽ do những kẻ dưới tay làm bậy đó thôi.

Lưu Biểu nói:

– Nay Giang Hạ thất thủ, Hoàng Tổ bị hại, nên ta mời hiền đệ đến đây cùng ta bàn kế báo thù.

Huyền Ðức nói:

– Chỉ vì Hoàng Tổ nóng tánh, không biết dùng người nên mới sanh ra việc ấy. Nay ta hưng binh đánh Giang Ðông, là Tào Tháo kéo quân đến xâm phạm Kinh châu thì thế nào?

Lưu Biểu phân vân một lúc rồi nói:

– Nay ta tuổi già sức yếu, không đảm đương nổi công việc, hiền đệ đến đây lo việc với ta… Khi ta chết đi, hiền đệ thay ta mà trấn giữ Kinh châu.

Huyền Ðức nói:

– Sao hiền huynh lại nói như thế? Bị này tài hèn sức mọn, đâu dám đảm đương việc lớn.

Khổng Minh ngồi gần Huyền Ðức vội đảo mắt ra hiệu bảo Huyền Ðức nên nhận lấy.

Huyền Ðức không biết nghĩ sao, nói chữa lại rằng:

– Xin hiền huynh hãy khoan tâm, để tiểu đệ nghĩ một kế cho vẹn toàn.

Nói rồi từ biệt bước ra, trở về quán dịch.

Khổng Minh hỏi Huyền Ðức:

– Vừa rồi Lưu Cảnh Thăng muốn đem Kinh châu giao phó cho Chúa công, sao Chúa công lại từ chối.

Huyền ức nói:

– Lưu Cảnh Thăng hậu đãi ta từ lâu, ta nỡ nào nhân lúc Cảnh Thăng suy yếu mà cướp đất cho đành.

Khổng Minh than:

– Chúa công quá nhân từ!

Hai người đang trò chuyện thì có tin báo:

– Công tử Lưu Kỳ đến thăm.

Huyền Ðức đón vào. Thi lễ xong, Lưu Kỳ khóc lóc nói:

– Ngày nay, kế mẫu quyết tình không dung. Tính mạng cháu chỉ treo trong sớm tối! Xin thúc phụ thương tình cứu mạng tiểu điệt.

Huyền Ðức thở dài than:

– Ðó là việc riêng của cháu. Cháu hỏi như vậy thì ta biết làm sao được!

Thấy Khổng Minh ngồi bên cạnh chỉ mỉm cười, Huyền Ðức liền hỏi kế.

Khổng Minh vội từ chối:

– Ðó là việc riêng của nhà Công tử, Lượng đâu dám dự vào.

Lưu Kỳ khóc sướt mướt. Huyền Ðức tiền Lưu Kỳ ra ngoài cửa, và dặn nhỏ:

– Ngày mai ta sai Khổng Minh đến đáp lễ, cháu cứ làm như thế… như thế… thì Khổng Minh sẽ có mưu giúp cho.

Lưu Kỳ vui mừng bái lạy Huyền Ðức rồi ra về.

Hôm sau, Huyền Ðức giả đau bụng, sai Khổng Minh thay mặt mình đến nhà Lưu Kỳ đáp lễ.

Khổng Minh vâng lời tìm đến nhà riêng của Lưu Kỳ ra mắt.

Lưu Kỳ mời vào hậu đường.

Trà nước xong, Lưu Kỳ ngỏ lời:

– Kỳ này bị kế mẫu không dung, xin tiên sinh dạy cho một lời cứu mạng.

Khổng Minh lắc đầu, nghiêm sắc mặt nói:

– Lượng là người khách tạm trú ở đây, đâu dám can dự vào việc cốt nhục của kẻ khác? Nếu tiết lậu tai vạ không nhỏ…

Nói xong đứng dậy xin cáo từ. Lưu Kỳ vội nói:

– Ðã được gót ngọc chiếu cố, kẻ ngu này quá hân hạn, đâu dám thờ ơ bỏ một cơ hội vàng ngọc.

Rồi Lưu Kỳ nhất định cầm Khổng Minh ở lại cho được, mời vào hậu đường uống rượu.

Uống được vài chén, Lưu Kỳ lại khẩn khoản năn nỉ:

– Kẻ tiện hạ này đang bị kế mẫu mưu hại, mong tiên sinh dạy cho một lời để cứu tánh mạng, ơn đức ấy xin trọn đời ghi dạ.

Khổng Minh vẫn lắc đầu:

– Việc ấy tôi quyết không dám bàn đến.

Dứt lời, lại toan đứng dậy từ biệt. Lưu Kỳ vội níu lại nói:

– Thôi, tiên sinh đã không bày bảo, Kỳ này chẳng dám này nhưng việc gì lại vội vàng như thế?

Khổng Minh mới ngồi nán lại chút nữa.

Bỗng Lưu Kỳ nói:

– Vãn sinh may mắn được bộ sách cổ hay lắm, mời tiên sinh xem qua một chút.

Nói rồi mời Khổng Minh lên một cái lầu nhỏ.

Vừa trèo lên đến nơi, Khổng Minh hỏi:

– Bộ sách ấy đâu thưa Công tử?

Lưu Kỳ phục lạy khóc nức nở nói:

– Kế mẫu tôi sắp ra tay, mạng tôi chỉ còn trong sớm tối, tiên sinh nỡ nào không dạy một lời cứu nguy.

Khổng Minh sa sầm nét mặt, đứng phắt dậy bước ra, toan xuống khỏi lầu, nhưng thang gác đã bị lấy mất rồi.

Lưu Kỳ lại nói như van lơn:

– Vãn sinh cầu xin lương kế mà tiên sinh sợ tiết lộ nên không chỉ dạy. Hiện giờ thang gác đã lấy rồi, nơi đây chỉ còn có một mình tiên sinh và Kỳ tôi mà thôi. Trên không đến trời, dưới không đến đất. Miệng tiên sinh nói ra, tai Kỳ nghe riêng lấy. Còn ai biết nữa? Xin tiên sinh chớ ngại mà dạy bảo cho…

Khổng Minh vẫn vùng vằng không chịu, nói:

– Xin Công tử nên nhớ rằng: “Người dưng không chia rẽ tình thân của kẻ khác.” Tôi làm sao mà bày mưu cho Công tử được.

Thấy cầu khẩn mãi vẫn không được, Lưu Kỳ vừa khóc vừa nói:

– Tiên sinh quyết chẳng chịu dạy bảo, mạng này ắt chẳng giữ được. Thôi, thà Kỳ này chết trước mặt tiên sinh cho xong.

Dứt lời, rút kiếm tự tử.

Khổng Minh vội giằng lấy kiếm nói:

– Tôi đã có kế này, Công tử đừng nóng tính.

Lưu Kỳ mừng rỡ hỏi:

– Kế gì, xin tiên sinh dạy bảo cho?

Bấy giờ Khổng Minh mới nói:

– Công tử há không nhớ chuyện Thân Sinh với Trùng Nhĩ khi xưa? Thân Sinh ở bên trong thì chết, Trùng Nhĩ ở ngoài mà được an toàn… Nay Hoàng Tổ vừa bị phá ở Giang Hạ, thiếu người trấn giữ, sao Công tử không xin lãnh binh ra đóng ở Giang Hạ? Ra đấy ắt tránh được tai vạ.

Lưu Kỳ vui mừng, lạy hai lạy tạ ơn, rồi gọi người nhà đem thang tới bắc vào, tiễn Khổng Minh xuống lầu.

Khổng Minh từ biệt, trở về gặp Huyền Ðức kể rõ việc ấy. Huyền Ðức rất mừng.

Hôm sau, Lưu Kỳ xin cha cho ra trấn đóng Giang Hạ, Lưu Biểu do dự không quyết, liền mời Huyền Ðức vào bàn.

Huyền Ðức nói:

– Giang Hạ là nơi trọng địa, không thể giao cho người ngoài được. Nếu Công tử ra trấn đóng thì còn gì tín nhiệm hơn. Thôi thì các mặt Ðông Nam cha con huynh cáng đáng lấy, còn mặt Tây Bắc thì đã có đệ đây.

Lưu Biểu nghe lời và hỏi thêm:

– Gần đây nghe Tào Tháo đào ao Huyền Vũ ở Nghiệp quận, luyện binh ắt có ý đánh Giang Nam. Vậy chúng ta phải đề phòng mới được.

Huyền Ðức nói:

– Tiểu đệ đã biết việc ấy rồi, xin hiền huynh cứ an tâm, để đệ lo liệu.

Huyền Ðức từ giữ ra về. Lưu Biểu sai Lưu Kỳ lãnh ba ngàn quân ra đóng nơi Giang Hạ.

Nhắc lại Tào Tháo từ khi dẹp yên phương Bắc rồi, liền bãi bỏ chức Tam Công, lấy chức Thừa Tướng của mình kiêm nhiệm luôn ba tòa ấy.

Lại phong cho Mao Giới làm Ðông Tào Duyện, phong cho Thôi Diệm làm Tây Tào Duyện, Tư Mã Ý làm Văn Học Duyện.

Nguyên Tư Mã Ý tự là Trọng Ðạt, người đất Ôn, thuộc quận Hà Nội, là cháu nội quan Thái Thú Dĩnh châu Tư Mã Tuấn, là con quan Kinh triệu doãn Tư Mã Phòng, và là em quan Chủ Bạ Tư Mã Lãng.

Các văn quan đều đông đủ, và rất có khả năng. Tào Tháo lại hợp các võ tướng bàn chuyện Nam chinh.

Hạ Hầu Ðôn bước ra nói:

– Gần đây, nghe Lưu Bị ở Tân Giã ngày ngày thao luyện quân sĩ, mưu tính gây vạ về sau. Vậy phải trừ Lưu Bị trước đã.

Tào Tháo nói:

– Lưu Bị tuy là kẻ anh hùng, nhưng thế lực không có là bao, trừ hắn trước cũng phải.

Liền sai Hạ Hầu Ðôn làm Ðô Ðốc; Vu Cấm, Lý Ðiển, Hạ Hầu Lan, Hàn Hạo làm Phó tướng, quản thủ mười vạn tinh binh, kéo thẳng đến đồi Bác Vọng để tiến đánh huyện Tân Dã.

Tuân Húc can:

– Lưu Bị là tay anh hùng, nay lại mới được Gia Cát Lượng theo phò làm Quân sư, chúng ta không nên khinh địch.

Hạ Hầu Ðôn nói:

– Lưu Bị chỉ là lũ chuột nhắt, nay chui chỗ này, mai trốn chỗ kia, quân sĩ có bao mà sợ. Tôi quyết bắt sống Lưu Bị đem về nạp cho Thừa Tướng.

Từ Thứ nói:

– Tướng quân chớ coi thường Lưu Bị. Nay Lưu Bị có thêm Gia Cát Lượng thì chẳng khác nào hổ thêm cánh vậy.

Tào Tháo hỏi:

– Gia Cát Lượng là người như thế nào?

Từ Thứ nói:

– Lượng tên chữ là Khổng Minh, đạo hiệu là Ngọa Long tiên sinh, có tài ngang trời dọc đất, có cơ mưu quỷ khốc thần kinh, thật là một kỳ sĩ trên đời nay, không thể coi thường được.

Tào Tháo hỏi:

– Khổng Minh so với tài của ông thì sao?

Từ Thứ nói:

– Tôi đâu dám sánh với Khổng Minh. Tôi chỉ như con đom đóm lập lòe, Khổng Minh chẳng khác mặt trăng giữa đêm rằm vậy.

Hạ Hầu Ðôn hăng hái nói:

– Sao Nguyên Trực lại quá nhún mình, đề cao người khác như vậy? Gia Cát Lượng như đồ cỏ rác, có gì đáng sợ? Tôi chỉ đánh một trận là bắt sống Lưu Bị, trói tay Gia Cát Lượng! Nếu không làm được, xin nạp thủ cấp dưới trướng mà tạ tội với Thừa tướng.

Tào Tháo nói:

– Ðược rồi. Khanh hãy mau mau báo tin thắng trận về cho ta yên lòng.

Thế là Hạ Hầu Ðôn từ biệt Tào Tháo, hăm hở kéo quân lên đường.

Nhắc lại từ ngày được Khổng Minh làm Quân sư, Huyền Ðức rất mừng rỡ, lễ sư phó mà đãi.

Quan, Trương thấy thế nên không bằng lòng, thường nói:

– Khổng Minh tuổi trẻ, tài học được bao nhiêu mà huynh trưởng quá trọng vọng như vậy? Vả lại, từ ngày ra khỏi lều tranh đến nay, Khổng Minh cũng chưa làm được điều gì tài giỏi mà?

Huyền Ðức nói:

– Anh được Khổng Minh cũng như “cá gặp nước”. Hai em đừng nói nhiều nữa.

Quan, Trương nghe nói, lẳng lặng lui ra, nhưng lòng vẫn không phục Khổng Minh.

Một hôm, có người đem đến biếu cho Huyền Ðức một cái đuôi con tê ngưu.

Huyền Ðức tự tay đem ra đan một cái mũ.

Khổng Minh bước vào thấy thế, liền nghiêm sắc mặt hỏi:

– Minh công chỉ trọng đến vật quý này mà không còn nghĩ đến chuyện xa xôi nữa hay sao?

Huyền Ðức vội vứt cái mũ đi, rồi tạ rằng:

– Ta tạm lấy việc đan mũ để bớt nổi lo lắng trong lòng đấy thôi.

Khổng Minh hỏi:

– Minh công lượng sức mình với Tào Tháo thì thế nào?

Huyền Ðức nói:

– Ta tự biết còn kém xa.

Khổng Minh nói:

– Quân số của Minh công hiện nay chỉ được vài ngàn, nếu Tào Tháo đem quân đến đánh thì làm sao đủ sức nghênh địch?

Huyền Ðức thở dài:

– Ðó chính là mối lo hiện nay của ta.

Khổng Minh nói:

– Thế thì phải mộ thêm dân binh ngay đi. Lượng xin ra sức luyện tập để có thể đem chống giặc được.

Huyền Ðức nói:

– Ta cũng có nghĩ đến chuyện ấy, nhưng chỉ sợ thì giờ quá ít, không đủ để luyện dân binh thành thuộc.

Khổng Minh nói:

– Chúa công chớ lo. Những binh sĩ này không cần tài đánh giặc mấy, mà chỉ cần chạy cho thật giỏi.

Huyền Ðức mỉm cười, theo lời Khổng Minh chiêu mộ một số dân binh độ ba ngàn người, giao cho Khổng Minh sớm tối hết sức lo luyện tập theo trận pháp.

Chẳng bao lâu, có tin báo:

– Hạ Hầu Ðôn kéo quân đến đánh, đang thẳng tiến về hướng Tân Giã.

Trương Phi nghe tin, bảo Vân Trường:

– Chuyến này cứ để Khổng Minh đánh trước, xem hắn nghênh địch như thế nào?

Hai tướng đang trò chuyện thì có tin Huyền Ðức gọi vào.

Huyền Ðức nói với Quan, Trương:

– Hạ Hầu Ðôn kéo binh mười vạn đến đánh Tân Giã, hai em có mưu kế gì chăng?

Trương Phi hỏi lại:

– Sao đại ca không sai “nước” ra nghênh địch?

Huyền Ðức cau mày:

– Trí lược thì nhờ Khổng Minh, dũng lược thì cậy có hai em! Ðừng phân bì như vậy.

Quan, Trương không dám nói nữa, lẳng lặng lui ra.

Huyền Ðức lại mời Khổng Minh vào thương nghị. Khổng Minh nói:

– Chỉ sợ hai tướng Quan, Trương không chịu nghe lệnh của tôi thôi. Nếu Chúa công muốn để tôi hành binh thì phải ban cho tôi ấn kiếm mới được.

Huyền Ðức lấy ấn kiếm trao cho Khổng Minh.

Khổng Minh liền tụ tập chư tướng lại truyền lệnh.

Trương Phi nói với Vân Trường:

– Anh em ta cứ đến đó nghe lệnh, xem hắn điều khiển ra sao?

Các tướng hợp mặt đông đủ, Khổng Minh hạ lệnh:

– Bên trái đồi Bác Vọng có trái núi Dự Sơn, bên phải có khu rừng An Lâm, hai nơi đó là chỗ mai phục quân rất tốt. Vân Trường hãy dẫn một ngàn quân đến phục dưới núi Dự Sơn. Khi địch tới, im lặng để cho chúng đi qua. Những xe nặng chở quân nhu, lương thảo ắt đi phía sau. Hễ thấy mặt Nam có lửa cháy, lập tức thả quân xông ra đánh và đốt hết lương thảo ấy. Dực Ðức thì dẫn một ngàn quân đến phía sau rừng An Lâm, mai phục trong hang núi. Hễ thấy phía Nam có ánh lửa bốc cháy, lập tức kéo binh đến đồi Bác Vọng, phóng hỏa đốt lương thảo quân địch ở đấy. Quan Bình, Lưu Phong hãy dẫn năm trăm quân, dự bị những đồ dẫn hỏa, ra phía sau đồi Bác Vọng, chia hai ẩn núp, đợi đến canh một khi giặc kéo tới, nổi lửa đốt rừng lau! Lại phải sai người đến Phàn Thành gọi Triệu Vân về, cho đi tiên phong, không cần đánh lấy được, chỉ cần đánh lấy thua. Còn Chúa công thì lảnh một đạo quân làm hậu viện. Các tướng nên theo kế, chớ nên sơ xuất.

Nghe xong, Vân Trường hỏi:

– Chúng tôi đều phải đi nghinh địch. Vậy chẳng hay Quân sư làm việc gì?

Khổng Minh điềm nhiên đáp:

– Ta chỉ ngồi giữ huyện thành này.

Trương Phi cười ha hả nói:

– Chúng tôi đều phải lăng lưng vào chỗ chém giết, còn Quân sư thì ngồi nhà, thung dung dữ a?

Khổng Minh giơ gươm lên, lớn tiếng nói:

– Ấn kiếm ở đây, nếu ai sai lệnh, ta sẽ chém đầu.

Huyền Ðức nói xen vào:

– Há không hiểu rằng:

– Người ngồi bày mưu trong màn trướng mà có thể quyết thắng ở ngoài ngàn dặm sao? Hai em không được trái lệnh!

Trương Phi cười nhạt, không muốn nói.

Vân Trường bảo:

– Chúng ta thử xem cái kế của thằng hủ nho này có ứng nghiệm hay không rồi sẽ về chất vấn hắn cũng chưa muộn.

Thế là hai người kéo quân đi.

Còn các tướng cũng chưa hiểu thao lược của Khổng Minh như thế nào, nên tuy vâng lệnh song ai nấy lòng đầy nghi hoặc.

Khổng Minh bảo Huyền Ðức:

– Hôm nay Chúa công nên dẫn binh đến chân đồi Bác Vọng mà đóng. Sẩm tối ngày mai, ắt quân địch cũng đến. Chúa công nên bỏ trại mà chạy. Hễ thấy lửa cháy thì lập tức quay binh lại đánh. Tôi cùng với Mê Trước, Mê Phương lãnh năm trăm quân giữ huyện. Tôn Cành , Giản Ung thì lo chuẩn bị tiệc mừng công và sắp sẳn sổ sách ghi công lao cho tướng sĩ.

Khổng Minh điều bát đâu đấy xong xuôi, từ giả Huyền Ðức vào trong.

Còn Huyền Ðức tuy lòng còn áy náy, song vẫn dẫn binh đến chân đồi Bác Vọng hạ trại.

Bấy giờ Hạ Hầu Ðôn với bọn Vu Cấm, Lý Ðiển dẫn binh đến gần Bác Vọng, liền chia quân làm hai, một làm tiền bộ, một đi hậu tập và bảo vệ lương thực.

Lúc này nhằm vào tiết thu, trời trong trăng tỏ, gió thổi vèo vèo.

Bỗng thấy phía trước bụi bay ngất trời.

Hạ Hầu Ðôn lập tức dàn quân ra sẳn sàng, và hỏi quan Hướng đạo:

– Ðây là nơi nào?

Quan Hướng đạo thưa:

– Trước mặt kia là đồi Bác Vọng, mặt sau là cửa sông La Xuyên.

Hạ Hầu Ðôn sai Vu Cấm, Lý Ðiển ở sau điều khiển quân sĩ, còn mình thì giục ngựa tới trước chờ địch. Tức thì trong đám bụi mù, có một đội binh mã kéo đến.

Hạ Hầu Ðôn nhìn qua, ngửa mặt lên trời cười ngất. Chư tướng thấy vậy, ngạc nhiên hỏi:

– Tướng quân cười việc gì thế?

Hạ Hầu Ðôn đáp:

– Ta cười là cười cho Từ Nguyên Trực lúc ở trước mặt Thừa Tướng dám khoe:

– Gia Cát Lượng là một người có tài như người nhà trời!

Nay xem hắn dụng binh, đem binh mã thế kia cho làm tiền bộ tiên phong để đối địch với ta, như vậy chẳng khác nào đem bầy dê ra chống chọi với hổ báo. Lời hứa của ta trước mặt Thừa Tướng là sẽ bắt sống Lưu Bị và Gia Cát Lượng đem về nạp, thì nay quả là thành công mỹ mãn.

Dứt lời, liền giục ngựa xông tới. Triệu Vân thấy quân Tào tràn đến, cũng giục ngựa xông ra.

Hạ Hầu Ðôn chỉ vào mặt Triệu Vân mà mắng rằng:

– Chúng bây theo Lưu Bị thì chẳng khác gì những cô hồn đi theo quỷ sứ mà thôi.

Triệu Vân nổi giận, giục ngựa vung thương đâm tới. Hai ngựa quần nhau chừng hai hiệp, Triệu Vân giả thua bỏ chạy. Hạ Hầu Ðôn giục ngựa đuổi theo.

Triệu Vân chạy được hơn mười dặm, quay lại đánh nữa.

Ðánh qua vài hiệp lại bỏ chạy.

Hàn Hạo thấy thế, giục ngựa tới trước can Hạ Hầu Ðôn:

– Triệu Vân có vẻ dụ địch! Sợ có mai phục đấy.

Hạ Hầu Ðôn đang hăng máu, nói:

– Cái thứ quân mã như cỏ rác thế kia thì dầu có mai phục mười mặt, ta cũng không sợ.

Rồi không nghe lời Hàn Hạo, Hạ Hầu Ðôn xua quân đuổi thẳng đến đồi Bác Vọng.

Bỗng một tiếng pháo nổ vang, Huyền Ðức tự dẫn quân ra đánh, tiếp ứng Triệu Vân.

Hạ Hầu Ðôn thấy thế, cười ha hả, quay lại nói với Hàn Hạo:

– Ðó, quân mai phục thế đó chứ gì? Chiều nay ta phải vào thành Tân Giã cho kỳ được. Nếu không, ta thề không nghỉ quân.

Huyền Ðức và Triệu Vân giục quân xông vào xáp chiến.

Hai bên đánh được ba hiệp, Huyền Ðức ra lệnh rút lui, rồi cùng Triệu Vân chạy miết.

Lúc này trời đã tối, mây phủ mịt mù che khuất bóng trăng.

Buổi chiều gió đã nổi, đến đêm gió càng thổi mạnh…

Hạ Hầu Ðôn chỉ một mực cắm đầu, cắm cổ cứ việc giục quân đuổi theo.

Vu Cấm, Lý Ðiển đi sau, chạy đến một chỗ hẹp, lau lách mọc um tùm, lòng nghi hoặc.

Lý Ðiển nói:

– Hễ khinh địch là thua. Phía Nam đường quá chật hẹp, bờ sông sát chân núi, rừng rậm lau cao thế này, nếu địch dùng hỏa công thì biết liệu làm sao?

Vu Cấm tỉnh ngộ, khen rằng:

– Lời ông nói rất đúng, tôi phải chạy đến trước nói với Ðô Ðốc, còn ông thì lập tức truyền dừng binh lại.

Lý Ðiển bèn gò cương ngựa trở lại hô lớn:

– Ðạo binh sau chớ có vội lắm.

Lúc này người ngựa đang chạy cuồn cuộn, nghe kêu dừng lại làm sao được?

Còn Vu Cấm thì giục ngựa đến trước kêu lớn:

– Tiền quân Ðô Ðốc xin hãy dừng binh ngay!

Hạ Hầu Ðôn đang thúc quân chạy gấp, bỗng nghe gọi, rồi thấy Vu Cấm ở đằng sau chạy tới, liền hỏi vì cớ gì?

Vu Cấm nói:

– Mặt Nam kia đường hẹp, sông núi sát nhau, lau cao rừng rậm, xin Ðô Ðốc đề phòng địch dùng hỏa công.

Hạ Hầu Ðôn lúc này giật mình tỉnh ngộ, vội quay ngựa hạ lệnh cho quân sĩ dừng lại.

Nhưng vừa dứt lời thì đã nghe tiếng kêu la lẫn tiếng reo hò vang dậy, phía sau ánh lửa bùng lên sáng rực.

Rừng lau bắt lửa, rồi lan đến hai bên đường.

Và chỉ trong chốc lát, bốn phương tám hướng lửa bốc cháy ngập trời.

Lúc này, trời lại gió lạnh, lửa bốc cháy càng nhiều, quân Tào thất kinh, hàng ngũ hoảng loạn, người ngựa đạp nhầu lên nhau, chết vô số kể.

Bấy giờ Triệu Vân mới quay ngựa lại đánh úp.

Hạ Hầu Ðôn xông khói đạp lửa chạy trốn.

Mặt sau, Lý Ðiển thấy tiền quân lâm nguy, vội bỏ chạy vào thành Bác Vọng.

Chạy được một lúc, lại thấy trước mặt bỗng hiện ra một đạo quân chận lại đánh, viên tướng đi đầu là Quan Vân Trường.

Lý Ðiển túng thế, phải vọt ngựa xông vào xáp chiến cướp đường mà chạy.

Vu Cấm thấy các xe lương bị cháy hết, lửa cháy ngập trời, vội rẽ vào ngõ tắc chạy trốn.

Hạ Hầu Lan, Hàn Hạo xông ngựa tới cứu xe lương thì gặp phải Trương Phi.

Hai bên đánh nhau mới được vài hiệp, Trương Phi đã đâm Hạ Hầu Lan một xà mâu nhào lăn xuống ngựa chết tốt.

Hàn Hạo thất kinh cướp đường chạy mất.

Quân Tân Dã đánh đuổi mãi tới sáng, giết quân Tào thây nằm đầy đồng, máu chảy thành sông.

Người sau có thơ khen Khổng Minh như sau:

Bác Vọng ra tay dụng hỏa công,

Ðàn cao điều khiển dễ như không.

Binh Tào một trận tan hồn vía,

Ra khỏi lều tranh lập đầu công.

Hạ Hầu Ðôn thua một trận thảm bại, mới thu thập ít tàn quân, chạy về Hứa Xương.

Khổng Minh đắc thắng thu quân, Quan Vân Trường và Trương Phi bảo nhau:

– Khổng Minh thật là bậc anh kiệt!

Hai người vừa đi vừa bàn tán với nhau chưa đầy vài dặm thì đã thấy trước mặt cờ bay phất phới.

Mê Trước, Mê Phương dẫn một toán quân đẩy một cỗ xe nhỏ tới.

Trên xe có một người ngồi chễm chệ, hai người nhìn kỹ, thì ra đó là Khổng Minh.

Quan, Trương liền xuống ngựa, sập lạy trước xe, tỏ ý bái phục mưu cao vừa thắng trận.

Một lúc sau, Huyền Ðức, Triệu Vân, Lưu Phong, Quan Bình cùng kéo đến, tụ tập chư quân, đem những xe lương cướp được chia thưởng cho tướng sĩ, rồi ban sư về huyện thành.

Nhân dân trăm họ Tân Giã đổ xô ra đường lạy mừng thắng trận và nói:

– Sinh mạng chúng tôi được bảo toàn là nhờ ở Sứ quân được người hiền phò tá.

Khổng Minh về đến huyện, nói với Huyền Ðức:

– Tuy Hạ Hầu Ðôn đã thua chạy, nhưng Tào Tháo ắt tự kéo đại quân đến.

Huyền Ðức hỏi:

– Như vậy phải tính thế nào?

Khổng Minh nói:

– Tôi có một kế để đối phó với quân Tào.

Ðó chính là:

Phá giặc còn chưa yên vó ngựa,
Ngăn thù đã sẳn liệu mưu cao.

Hồi Thứ Bốn Mươi

Thành Kinh Châu, phu nhơn muốn hiến
Nơi Tân Giả, Gia Cát lửa thiêu

Khổng Minh nói :

– Ðất nầy tôi đã nói với Chúa Công không dụng võ được. Ta phải có Kinh Châu thì mới xong .

Huyền Ðức lắc đầu :

– Tôi thọ ơn Lưu Biểu đã nhiều, sao mà dòm ngó đất của y cho được ?

Khổng Minh nói :

– Chúa Công còn băn khoăn điều nàv thì về sau hối không kịp nữa .

Huyền Ðức vẫn không nghe, Khổng Minh đành tạm gác vấn đề qua một bên.

Còn Hạ Hầu Ðôn tới Hứa đô thì tự trói mình tạ tội với Tào Tháo :

– Tôi bị Khổng Minh đánh hỏa công bị thua, nay xin về thọ tội .

Tào Tháo bảo :

-Ngươi là tướng lão thành mà sao còn mắc kế hỏa công ?

Hạ Hầu Ðôn thưa thiệt vì không nghe lời Vu Cấm, Lý Ðiển nên mới ra nỗi nay.

Tào Tháo liền thưởng cho hai tướng và tha cho Hạ Hầu Ðôn.

Xong rồi Tào Tháo điểm 50 vạn binh hùng, đạo thứ nhứt giao cho Tào Nhơn , Tào Hồng, đạo thứ hai giao cho Trương Hấp , Trương Liêu, đạo thứ ba giao cho Hạ Hâu Ðôn , Hạ Hầu Huyên, đạo thứ tư giao cho Lý Ðiển, Vu Cấm, còn chính mình thống lãnh đạo binh thứ năm. Chức tiền bộ tiên phuông thì giao cho Hứa Chữ.

Khổng Dung nói với Tào Tháo :

– Theo ý tôi, nên huỡn huỡn, vì Lưu Bị cũng như Tôn Quyền đều là kẻ địch đáng xem xét cho kỹ rồi hãy đánh . Nào ngờ Tào Tháo sắp cất quân, nghe can thì nổi trận lôi đình, truyền mang Khổng Dung ra chém lập tức , âu cũng là Khổng Dung đã tận số rồi vậy.

Sau đó cho Tuân Úc ở lại giữ Hứa đô, còn đại binh rần rần kéo đi.

Tại Kinh Châu, Luu Biểu đau nặng, e khó sống nên mời Huyền Ðức tới nói :

– Anh có thác rồi, em phải giữ lấy Kinh Châu mới đặng .

Huyền Ðức thưa :

– Em sẽ lo giúp cháu, chứ không dám nghĩ vậy .

Ðang bàn tán thì có tin cấp báo đại quân Tào Tháo kéo tới.

Huyền Ðức xin về Tân Giả ngay để lo đối địch còn Lưu Biểu thì vội làm di chúc cho con lớn là Lưu Kỳ. Thái phu nhơn vời Thái Mạo tới bàn kế.

Còn Lưu Kỳ nghe tin cha trở bịnh nặng thì kéo quân về thăm, nào ngờ Thái Mạo đóng chặt cỗng thành, không cho vào, bảo rằng Lưu Biểu ra lệnh cho Lưu Kỳ trở lại Giang Hạ lập tức.

Lưu Kỳ đành lui về, còn Lưu Biểu chờ con mãi, không thấy về thì thở hắt ra mà thác .

Thái Phu nhơn làm di chúc giả cho con mình là Lưu Tôn lên kế, sau rồi phát tang.

Lưu Tôn mới mười bốn, nói với tả hữu rằng :

– Ta còn quá nhỏ, phỏng chú ta, anh ta đem binh về hạch tội thì ta biết làm sao . Nói rồi tỏ vẻ không thiết tha gì tới việc nối nghiệp cả.

Thái phu nhơn cả giận nên Lưu Tôn đành phải nghe mẹ.

Lúc dó có Lý Khuê ra vẻ chống đối việc lập con thứ, truất con cả, nên bị Thái Mạo giết hại.

Thái.Mạo tôn Lưu Tôn lên xong rồi, giòng họ Thái thi nhau mà chuyên quyền ở Kinh Châu.

Lúc đó có tin Tào Tháo dẫn binh gần tới Tương Dương, Lưu Tôn hợp các tướng thương nghị.

Tào Truyện là Phó Tốn nói :

– Tôi thấy cần phải lo chống Tào, lại cần phải lo đại công tử Lưu Kỳ nữa , vì vậy tôi có kế này là đâu đó êm hết : đó là đem Kinh , Tương chín quận mà đầu Tào thì địa vị chắc còn mà Lưu Kỳ chẳng làm gì được.

Lưu Tôn tuy nhỏ nhưng rất khí khái kêu lên :

– Sự nghiệp cha ta để lại một lúc mà đem cho người sao ?

Khoái Việt cũng ép :

– Lời Phó Tốn nói là phải, chọi vào Tào Tháo như đem trứng chọi đá, đầu là hơn .

Lưu Tôn vẫn không chịu mà rằng :

– Nhục đó e cả thiên hạ chê cười !

Thái Phu nhơn ở trong nghe lóng lúc này bước ra bảo Lưu, Tôn :

– Lời các tuớng bàn là chánh đáng, sao các con chẳng nghe theo e hối không kịp !

Lưu Tôn đành bấm bụng viết hàng thư cho Tống Trung đi sứ mang qua bên Tào.

Tào Tháo ở Huyền Thành xem thư rồi mừng rỡ, truyền cho Lưu Tôn mau tới ra mắt.

Tống Trung lãnh mạng ra về, qua sông thì xảy gặp Quan Công.

Quan Công biết Tống Trung nên gạn hõi mọi việc ở Kinh Châu, Tống Trung đối đáp loanh quanh khiến Vân Trường nỗi giận.

Tống Trung khiếp vía khai ra sự thực .

Vân Trường lập tức giải Tống Trung về cho Huyền Ðức .

Huyền Ðức nghe chuyện khóc ròng.

Trương Phi nói :

– Ðến nước này thì phải diệt họ Thái, trừ Lưu Tôn mà lấy Kinh , Tương rồi mới lo cự Tào được .

Huyền Ðức bảo để bàn với Khổng Minh đã, sau đó tha tội cho Tống Trung.

Xảy có Y Tịch vào thưa :

– Bọn Thái Mạo phản phúc, tôi vâng lệnh công tử Lưu Kỳ về thảo luận cùng Ngài về việc vấn tội bọn chúng .

Huyền Ðức liền đem chuyện Lưu Tôn viết thư dâng Kinh , Tương cho Y Tịch hay.

Y Tịch nói :

– Vậy xin Ngài giả đi điếu tang mà trừ diệt bọn chúng mới xong .

Khổng Minh khen lời đó rất phải.

Huyền Ðức cứ khóc mà không chịu, sau nói rằng :

– Ta nên dọn lánh qua Phàn Thành mà chờ xem sự việc đã .

Khổng Minh cũng đành phải nghe theo.

Lúc đó lại có tin cấp báo đại quân Tào Tháo đã tiến tới Bác Vọng rồi.

Khổng Minh nói :

– Lần trước, tôi chỉ dùng một mồi lửa mà binh của Hạ Hầu Ðôn phải tan tành. Lần này tôi cho chúng mắc mưu nữa.

Xin Chúa Công cho bá tánh di cư sang Phàn Thành ngay.

Sau đó Khổng Minh cho Quan Công dẫn ngàn binh đi mai phục phía bờ sông Bạch Hà. Mỗi tên quân mang sẳn một bao cát để khi có lịnh thì ngăn nước sông. Khi quân Tào tới đi qua thì xả nước cho nước cuốn chảy xuống. Lại khiến Trương Phi mai phục ở Bác Lăng và dặn :

– Chỗ đó nước cạn, hễ quân Tào băng qua thì xông ra mà đánh .

khiến Triệu Vân chia quân ba mặt, Ðông , Tây , Nam, chừa phía Bắc cho quân Tào chạy. Hễ có hiệu lửa thì mới xông ra mặt Bắc mà đánh.

Lại truyền cho quân mang đồ dẫn lửa để sẳn trong nhà bá tánh sau khi bá tánh đã di cư sang Phàn Thành rồi. Lại sai Mê Trước, Mê Phương chạy đi chạy lại làm nghi binh.

Sau đó Huyền Ðức cùng Khổng Minh lên lầu cao uống rượu.

Tiên Phuông , Tào Nhơn, Tào Hồng kéo tới Tân Giả thấy chân núi có hai đạo quân của Mê Trước, Mê Phương thì đồn binh lại. Hứa Chữ cũng không tiến lên. Sau khi xem xét, Tào Nhơn cho là nghi binh nên

truyền tiến lên.

Ði sâu vào rừng chẳng có ai, xảy nhìn lên cao thấy Huyền Ðức đang uống rượu với Khổng Minh !

Hứa Chữ xông lên bắt thì gỗ đá lăn xuống nên không lên được.

Còn Tào Nhơn thẳng tiến chiếm Tân Giả, thay cửa thành mở rộng bèn vô thành thì thấy bá tánh bỏ đi hết rồi. Lúc ấy tất cả đầu mỏi mệt và nấu cơm ăn để nghỉ ngơi.

Bỗng đêm đó, có lửa cháy phía sau, chưa nhận định rõ lại có tin báo lửa cháy khắp ba phía còn lại.

Tào Nhơn thất kinh chạy ra thì thấy cả vùng lửa cháy ngút trời.

Quân Tào thi nhau chạy trốn, chết không biết bao nhiêu.

Tào Nhơn, Tào Hồng đang tìm đường thoát thân thì gặp quân của Triệu Vân ùa ra giết, đang lúc nguy cấp thì quân dọ thám cho hay phía Bắc không có quân mai Phục nên quân Tào đổ ùa sang phía Bắc mà chạœy .

Chạy một quảng, Tào Nhơn kiểm điểm binh mã thấy hao phân nửa, Phần còn lại thì cháy quần cháy áo thiệt là thảm thương. Chạy một hồi nữa lại có con sông trước mặt, nhưng nước cạn nên quân Tào không lo nữa, dừng quân lại nghỉ và qua sông sau .

Quan Công phục ở mé trên, thay quân Tào đã tới, bèn cho quân xả nước xuống, thôi thì nước chảy xuống như thác vỡ bờ, quân Tào lại một phen chết trôi vô số .

Tào Nhơn , Tào Hồng dẫn tàn binh trốn chạy, bỗng đâu pháo lịnh nổ vang, Trương Dực Ðức cầm xà mâu chặn đường kêu :

– Tào Nhơn, Tào Hồng, mau để thủ cấp lại !

Hồi Thứ Bốn Mươi Mốt

Huyền Ðức đưa bá tánh sang sông
Triệu Vân liều chết cứu minh chúa

Trương Phi gặp ngay Hứa Chữ.

Hứa Chữ chẳng còn hơi sức đâu mà đánh, tìm đường trốn chạy.

Sau đó Huyền Ðức, Khổng Minh và các tướng thẳng tới Phàn Thành.

Tào Nhơn dẫn đám bại binh về ra mắt Tào Tháo.

Tào Tháo tức giận Khổng Minh lắm, kéo đại binh tới ngay Tân Giả để báo thù.

Mặt khác chia quân xẻ đường băng núi mà tới gấp Phàn Thành.

Lưu Hoa nói :

– Muốn đặng lòng dân, xin Thừa Tướng chiêu dụ Lưu Bị trước đã. Y không chịu thì ta mới đánh .

Tào Tháo cho là phải, bèn sai Từ Thứ đi dụ Lưu Bị.

Từ Thứ đi rồi, Lưu Hoa hỏi tại sao lại sai Từ Thứ ?

Tào Tháo cười nói :

– Ai đi thì Lưu Bị cũng không hàng đâu. Còn Từ Thứ thể nào cũng trở về .

Khi Từ Thứ tới thì Huyền Ðức và Khổng Minh ra tiếp rước .

Huyền Ðức cảm động kễ hết nỗi lòng luyến tiếc.

Từ Thứ nói :

– Tào Tháo sai tôi đi chiêu dụ là lấy tiếng với thiên hạ mà thôi . Thực ra nó đã chia binh tám đội để diệt Phàn Thành, theo tôi nên rút thì hơn .

Từ Thứ xin về , Huyền Ðức giữ mãi không được.

Từ Thứ nói :

– Tôi suốt đời quyết không giúp mưu kế gì cho Tào Tháo. Còn Sứ quân đã có Khổng Minh thì cũng đủ an tâm rồi .

Từ Thứ về trình với Tào Tháo là ý Huyền Ðức không muốn hàng.

Tào Tháo không e ngại nữa, truyền lịnh tấn binh.

Từ Thứ đi rồi, Khổng Minh bảo Huyền Ðức phải bỏ Phàn Thành mà qua Tương Dương.

Huyền Ðức liền truyền rao ai muốn đi theo thì đi ai muốn ở lại thì ở.

Dân chúng một lòng xin đi theo, rồi đó kẻ cõng mẹ người dắt cha ào ào xuống thuyền.

Huyền Ðức khóc mà rằng :

– Vì ta mà khổ lây bao người.

Tới Tương Dương Huyền Ðức kêu Lưu Tôn :

– Xin cho trăm họ vào nương tựa, chú không dám có ý gì khác .

Lưu Tôn không chịu. Thái Mạo lại sai bắn tên xuống, bá tánh ở ngoài kêu la than khóc.

Lúc đó trong thành có Ngụy Diên dẫn mấy trăm quân lên dịch lầu mà la lớn :

– Thái Mạo là kẻ phản quốc. Sứ quân là người nhân đức, các ngươi nên mở cửa thành mau .

Cửa thành liền mở, Ngụy Diên kêu vào thì Thái Mạo xông tới.

Hai bên đánh nhau, cả thành náo loạn.

Huyền Ðức than :

– Muốn cứu dân mà té ra hại dân. Biết vậy thì tới đây làm chi !

Khổng Minh nói :

– Giang Lăng là nơi hiểm trở, ta hãy qua Giang Lăng đã .

Huyền Ðức nghe lời, tướng sĩ, bá tánh lại lục tục đi theo.

Còn Ngụy Diên sau đó bỏ sang Trường Sa ẩn nấp .

Huyền Ðức đưa bá tánh đi, ông già bà cả con nít chậm chạp, mỗi ngày được ít dặm đường, chư tướng có người lo :

– Tào Tháo thừa thế chiếm Phàn Thành nên quân nó đang hăng, đuổi thật gấp, xin Chúa Công lưu bá tánh lại mà mang quân tới Giang Lăng cho kịp .

Huyền Ðức nói :

– Bá tánh tự ý theo ta vì mến đức, nay lại chạy tháo thân, bỏ bá tánh lại cho mũi tên hòn đạn sao ?

Ta thề cùng chết với bá tánh .

Bá tánh nghe thấy rất đỗi cảm động rồi cứ như vậy mà dắt nhau chạy.

Khổng Minh bảo phải cấp báo cho Lưu Kỳ mang thuyền tới Giang Lăng.

Huyền Ðức liền sai Vân Trường, Tôn Càng đi cầu cứu, lại khiến Trương Phi đi đoạn hậu, còn gia quyến thì được Tử Long bảo vệ.

Vào Phàn Thành, Tào Tháo kêu Lưu Tôn đến yết kiến.

Vương Oai lén nói với Lưu Tôn nay nhân lúc Tào Tháo không đề phòng thì nên thỉnh hắn vào Tương Dương rồi phục binh mà giết.

Lưu Tôn định nghe theo thì Thái.Mạo nói :

– Vương Oai là đồ phản tặc, xúi công tử làm trái lòng Trời đó !

Rồi đó Thái Mạo và Trương Doãn sang ra mắt ngay Tào Tháo.

Tháo Phong cho Thái Mạo làm Trấn Nam, Hầu Ðô Ðốc, Trương Doãn làm Trợ Thuận Hầu.

Lại bảo Thái Mạo về nói với Lưu Tôn sẽ tâu Thiên Tử cho làm chúa ở Kinh Châu.

Tuân Du khẽ bảo Tào Tháo :

– Hai tướng đó là phường gian nịnh, phong chi tước lớn như vậy ?

Tháo chỉ cười không đáp. . .

Qua hôm sau, Thái phu nhơn và Lưu Tôn đem ấn tín đến nạp Tào Tháo.

Tháo vỗ về an ủi hai mẹ con, sau đó đóng quân bên ngoài thành Tương Dương, bá tánh nghe lời Thái

Mạo thắp hương mà đón rước Tào Tháo.

Sau đó Tháo được rướt trọng thể vào thành, đóng ở phủ chánh, phong Khoái Việt làm Thái Thú Giang Lăng, sau phong cho Lưu Tôn làm Thái Thú Thanh Châu và bảo phải đi ngay.

Hai mẹ con vội lãnh mạng ra đi.

Tào Tháo sau đó gọi Vu Cấm tới bảo phải dẫn quân kỵ đuổi theo giết cả hai mẹ con Lưu Tôn để trừ hậu họa.

Vu Cấm đi liền, gặp Thái phu nhơn và Lưu Tôn thì giết luôn, mang thủ cấp về nạp.

Vu Cấm được trọng thưởag.

Bình xong Tương Dương, Tuân Du thưa với Tào Tháo :

– Lưu Bị hiện ở Giang Lăng, nên trừ y ngay .

Lại có tin Lưu Bị dắt bá tánh đi chẳng được mau, Tào Tháo lập tức điểm năm ngàn binh kỵ đuổi theo.

Huyền Ðức khi đó chờ tin Vân Trường mãi, bèn bảo Khổng Minh :

– Lưu Kỳ trước thọ ân quân sư, nay quân sư đích thân đi chắc mới xong .

Khổng Minh lãnh mạng đi ngay.

Hôm đó, Huyền Ðức nhìn ra thấy bụi bay mù trời, gió thổi rất lớn.

Giảng Ung thưa :

– Ðây là điềm rất xấu, nội đêm nay, Chúa Công phải bỏ bá tánh mà chạy mới được .

Huyền Ðức mới nghe đã khóc, sau hỏi Giảng Ung :

– Ðây là đâu ?

Giảng Ung thưa :

– Ðây là Dương Dương, phía trước là núi Cảnh San .

Huyền Ðức truyền lên núi hạ trại.

Lúc đó gió lạnh căm căm, bá tánh kêu khóc, bỗng nửa đêm lại có quân reo vang lừng tứ phía. Rồi binh Tào kéo tới, Huyền Ðức được Trương Phi đưa chạy thoát ra khỏi vòng vây.

Tới sáng, nhìn lại còn có ngót trăm kỵ binh, còn thì Triệu Vân, Giảng Ung, Mê Phương, Mê Trước cùng trăm họ lạc mất hết.

Còn đang lo sợ thì Mê Phương, mặt còn bị cắm mũi tên, chạy tới kêu lớn :

– Triệu Vân đầu Tào rồi !

Huyền Ðức không tin.

Trương Phi nói :

– Ðể em qua lai xem sao . Nói rồi hầm hầm xách xà mâu dẫn vài quân kỵ đi ngay.

Mới tới cầu Trường Bản ngó xa xa đã thấy binh Tào đông như kiến, gươm giáo cờ xí như rừng.

Trương Phi vụt nghĩ ra kế hay, bèn lấy mấy cành cây cột vào đuôi ngựa, rồi đánh cho ngựa chạy đi chạy

lại bụi bay mù trời mù đất. Sau đó giao cho hai tên quân cỡi còn mình thì hoành thương đứng trên cầu mà chờ.

Còn Triệu Vân thì lạc mất Huyền Ðức, hai Phu nhơn cũng chẳng thấy đâu, thì nghĩ rằng :

– Chúa Công giao phó gia quyến cho ta, nay còn mặt mũi nào về . Nghĩ rồi xông xáo đi tìm, nơi nào cũng nghe trăm họ kêu khóc như ri, xác chết thì ngổn ngang nào dân nào lính.

Triệu Vân đang chạy thì thay Giảng Ung nằm trên mặt đất liền hỏi :

– Hai vị phu nhơn đâu ?

Giảng Ung đáp :

– Hai Phu nhơn bồng A Ðẩu chạy với một nhóm bá tánh. Tôi bị thương, lại mất ngựa nên phải nằm đây . Tử Long liền kiếm một con ngựa cho Giảng Ung, rồi bảo hai tên quân đưa Giảng Ung mà tìm